Tuesday, October 15, 2019

ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN TRONG LƯU VỰC SÔNG LANCANG VÀ HẠ MEKONG


(China’s Influence on Hydropower Development in the Lancang River and Lower Mekong River Basin)


Nathaniel Matthews và Stew Motta – Bình Yên Đông lược dịch
CGIAR Challenge Program on Water and Food – July 2013


Mạn Loan, đập đầu tiên trên sông Lancang ở Trung Hoa [Ảnh: Mapio.net]


Tại sao Trung Hoa phát triển thủy điện trong lưu vực sông Lancang và Hạ Mekong?

Trung Hoa dẫn đầu thế giới trong việc xây dựng thủy điện.  Trong Kế hoạch 5 Năm thứ 12 (2011-2015), Trung Hoa loan báo ý định bành trướng khả năng thủy điện của mình qua việc phát triển 8 vùng thủy điện với trên 60 dự án thủy điện đại qui mô, nâng tổng số công suất thiết trí của thủy điện lên đến 284 GW (GEV 2011).

Một bộ phận quan trọng của việc phát triển thủy điện ở trong nước và chiến lược năng lượng của Trung Hoa là việc xây dựng chuỗi Lancang nằm trong tỉnh Vân Nam.  Sông Lancang1, chính là Sông Mekong khi chảy ra khỏi biên giới phía nam của Trung Hoa, có một tiềm năng thủy điện 30.000 MW.  Để khai thác cái tiềm năng nầy, chánh phủ Trung Hoa có kế hoạch xây dựng một chuỗi gốm 8 đập trên dòng chánh Lancang, với 5 đập đang hoạt động.  Khi hoàn tất, chuỗi đập nầy có thể sản xuất 15.720 MW hay 52,4% tiềm năng thủy điện của Lancang (Grumbine, Dore and Xu, 2012).  20 đập khác đang được dự trù hay xây cất trên các phụ lưu của Lancang (Kummu and Varis, 2007).

Với điện giá rẻ, việc phát triển thủy điện dọc theo Lancang tạo cơ hội cho việc phát triển kinh tế ở các thành phố kỹ nghệ như Côn Minh (Kunming) và Quảng Châu (Guangzhou).  Thủy điện là một trong 5 trụ cột của kinh tế Vân Nam.  Nó được xem như là nguồn năng lượng sạch và một bộ phận quan trọng để Trung Hoa giảm bớt sự lệ thuộc nặng nề vào nhiên liệu hóa thạch và việc phóng thích CO2, hiện cao nhất trên thế giới.  Theo Thống kê Nhanh của Kỹ nghệ Điện lực Quốc gia, công suất thủy điện thiết trí trong năm 2010 chiếm 22,18% tổng số năng lượng cung ứng.

Nhưng ảnh hưởng thủy điện của Trung Hoa không giới hạn ở Lancang.  Trung Hoa cũng là một diễn viên chánh trong việc phát triển thủy điện ở Hạ lưu Mekong (Lower Mekong Basin (LMB)).  Qua các công ty như Công ty Điện Nước Quốc tế Trung Hoa (China International Water and Electric Coorporation), HydroLancang và Sinohydro, Trung Hoa đang tham gia vào hàng chục đập ở LMB gồm có đập Hạ Sesan 2 (400 MW) ở Cambodia vừa mới loan báo.  Những đập nầy tạo cơ hội cho Trung Hoa xuất cảng chuyên môn, gia tăng ảnh hưởng chánh trị, phát triển liên lạc mậu dịch, và tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp nhà nước (state-owned enterprises (SOEs)).  Đối với các quốc gia chủ nhà, những dự án nầy bơm tài chánh vào nền kinh tế quốc gia, và cung cấp hạ tầng cơ sở và điện lực.  Những đập nầy, do đó, được các nhà phát triển Trung Hoa xem như là những dự án “ai cũng có lợi (win-win).”

Kết luận: 
Chuỗi đập Lancang là một bộ phận quan trọng trong kế hoạch của Trung Hoa để phát triển năng lượng giá rẻ, tái tạo và ít carbon để cung ứng cho nhu cầu điện năng ngày càng tăng ở trong nước.  Phát triển thủy điện ở LMB tạo cơ hội cho Trung Hoa gia tăng ảnh hưởng chánh trị và kinh tế của mình trong lưu vực và để các SOEs tăng lợi nhuận và xuất cảng chuyên môn về thủy điện.

Vài nét về Phát triển Thủy điện Lancang

Phát triển thủy điện trên Lancang bắt đầu từ năm 1956, khi Công ty Kiến tạo HydroChina Kunming (HydroChina Kunming Engineering Corporation (HCKEC)) khởi sự nghiên cứu vị trí đập.  Từ 1957-58, HCKEC xác định 21 vị trí có tiềm năng dọc theo sông, và hoạch định sơ khởi cho đập Tiểu Loan (Xiaowan).  Do bất ổn chánh trị và kinh tế vì Bước Nhảy Vọt (Great Leap Forward) và Cách mạng Văn hóa (Cultural Revolution), quy hoạch thủy điện được tạm ngừng cho đến cuối thập niên 1960s.

Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, năm 1988, việc xây cất bắt đầu ở đập Mạn Loan (Manwan), đập đầu tiên trên dòng chánh Lancang-Mekong, mà không được thông báo với các quốc gia ở hạ lưu.  Từ thập niên 1990s đến 2000s, việc phát triển thủy điện của Trung Hoa dọc theo sông Lancang đã tiến triển nhanh chóng, và đến năm 2008, có 4 đập trên dòng chánh đã hoạt động: Mạn Loan (1.550 MW) bắt đầu hoạt động từ năm 1992; Đại Chiếu Sơn (Dachaoshan) (1.350 MW) trong năm 2003; Cảnh Hồng (Jinghong) (1.750 MW) năm 2008 và Tiểu Loan (4.200 MW) năm 2010.  Tính đến tháng 6 năm 2013, Nọa Trác Độ (Nuozhadu (5.850 MW) đã hoạt động, nhưng chưa vận hành tất cả máy phát điện, và Công Quả Kiều (Gongguoqiao) (750 MW) đang được xây cất.

Sự phát triển nhanh chóng của Lancang từ năm 2000 trùng hợp với việc thành lập Công ty Phát triển Thủy điện Yunnan Lancang (Yunnan Lancang Hydropower Development Corporation (YLHDC) vào năm 2001.  Trước năm 2001, trách nhiệm phát triển Lancang được chia sẻ bởi Hội đồng Quy hoạch Phát triển Tổng hợp Yunnan Lancang (Yunnan Provincial Lancang Integrated Development Planning Commission), Bộ Năng lượng (Ministry of Energy (MoE)) và Công ty Đầu tư Năng lượng Trung Hoa (China Energy Investment Corporation).  Vào năm 2001, YLHDC có trách nhiệm tổng quát trong việc phát triển chuỗi đập Lancang.  Vào năm 2002, YLHDC được đổi tên là Công ty Thủy điện Sông Lancang Huaneng (Huaneng Lancang River Hydropower Corporation (HLHC).

HLHC là một công ty cổ đông của Tập đoàn Huaneng Trung Hoa (China Huaneng Group (CHG)), Tập đoàn Hongta (Hongta Group (HG)) và Công ty Đầu tư Vân Nam (Yunnan Investment Corporation (YIC)).  CHG là một công ty quốc doanh dưới quyền của Chánh phủ Trung ương Trung Hoa, và là một trong 5 công ty lớn nhất trong ngành thủy điện.  HG là một công ty quốc doanh cùng với Tobacco Trung Hoa (China Tobacco).  HG kiểm soát một số hiệu thuốc lá lớn nhất ở Vân Nam và có danh sách đầu tư ngày càng tăng bao gồm năng lượng, xây dựng, an ninh, sản suất giấy, dược phẩm, hóa học nhẹ, và tiếp tân.  Trong Phúc trình Doanh nghiệp Mạnh nhất 2010 của Trung Hoa, HG đứng đầu ở Vân Nam và thứ 104 trên toàn quốc (ETMOC 2010).  YIC là một công ty đầu tư của Tỉnh Vân Nam.

Kết luận
Sự phát triển nhanh chóng của chuỗi đập Lancang từ năm 2000 trùng hợp với sự hoán chuyển trách nhiệm từ Hội đồng Quy hoạch Phát triển Tổng hợp Yunnan Lancang, Bộ Năng lượng và Công ty Đầu tư Năng lượng Trung Hoa qua Công ty Thủy điện Sông Lancang Huaneng (HLHC).  HLHC là một công ty quốc doanh có thế lực với một danh sách đầu tư đa dạng.

Hậu quả của thủy điện Lancang đối với chánh trị, kinh tế và môi trường ở hạ lưu ra sao?

Mặc dù Trung Hoa có quan hệ chánh trị, kinh tế và môi trường với LMB, tất cả các đập hiện hữu trên Lancang được hoàn tất đơn phương mà không có tham vấn với hạ lưu.  Điều nầy khiến cho các quốc gia ở hạ lưu lên tiếng phản đối.  Những phản đối nầy lên đến cực điểm trong mùa khô 20102, khi mực nước sông Mekong xuống thấp ở hạ lưu Trung Hoa trùng hợp với việc trữ nước ở các đập Lancang (Hirsch 2010).  Trung Hoa nói mực nước thấp là do hiện tượng thời tiết khô bất thường chứ không phải do các đập, nhưng đồng ý gia tăng chia sẻ dữ kiện về lưu lượng và việc xả nước, và cải thiện đối thoại với các quốc gia duyên hà ở hạ lưu.

Goh (2009) thừa nhận rằng việc phát triển chuỗi đập Lancang của Trung Hoa có những hậu quả chánh trị và sinh thái đối với các cộng đồng ở hạ lưu.  Nhưng Trung Hoa vẫn khẳng định rằng “bất cứ hoạt động nào nhằm khai thác tiềm năng của Mekong thuần túy là chuyện nội bộ” (Dupont 2001:129).

Tuy nhiên, những phản đối ở hạ lưu năm 2010 khiến cho Trung Hoa phải chánh thức tuyên bố rằng bất cứ việc phát triển thủy điện trên sông sẽ cứu xét kỹ lưỡng ảnh hưởng ở hạ lưu (China Daily 2012).  Tuyên bố còn thêm rằng lợi ích của đập gồm có ngừa lụt và cải thiện việc sử dụng nước và cứu hạn ở hạ lưu bằng cách trữ nước trong mùa mưa và xả nước trong mùa khô (China Daily 2012).  Trung Hoa có luật lệ rộng rãi để giám sát việc phát triển thủy điện, gồm có Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Đánh giá Ảnh hưởng Môi trường, Luật về Nước của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (People’s Republic of China (PRC)), Luật Bảo tồn Đất và Nước của PRC, và Quy định về Tài nguyên Thiên nhiên của PRC.  Nhưng những luật lệ nầy không có mấy điều khoản nói về ảnh hưởng xuyên biên giới của các đập thủy điện.

Tuy thế, một số nghiên cứu cho thấy chuỗi đập của Trung Hoa sẽ làm mực nước giảm 30% đến tận thành phố Vientiane của Lào PDR (People’s Democratic Republic (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân)), gia tăng sự xâm nhập của nước mặn vào châu thổ và ngăn chận phù sa, ảnh hưởng sâu xa đến ngư nghiệp, nông nghiệp và đời sống trong toàn thể LMB (Kummu and Varis 2007; Räsänen et al. 2012; etc.).

Lưu vực Lancang là một nguồn phù sa quan trọng của LMB.  Gần ½ chiều dài của sông Mekong chảy qua Trung Hoa.  Nó chiếm 35% lưu lượng trong mùa khô và trên 55% lượng phù sa, do đó thiết yếu cho hệ sinh thái của toàn lưu vực (Kummu and Varis 2007; CPWF SOK Mekong Sediment Basics 2013).  Đặc điểm của thủy học Mekong là những nhịp lũ (flood-pulse) đẩy phù sa giàu dinh dưỡng qua hệ thống trong mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10.  Chất dinh dưỡng nầy hỗ trợ cho các dịch vụ sinh thái và sản suất nông nghiệp của khu vực mà đa số người dân trong vùng tùy thuộc vào (Kummu and Varis 2007).  Trên lý thuyết, 8 đập của chuỗi Lancang có thể giữ lại 94% lượng phù sa của sông (Kummu and Varis 2007).

Bồi lắng cũng là yếu tố quan trọng đối với những người thiết kế đập vì nó làm giảm tuổi thọ và khả năng vận hành của đập do khả năng chứa nước bị giảm.  Độ xói mòn trong lưu vực Lancang rất cao, ảnh hưởng đến tuổi thọ của đập dọc theo sông.  Lượng phù sa ở Mạn Loan rất cao, 1,21 kg/m3 (Plinston and Damming, 1999:238).  Nếu không can thiệp, dung tích “chết” của hồ Mạn Loan sẽ đầy trong vòng 15-20 năm, nhưng việc xây đập Tiểu Loan ở thượng lưu sẽ kéo dài tuổi thọ của Mạn Loan vì khả năng giữ phù sa của đập nầy (ibid).

Sự bồi lắng cũng có thể gây thiệt hại cho máy phát điện, mà việc sửa chữa rất tốn thì giờ và tiền bạc.  Các cửa xả phù sa có thể được thiết trí để tống phù sa xuống hạ lưu, nhưng chúng phải được lưu ý ngay từ đầu.  Chúng cũng tốn kém và có thể làm giảm tiềm năng thủy điện của dự án (Xin xem chi tiết về bồi lắng và ảnh hưởng trong lưu vực Mekong ở CPWF SOK Mekong Sediment Basics).

Về chánh trị, chuỗi đập Lancang cho phép Trung Hoa kiểm soát số lượng nước chảy xuống LMB.  Điều nầy cực kỳ quan trọng đối với sinh kế, an ninh lương thực và kinh tế của Lào, Cambodia và Việt Nam.  Räsänen et al. (2012) nhận thấy rằng chuỗi đập Lancang gia tăng lưu lượng trong mùa khô từ 34 đến 155% và giảm lưu lượng trong mùa mưa từ 29 đến 36%, do đó, thay đổi thời biểu và biên độ của nhịp lũ.  Ảnh hưởng của các đập hiện hữu đối với ngư nghiệp và thủy học, trong lưu vực và ở châu thổ, chưa được hiểu rõ, nhưng sẽ được các quốc gia ở hạ lưu theo dõi sát sao trong nhiều năm sắp tới.

Chưa có những thỏa thuận chánh thức giữa chánh phủ Trung Hoa và các nước ở hạ lưu về việc quản trị lưu vực.  Trung Hoa chỉ có “tư cách đối thoại” với Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)), là tổ chức lưu vực sông (river basin organization (RBO)) chánh yếu trong khu vực, được chia sẻ dữ kiện thủy học của Lancang, nhưng cho đến nay vẫn từ chối tham gia như một thành viên.  Mặc dù lập trường về chuỗi đập Lancang là một vấn đề quốc gia và không muốn thảo luận, Trung Hoa vẫn tiếp tục giao kết với các quốc gia ở hạ lưu trong chánh sách phát triển thủy điện.

Các chánh phủ ở hạ lưu cũng miễn cưỡng thảo luận với Trung Hoa về ảnh hưởng của chuỗi đập Lancang vì thế lực quân sự và chánh trị của nước nầy cùng với những khoản đầu tư và viện trợ khổng lồ vào LMB.

Kết luận: Trung Hoa dàn dựng việc phát triển thủy điện như một tình huống có lợi cho họ và các quốc gia ở hạ lưu.  Chuỗi đập Lancang ngăn chận phù sa và cho phép Trung Hoa kiểm soát lưu lượng trong mùa khô.  Điều nầy có thể có hậu quả nghiêm trọng về chánh trị, kinh tế và sinh thái của các quốc gia hạ lưu.  Trung Hoa đã gia tăng sự minh bạch và chia sẻ dữ kiện với các quốc gia ở hạ lưu, nhưng vẫn chưa có thỏa thuận chánh thức về việc quản trị lưu vực.

Ảnh hưởng thủy điện của Trung Hoa ở Hạ Lưu vực Mekong như thế nào?

Vai trò của Trung Hoa như một nhà tài trợ và phát triển đập ở LMB đã gia tăng đáng kể trong thập niên vừa qua.  Động lực chánh của việc bùng phát thủy điện gần đây ở Trung Hoa gồm có mối quan hệ mật thiết với các nước láng giềng, mở rộng thị trường cho các SOEs, an ninh năng lượng, mục tiêu cắt giảm phóng thích khí nhà kiếng, và chi phí gia tăng cho các vấn đề xã hội và môi trường ở trong nước.  Từ năm 2000, Bắc Kinh gia tăng ảnh hưởng trong khu vực qua các chánh sách khuyến khích đầu tư ở nước ngoài.

Trung Hoa tích cực cải thiện và tăng cường quan hệ với Đông Nam Á (ĐNA), đặc biệt với LMB vì có cùng biên giới.  Việc cải thiện quan hệ sẽ giúp Trung Hoa củng cố sức mạnh chung quanh vì lý do an ninh quốc gia và kinh tế.  Sau cuộc xung đột với Việt Nam trong năm 1979, gián đoạn ngoại giao với Lào PDR từ 1979 đến 1999, và hỗ trợ cho Khmer Đỏ ở Cambodia, Trung Hoa có nhiều việc phải làm để phục hồi niềm tin của các láng giềng trong khu vực.  Quan hệ giữa Trung Hoa với Cambodia và Lào PDR được bình thường hóa vào năm 2000, khi cựu chủ tịch Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) trở thành chủ tịch đầu tiên đến thăm hai nước nầy (Thayer 2001).

Tuy nhiên, sự biến chuyển từ thù sang bạn rất đáng kể và kịp lúc, hầu hết do các sáng kiến chánh trị và kinh tế của Bắc Kinh trong thập niên qua.  Một số thay đổi chánh trị đáng chú ý như sau:

·        Trung Hoa không phá giá đồng Nhân dân tệ (Renminbi) trong những xáo trộn của cuộc khủng hoảng tài chánh Á Châu và thay vào đó là cung cấp hỗ trợ tài chánh (Thái Lan nhận trên 1 tỉ USD; Halloran 1998).
·        “Chánh sách Đi ra Ngoài” của Trung Hoa, được đề ra trong Kế hoạch 5 Năm lần thứ 10 (2001-2005) và đặt căn bản cho việc đầu tư nước ngoài trực tiếp của Trung Hoa.
·        Trung Hoa, Cambodia, Lao PDR, Thái Lan và Việt Nam được thu nhận vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới (World Trade Organization (WTO)).
·        Soạn thảo và ký kết Thỏa ước Mậu dịch Tự do Trung Hoa ASEAN (China ASEAN Free Trade Agreement (CAFTA)) thiết lập khu vực tự do mậu dịch lớn thứ ba trên thế giới vào ngày 1 tháng 1 năm 2010 (Tong 2010).
·        Sáng kiến Chiang Mai, chú trọng đến an ninh tiền tệ trong khu vực, do Trung Hoa tiên phong vào đầu thập niên 2000s.
·        Chương trình Đại Phân vùng Mekong của Ngân hàng Phát triển Á Châu cũng khuyến khích việc liên lạc qua các dự án hạ tầng cơ sở khổng lồ trong khu vực (Cronin 2012).

Những chánh sách nầy phản ánh một sự chuyển tiếp của Bắc Kinh sang việc hợp tác khu vực và cho thấy tham vọng mở rộng thị trường, chống lại ảnh hưởng của Tây phương ở trong vùng, và tạo vị thế lãnh đạo ở ĐNA và toàn cầu.  Những chánh sách đã có hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu, và cung cấp cho các quốc gia LMB một giải pháp thay thế cho Tây phương – thường với điều kiện cao – đầu tư.

Sáng kiến chánh trị của Bắc Kinh ở LMB song hành với động lực phát triển kinh tế của Trung Hoa.  Trung Hoa là đối tác mậu dịch lớn nhất của Myanmar, Việt Nam và Lào PDR; lớn thứ nhì của Thái Lan, và thứ ba của Cambodia (Gronholt-Pederson 2013; Chen Y.W. 2012; Heng 2012).  Trên căn bản quốc gia, trị giá mậu dịch của Trung Hoa trong năm 2010 là 46 tỉ USD với Thái Lan, 27,3 tỉ USD với Việt nam, 4,7 tỉ USD với Myanmar, 1,3 tỉ USD với Cambodia và 1 tỉ USD với Lào.  Trung Hoa cũng xây hầu hết các hạ tầng cơ sở của Cambodia và là nước viện trợ và đầu tư lớn nhất.  Chương trình viện trợ của Trung Hoa cho Lào PDR, Cambodia và Myanmar hiện lớn hơn viện trợ của Hoa Kỳ (Kurlantzick 2007).  Để hiểu chính xác ảnh hưởng của Trung Hoa ở LMB, mậu dịch, viện trợ và đầu tư phải được xem như một gói thay vì những sáng kiến riêng rẽ.  Urban et al. (2013:312) mô tả cách các bộ phận nầy được gói chung trong việc giao dịch ở LMB:

Người Trung Hoa thường gộp chung viện trợ, mậu dịch và đầu tư bằng cách cung cấp, thí dụ, cả đầu tư và các khoản nợ để xây đập và liên kết với việc xuất cảng điện, nhập cảng hàng hóa của Trung Hoa, và các thỏa thuận mậu dịch cho các công ty Trung Hoa.

Phát triển thủy điện của Trung Hoa trong LMB đem lại nhiều lợi ích hơn đối với an ninh năng lượng khi so sánh với các dự án xây đập ở nơi khác.  Một trong những khác biệt chủ yếu giữa phát triển thủy điện trong LMB và các dự án ở Phi Châu hay Nam Mỹ là sự nối kết với lưới điện của Trung Hoa.  Vị trí lân cận của LMB cho phép Trung Hoa nhập cảng điện đến các trung tâm đô thị đang lớn nhanh (Urban et al. 2013).  An ninh năng lượng là mối quan tâm chánh của giới chức Trung Hoa, đặt chỉ tiêu 15% cho năng lượng không phát xuất từ nhiên liệu hóa thạch vào năm 2015, với ½ được dự trù từ thủy điện (CEP 2012).  Những mục tiêu năng lượng năng nổ nầy được mô tả trong Kế hoạch 5 Năm thứ 12 (2011-2015) đã kích thích sự náo động của việc xây cất đập lớn và chuỗi đập.  LMB hiện đang trãi qua một đợt dự án đập lớn, với hơn 50 đập đang được các công ty Trung Hoa tiến hành (trên 50 MW), và nhiều đập khác được đề nghị (Urban et al. 2013).

Sự phân phối các đập lớn của Trung Hoa trong khu vực như sau: Myanmar 30, Lào PDR 13, Cambodia 7, Việt Nam 3, và Thái Lan với một vài dự án đập nhưng dưới 50 MW (Urban et al. 2013).  Những dự án nầy được tài trợ, phát triển, xây cất và hợp đồng với SOEs của Trung Hoa.  Sinohydro đóng ít nhất 1 vai trò trong số 30% dự án đập lớn ở LMB, và chịu trách nhiệm về tài trợ, phát triển và xây cất 5 trong số 13 đập lớn của Trung Hoa ở Lào PDR (Urban et al. 2013).  SOEs như Sinohydro thường có khả năng và qui mô lớn hơn, được sự ủng hộ chánh trị mạnh hơn, có kinh nghiệm nhiều hơn từ các dự án xây cất ở trong nước, và thường xây đập với giá rẻ hơn các đối thủ (McDonald et al. 2009).  Những dự án qui mô lớn nầy thường đòi hỏi sự chấp thuận ở cấp cao nhất ở Bắc Kinh và các quốc gia LMB, và vì thế giao tiếp với quốc gia là một lợi thế.  Ở LMB, hầu hết các dự án xây đập quan trọng đều có liên hệ đến SOEs của những người khổng lồ nổi tiếng toàn cầu, nhưng Myanmar cho thấy sự tương phản với các công ty nhỏ và ít nổi tiếng hơn (Urban et al. 2013).

Kết luận: Qui mô rộng lớn của các dự án đập Trung Hoa trong LMB là kết quả của các mục tiêu chánh trị, kinh tế, an ninh năng lượng, và cắt giảm phóng thích khí nhà kiếng.  Tất cả dấu hiệu hướng về sự gia tăng trong việc xây đập và “gộp” việc hợp tác kinh tế qua các SOEs lớn trong những năm sắp tới.  Câu hỏi quan trọng là làm thế nào để SOEs của Trung Hoa quản lý những ảnh hưởng xã hội và môi trường của các dự án trong LMB.

Chánh sách đối ngoại của Trung Hoa về xã hội và môi trường liên quan đến thủy điện như thế nào?

Trung Hoa đã nhiều lần tuyên bố rằng họ tuân thủ luật lệ và chánh sách của các quốc gia nơi họ đầu tư và phát triển dự án.  Điều nầy gồm có chánh sách không can thiệp vào nội bộ bị xã hội dân sự chỉ trích vì thiếu sự bảo vệ xã hội và môi trường (Xem WWF 2008 và International Rivers 2012).  Vào năm 2012, có lẽ để trả lời cho những chỉ trích và quan tâm của Trung Hoa đối với thanh danh của mình,  Hội đồng Điều hành Ngân hàng Trung Hoa (China Banking Regulatory Commission) sửa đổi Quy định Tín dụng Xanh (Green Credit Guidelines) về điều hành hoạt động môi trường của các ngân hàng Trung Hoa.  Ngày nay, những quy định nầy bắt buộc các ngân hàng phải cải thiện việc quản lý môi trường và rủi ro xã hội cho các dự án ở nước ngoài và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế.

Bước tiếp theo trong việc quản lý môi trường được thể hiện vào tháng 2 năm 2013, khi Bộ Thương mại và Bảo vệ Môi trường công bố Hướng dẫn về Bảo vệ Môi trường trong Đầu tư và Hợp tác Hải ngoại (Guidelines on Environmental Protection in Foreign Investment and Cooperation).  Những hướng dẫn nầy khuyến khích các công ty Trung Hoa “nhận diện và tiên đoán những rủi ro môi trường kịp lúc, giúp các công ty của chúng ta tích cực hoàn thành nhiệm vụ xã hội trong việc bảo vệ môi trường, tạo một hình ảnh tốt đẹp cho các công ty Trung Hoa ở nước ngoài và hỗ trợ phát triển khả chấp của các quốc gia chủ nhà.” (Xem chi tiết về Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp Trung Hoa (CSR) ở CPWF SOK: Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp trong việc Phát triển Thủy điện Mekong (CPWF SOK: Corporate Social Responsibility in Mekong Hydropower Development).

Vào năm 2011, Sinohydro soạn thảo Khuôn khổ Chánh sách cho Phát triển Khả chấp (Policy Framework for Sustainable Development) quy định các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và an ninh, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm sự đồng ý trước và tự do của người dân bị ảnh hưởng.  Những chánh sách và tiêu chuẩn nầy sẽ được thực hiện đến đâu trong lưu vực Mekong thì chưa được rõ; tuy nhiên, nó cho thấy một triễn vọng, theo sau bước muộn màng của Trung Hoa trong việc phát triển thủy điện khả chấp.

Kết luận: 
Ban đầu, Trung Hoa theo đuổi chánh sách không can thiệp, hạn chế cam kết với các diễn viên và các biện pháp bảo vệ xã hội và môi trường được quy định bởi luật lệ và chánh sách của các quốc gia chủ nhà.  Gần gây,  Trung Hoa đã cải thiện trong việc đối thoại với các diễn viên trên khắp Mekong và tăng cường luật lệ bảo vệ môi trường và xã hội và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cho các dự án quốc tế.

Kết luận Tổng quát

Trung Hoa có những lợi ích kinh tế và chiến lược đáng kể trong lưu vực Lancang và Mekong, trong đó thủy điện là một bộ phận then chốt.  Việc phát triển thủy điện của Trung Hoa trong lưu vực Mekong được đón nhận một cách e dè bởi các quốc gia tìm kiếm đầu tư cho nguồn nước và việc phát triền kinh tế đi cùng với nhà nước Trung Hoa và các SOEs.  Những đầu tư nầy, tuy nhiên, bị các tổ chức xã hội dân sự và giới học thuật chỉ trích vì thiếu sự bảo vệ xã hội và môi trường.  Mặc dù không có sự giao kết với xã hội dân sự, giới học thuật và cộng đồng khu vực hay quốc tế trong quá khứ, Trung Hoa và các SOEs càng ngày càng được chú ý vì những rủi ro và ảnh hưởng xã hội và môi trường liên quan đến những dự án hạ tầng cơ sở đại qui mô.  Vì thế, Trung Hoa và SOEs đã tích cực tham gia đối thoại với các quốc gia ở hạ lưu qua MRC, ASEAN, NGOs và các diễn đàn như Diễn đàn về Nước, Thực Phẩm và Năng lượng (Mekong Forum on Water, Food and Energy (MFWFE)) của Chương trình Thách thức về Nước và Thực phẩm (Challenge Program on Water and Food (CPWF)) ở Phnom Penh trong năm 2011 và ở Hà Nội trong năm 2012.  Thí dụ, HLHC đã thử nghiệm Thể thức Đánh giá Tính Khả chấp của Thủy điện (Hydropower Sustainability Assessment Protocol) cho đập Cảnh Hồng và trình bày kết quả ở MFWFE.  Trung Hoa tiếp tục và gia tăng liên lạc với nhiều diễn viên và sự tuân thủ các tiêu chuẩn và hướng dẫn của các SOEs sẽ là thuốc thử cho lời hứa thúc đẩy phát triển khả chấp “ai cũng có lợi”.

Tài liệu tham khảo

EMTOC.2010. China’s 500 Strongest Enterprises was announced and Hongta Group ranks the first in tobacco industry. (2010, September 14). Tobacco Market of China. Retrieved from: http://www.etmoc.com/eng/looklist.asp?id=178

CEP. 2012. Energy Policy. Retrieved from: www.cep.ca/docs/en/policy-917-e.pdf
China Daily. 2012. Largest hydropower station on Mekong River starts operation. Retrieved from: http://www.chinadaily.com.cn/business/2012-09/07/content_15742514.htm

Chen, Y.W. 2012.Sino-Thailand Trade and Economic Relations Analysis and Prospect. Paper Presented to First Thai-Chinese Strategic Research Seminar, Bangkok, 24-26.

Cronin, R. 2012. China and the Geopolitics of the Mekong River Basin: Part 1. World Politics Review. Retrieved from: http://www.worldpoliticsreview.com/articles/11761/china-and-the-geopolitics-ofthe-mekong-river-basin-part-i

Dupont, A. 2001. East Asia Imperilled: Transnational Challenges to Security. Cambridge: Cambridge University Press, 2001.

Goh, E. 2009.China in the Mekong River basin: the regional security implications of resource development on the Lancang Jiang.

Grumbine, R.; Dore, J. and Xu, J. 2012. Mekong hydropower: Drivers of change and governance challenges. Frontiers in Ecology and the Environment 10(2): 91-98.

Gronholt-Pederson. 2013. Chinese Investment in Myanmar Falls Sharply. The Wall Street Journal.

Halloran, Richard. 1998.China’s Decisive Role in the Asian Financial Crisis. Global Beat Issue Brief No. 24.27 January 1998. CRS Report: The 1997 Asian Financial Crisis. Retrieved from: http://www.bu.edu/globalbeat/pubs/ib24.html

Heng, P. 2012 Cambodia–China Relations: A Positive-Sum Game?.Journal of Current Southeast Asian Affairs, 31.

Hirsch, P. 2010. The changing political dynamics of dam building on the Mekong.Water Alternatives 3(2): 312-323.

Information Office of the State Council 2012. Full text: China’s Energy Policy. China Internet Information Center.

International Rivers. 2012. The New Great Walls: A Guide to China’s Overseas Dam Industry. Retrieved from: http://www.internationalrivers.org/resources/the-new-great-walls-a-guidetochina%E2%80%99s-overseas-dam-industry-3962

Kummu M. and Varis O. 2007. Sediment-related impacts due to upstream  reservoir trapping, the Lower Mekong River. Geomorphology (85):275–93.

Kurlantzick, J. 2007. Charm Offensive: How China’s Soft Power is Transforming the World. New Haven: Yale.

McDonald, K., Bosshard, P., and Brewer, N. 2009. Exporting dams: China’s hydropower industry goes global. Journal of Environmental Management, 90, S294–S302.

Plinston, D. and H. Daming. 1999. Water resources and hydropower. Chapter in: Policies and Strategies for the Sustainable Development of the Lancang River Basin, Project TA 3139-PRC. 235-266

Räsänen, T. A., J. Koponen, et al. 2012. Downstream Hydrological Impacts of Hydropower Development in the Upper Mekong Basin. Water Resources Management: 1-19.

Tong S., and Keng, C. 2010. China-ASEAN Free Trade Area in 2010: A Regional Perspective”, EAI Background Brief no. 519: 7–8.

Thayer C. 2001. China and ASEAN: Developing Multilateral Cooperation. Comparative Connections: An E-Journal on East Asian Bilateral Relations, 3:3:71-9

The Daily Mail. 2013. China invades India: Tensions mount as platoon of soldiers slip across border to claim disputed territory. Retrieved from: http://www.dailymail.co.uk/news/article-2318389/Two-Chinese-incursion-leaves-India-verge-crises.html#ixzz2XEVUjC3D

The Diplomat. 2013. How Involved is Xi Jinping in the Diaoyu Crisis?.

Urban, F., Benders, R. M. J., and Moll, H. C. 2009. Renewable and low-carbon energy as mitigation options of climate change for China. Climatic Change,94(1–2), 169–188.

WWF. 2008. Rethinking Investments in Natural Resources: China’s Emerging Role in the Mekong Region. Policy Brief.Retrieved from: http://awsassets.panda.org/downloads/final_cc_reportlowres_3.pdf




Wednesday, October 9, 2019

Xây đập chặn dòng Mê-Kông nhưng không lấy điện, Trung Quốc toan tính gì?


Lan Ngọc
Việc xây dựng các đập thủy điện tại thượng nguồn khiến dòng chảy bị chặn lại.

The LEADER
Mặc dù lượng điện có sự lãng phí lớn tại các công trình thủy điện của Trung Quốc, nước này vẫn tiếp tục xây dựng với tính toán cho vài thập kỷ tới.
Được khởi công xây dựng từ năm 2002 và kết thúc vào cuối thập kỷ trước tại tỉnh Vân Nam, đập Tiểu Loan (Xiaowan) của Trung Quốc gây choáng ngợp bởi công suất 4.200MW, trở thành đập thủ điện lớn nhất trên sông Mê Kông và có công suất lớn thứ 3 thế giới.
Không chỉ có con đập này, hàng loạt đập thủy điện khác đã và đang được Trung Quốc tiếp tục xây dựng tại khu vực sông Mê Kông. Tại thượng nguồn, 11 đập đã được hoàn thành trong tổng số 19 đập.
Điều đáng chú ý là mặc dù các đập thủy điện nổi lên với nhiều công trình có công suất lớn, sản phẩm điện được tạo ra lại không được sử dụng.

Tại hội thảo “Tác động từ những chính sách của Trung Quốc đối với sông Mê Kông” tổ chức bởi Chương trình nghiên cứu kinh tế Trung Quốc (VCES), ông Brian Eyler, Giám đốc chương trình Đông Nam Á, Trung tâm nghiên cứu Stimson, Mỹ cho biết, năm 2018, có tình trạng lãng phí điện tại các đập thủy điện của Trung Quốc trên thượng nguồn.

Tại tỉnh Vân Nam, lượng điện “bỏ không” thậm chí còn gấp đôi sản lượng điện tiêu thụ của toàn Thái Lan.
Những nhà máy nằm tại khu vực đường bờ biển của Trung Quốc không sử dụng lượng điện trên mà thay vào đó là điện than vì lý do cuộc sống của người lao động, người dân xung quanh. Cùng với đó, việc vận chuyển điện cũng gặp khó khăn do khoảng cách địa lý xa.
Ông Brian Eyler suy luận rằng, việc xây thêm các đập nhằm mục tiêu tích trữ nước cho lục địa này, dự đoán rằng, trong khoảng 3 thập kỷ tới, Trung Quốc có thể đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt do băng tan trên dãy Himalaya sẽ cạn dần.
Mặc dù những dòng chảy sẽ kết thúc tại Việt Nam, một viễn cảnh khác sẽ diễn ra nếu Trung Quốc tiến hành khơi nguồn nước chảy sang sông Dương Tử.

Ông Brian Eyler nhấn mạnh các đập thủy điện dọc sông Mê Kông không chỉ cắt giảm lượng nước chảy xuống hạ nguồn mà còn khiến giảm dòng phù sa, giảm luồng cá di cư cũng như làm mất tính đa dạng sinh học của dòng sông.

Tại đồng bằng sông Cửu Long, việc thiếu nước từ thượng nguồn, thiếu phù sa bù đắp cùng với xâm nhập mặn của nước biển gia tăng sẽ dẫn đến tình trạng bị thu hẹp diện tích. Ước tính cứ 1 mét nước biển dâng sẽ làm mất 30% diện tích đất.
Dự kiến có khoảng 374 đập thủy điện sẽ được xây dựng tại hạ nguồn sông Mê Kông, trong đó có hơn 300 đập tại Lào. Trung Quốc và Thái Lan sẽ tham gia với tư cách nhà đầu tư tại các dự án này.
Trước tình trạng trên, ông đề xuất Việt Nam có thể hợp tác với Lào và Campuchia điều chỉnh theo hướng giảm số lượng đập thủy điện.
Trong khi Thái Lan không tham gia hợp đồng xây mới hay mua điện từ Lào và Campuchia, Việt Nam trở thành khách hàng chính, từ đó có thể "đặt hàng" để Lào và Campuchia phát triển các năng lượng sạch khác như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, hóa sinh.

Chuyên gia của Trung tâm Stimson cho rằng, tình trạng hiện nay cần giải pháp toàn diện, có sự phối hợp giữa các bên, tuy nhiên cũng lưu ý rằng, an ninh nguồn nước liên quan đến những nỗ lực ngoại giao và điều này lại không hề dễ dàng. 

Source:


Monday, October 7, 2019

TRUNG HOA LÀ KẺ THÙ THÂM ĐỘC CỦA CHÍNH MÌNH TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI KHU VỰC



(China’s its own worst enemy in regional relations)

Thitinan Pongsudhirak – Bình Yên Đông lược dịch
East Asia Forum -31 March 2016

Đảo Phú Lâm trong Quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông


Thái độ ứng xử của Trung Hoa trong khu vực càng ngày càng tập chú trong thời gian gần đây.  Họ ít chú trọng đến việc duy trì “nguyên trạng”, và chú trọng nhiều hơn đến việc sửa lại động lực và tình huống trong khu vực theo ý họ.  Chủ thuyết sửa đổi nầy có lẽ là căn nguyên chính yếu của những căng thẳng và tiềm năng xung đột ở Đông Nam Á (ĐNA).

Không nơi nào mà những người sửa đổi Trung Hoa nhắm đến rõ ràng hơn Biển Đông và thượng nguồn Sông Mekong, chảy qua miền nam Trung Hoa, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam.

Ở Biển Đông, căng thẳng đang lên cao vì Bắc Kinh công bố chủ quyền trên nhiều đảo san hô, đá ngầm và vùng đánh cá ở gần Philippines, Việt Nam và Indonesia hơn lục địa Trung Hoa.  Trung Hoa đã xây cất những đảo nhân tạo trên đá ngầm, trang bị khí cụ quân sự và sử dụng chúng cho các chuyến bay dân sự như một cách để củng cố chủ quyền.

Philippines đã công khai chống lại Bắc Kinh, nhưng Việt Nam vẫn không chạm trán vì Hà Nội lệ thuộc nặng nề vào Trung Hoa về mậu dịch, đầu tư và phát triển kinh tế.  Những quốc gia còn lại trong Biển Đông – Đài Loan, Brunei và Indonesia – hầu hết đều tránh đụng chạm trực tiếp với Trung Hoa.

Nhưng Indonesia không còn đứng ngoài vòng xung đột.  Vào ngày 19 và 20 tháng 3, lực lượng Indonesia bắt giữ 1 tàu đánh cá và 8 thủy thủ Trung Hoa vì vi phạm đặc khu kinh tế của Indonesia ở phía nam quần đảo Natuna.  Để đáp lại, Tuần duyên Trung Hoa đã can thiệp và đâm vào tàu của Indonesia để cứu tàu đánh cá.  Tai nạn đã gây công phẩn ngoại giao từ Jakarta, làm mất mặt người Trung Hoa.

Tai nạn là một phần của chiều hướng gia tăng chiến tranh của Trung Hoa được biểu lộ bởi thái độ không muốn tham dự vào việc soạn thảo Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (Code of Conduct in the South China Sea) giữa ASEAN [Association of Southeast Asian Nations (Hiệp hội các Quốc gia ĐNA)] và Trung Hoa.

Ở khu vực Mekong của lục địa ĐNA, Trung Hoa cũng tự đơn phương trao uy quyền chánh trị cho mình bằng cách uốn nắn các thủy lộ thiên nhiên qua việc xây cất một loạt đập ở thượng nguồn.

Khi các quốc gia Hạ lưu Mekong bị thiệt hai vì trận hạn hán tồi tệ nhất trong nhiều thập niên, Trung Hoa đã xả nước từ đập Cảnh Hồng gần 1 tháng từ 15 tháng 3 như là một hành động nhân từ.  Nhưng quyết định nầy có toan tính, ít nhất là một phần, để bôi trơn lễ khai mạc thượng đỉnh Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)) của 6 lãnh đạo quốc gia Đại Phân vùng Mekong.

Mặc dù việc xả nước của Trung Hoa tạm thời giúp cho các nước ở hạ lưu, nó cho thấy khu vực hạ lưu Mekong đã trở nên lệ thuộc vào thiện chí và lòng rộng lượng của Trung Hoa.

Sông Mekong, người Trung Hoa gọi là Lancang (Lạn Thương), là con sông dài nhất ĐNA.  Nó là mạch sống và nơi cư trú của các cộng đồng và đời sống hoang dã ven sông với hơn 60 triệu người trong các quốc gia Mekong.

Việc xây đập của Trung Hoa ở thượng lưu Mekong từ lâu đã được xem là một nguy cơ địa chánh trị đối với các quốc gia ở hạ lưu và là tiềm năng cho xung đột cho toàn Đại Phân vùng Mekong.  Nguy cơ nầy trở nên nghiêm trọng vì thay đổi khí hậu và sự phát triển nhanh chóng của vùng Mekong đòi hỏi nhiều nước hơn bao giờ.

Với ưu thế đối với các quốc gia ở hạ lưu, Trung Hoa đã hăm hở triệu tập thượng đỉnh LMC ở Tam Á, Hải Nam (Sayna, Hainan).  Bắc Kinh công bố một tổ hợp nợ và tín dụng lên đến 11,5 tỉ USD cho các dự án phát triển trong khu vực Mekong từ đường sắt đến khu kỹ nghệ.  Bắc Kinh cũng thiết lập một trung tâm thủy lợi và tài trợ các dự án xóa đói giảm nghèo trị giá 200 triệu USD, với 300 triệu USD khác cho việc hợp tác khu vực trong 5 năm tới.

Thủ tướng Trung Hoa Lý Khắc Cường (Li Keqiang) nói rằng các kế hoạch nầy là một phần của chiến lược phát triển Vành đai và Con đường (Belt and Road Initiative (BRI)), và kêu gọi tăng cường niềm tin giữa Trung Hoa và các nước hạ lưu Mekong.

Cái quan trọng ở đây là thượng đỉnh LMC đã gạt qua một bên Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) đã có từ lâu.  MRC được thành lập bởi Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam vào năm 1995, với chuyên môn và tài trợ quốc tế, để quản lý nguồn nước dựa trên các quy ước quốc tế và thủ tục quản lý các dòng sông toàn cầu.  Myanmar và Trung Hoa là đối tác đối thoại của MRC nhưng Bắc Kinh đã cố tình gạt ra ngoài lề và chỉ chú trọng đến phiên bản LMC của họ.

Với tầm cở và vị trí ở bên trên cửa sông, Trung Hoa có thể ngăn chận thủy lộ Mekong theo ý muốn.  Trung Hoa đã hoàn tất 6 trong số 15 đập dự trù.  Các chánh phủ ở hạ lưu, đặc biệt là Cambodia và Việt Nam, hoặc phải chịu ơn hay lệ thuộc vào lòng rộng lượng và chánh sách của Bắc Kinh để không phản đối.  Dĩ nhiên, các quốc gia khác kể cả Lào, cũng xây đập trên sông Mekong.  Đập Mekong không chỉ đơn thuần là việc Trung Hoa áp đặt thế lực lên các quốc gia còn lại.

Nhưng với sự lệ thuộc kinh tế ngày càng tăng của Lào vào Trung Hoa, và chánh phủ quân sự Thái có cử chỉ thân Bắc Kinh, Trung Hoa đã trở thành một thứ ông trùm trong khu vực Mekong.  Tương tự, Cambodia tùy thuộc vào Trung Hoa về viện trợ phát triển và đầu tư nước ngoài.  Riêng Việt Nam vẫn giữ im lặng về Biển Đông lẫn Mekong.

Myanmar là một nhịp cầu trong thiết kế Mekong của Bắc Kinh.  Dưới chánh phủ dân cử mới được bầu cử, lãnh đạo bởi Aung San Suu Kyi, chánh quyền ở Naypyitaw dường như chưa sẵn sàng.

Mặc dù khó để phủ nhận rằng lục địa Mekong quả thật là sân sau của Trung Hoa, tình thế có thể thay đổi nếu Thái Lan dân chủ trở lại và hợp tác với Myanmar.

Với thái độ gây hấn ở cả lục địa Mekong và Biển Đông, Trung Hoa có thể bắt buộc các quốc gia nhỏ hơn mốn tránh xung đột kết hợp thành một đồng minh khu vực để chống lại họ.  Để tránh kích động sự chống đối của láng giềng đoàn kết, Bắc Kinh phải đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết lập quy tắc và tổ chức trong sự hòa hợp với các quốc gia khác trong khu vực.

Sơ lược về tác giả

Thitinan Pongsudhirak là Phụ giảng và Giám đốc Viện Nghiên cứu An ninh và Quốc tế, Khoa Khoa học Chánh trị, Đại học Chulalongkorn.

.

MEKONG TIẾN GẦN ĐẾN ĐIỂM TỚI HẠN TRONG KHI SỰ CẠNH TRANH GIỮA HOA KỲ VÀ TRUNG HOA GIA TĂNG



(Mekong nears tipping point as US-China rivalry grows)

Brian Eyler and Aaron Salzberg – Bình Yên Đông lược dịch

Asia Nikkei – August 27, 2019

Sông Mekong ở Lào: 
Hạn hán phản ánh sự thiếu khả năng lớn hơn của các quốc gia Mekong 
về việc chấp thuận một kế hoạch cho khu vực để quản trị nguồn nước của họ.

[Ảnh: Getty]

Những khó khăn trước mắt khi hạn hán đang hoành hành ở các quốc gia hạ lưu.

Sông Mekong, phát guyên từ Cao nguyên Tây Tạng và chảy gần 5.000 km qua Trung Hoa, Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam để vào Biển Đông, đang có nguy cơ cạn nước.  Năm quốc gia ở hạ lưu phải hành động ngay bây giờ để bảo vệ quyền lợi của họ hay có nguy cơ mất quyền kiểm soát dòng sông vào tay Trung Hoa ở thượng nguồn.

Các quốc gia ở hạ lưu đang gánh chịu một trận hạn hán nghiêm trọng đe dọa đến việc sản xuất nông và ngư nghiệp trên toàn lưu vực.  Trong 2 tháng qua, hầu hết các đoạn sông Mekong đã ghi nhận mực nước thấp nhất trong lịch sử.

Vào giữa tháng 7, hệ thống bơm thủy nông ở đông bắc Thái Lan không còn bơm được nước, khiến Thái Lan phải huy động quân đội.  Hình ảnh di ngư bị kẹt ở Thái Lan và Lào được phổ biến rầm rộ trên mạng xã hội, gây ra một đợt tố cáo kẻ phạm tội.

Bên lề của cuộc họp cấp cao của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations (ASEAN)) ở Bangkok hôm đầu tháng 8, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo đã nói với các ngoại trưởng Mekong rằng hạn hán có “liên quan đến quyết định đóng đập của Trung Hoa ở thượng lưu.”

Trong phần trả lời trực tiếp hiếm hoi, Bộ trưởng Ngoại giao Dương Nghị của Trung Hoa đã giận dữ bác bỏ tuyên bố của Pompeo, nói rằng Trung Hoa đã “tích cực xả một lượng nước lớn hơn xuống hạ lưu,” theo truyền thông Trung Hoa.

Không có lời tuyên bố nào phản ánh những thách thức phức tạp mà khu vực đang đối mặt, nhưng cả hai đều cho thấy sự sẵn lòng của các cường quốc quan trọng trong việc sử dụng nước như một khí cụ chánh trị để thúc đẩy quyền lợi của họ.


Trung Hoa không gây hạn hán, mặc dù lượng nước từ đập Cảnh Hồng được giảm xuống trong tháng 6 và 7 để “bảo trì lưới điện.”  Điều nầy có vẻ vô ý thức, thay vì có ác tâm.

Lượng nước xả từ đập Cảnh Hồng được giảm xuống trong tháng 6 và 7 để “bảo trì lưới điện.”  
[Ảnh: AP]

Trung Hoa có khả năng làm giảm áp lực ở hạ lưu bằng việc xả nước có kế hoạch và phối hợp.  Tuy nhiên, khi cần, việc xả nước ngắn hạn không thể giúp các nước ở hạ lưu vượt qua các đợt hạn hán lâu dài.

Nhưng đây không chỉ là vấn đề của Trung Hoa: Nó phản ánh sự thiếu khả năng của các quốc gia Mekong trong việc chấp thuận một kế hoạch khu vực để quản lý nguồn nước của họ.  Trong 3 thập niên qua, Lào đã hoàn tất 64 đập thủy điện trong lưu vực Mekong, Việt Nam 15, Thái Lan 9 và Cambodia 3.

Hầu hết được hoàn tất trong vòng 5 năm qua.  Ảnh hưởng cộng dồn làm hạn hán thêm nghiêm trọng vì đập làm giảm lưu lượng và ngăn cản di ngư trong việc đi tìm nơi cư trú truyền thống, tước đoạt cá của cộng đồng địa phương và gây thiệt hại cho việc sản xuất nông nghiệp. [Lời người dịch: Hạn hán là do thiếu mưa và cũng có ảnh hưởng đến việc vận hành đập.]

Nếu các kế hoạch hiện nay được thực hiện, 438 đập khác (364 ở Lào, 66 ở Cambodia và 8 ở Trung Hoa) sẽ chặt khúc lưu vực thêm nữa.  Trong khi số nước phụ trội được xả từ Trung Hoa có thể làm giảm ảnh hưởng của hạn hán ở hạ lưu, nó không thể hoàn toàn bù trừ sự thiếu hụt của mưa mùa và ảnh hưởng của các hạ tầng cơ sở khác.  Sự kết hợp của những áp lực nầy sẽ bóp nghẹt Mekong.

Không thiếu những đề nghị cho sự can thiệp từ bên ngoài.  Cơ chế Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)) của Trung Hoa – một khung tài trợ để giúp cho 5 quốc gia hạ lưu Mekong – đang đề nghị một số dự án hạ tầng cơ sở và tầm nhìn cho Mekong để giảm thiểu thiệt hại của lũ lụt và hạn hán.

Nhưng mặc dù cứu trợ hạn hán luôn được hoan nghênh, một kế hoạch đầy tham vọng do Trung Hoa cầm đầu để giảm lũ lụt có thể khiến khu vực phá sản kinh tế.

Một nghiên cứu trong năm 2017 của Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) ước tính rằng lũ hàng năm đem lại từ 8 đến 10 tỉ USD lợi tức trong khi gây thiệt hại chỉ có 70 triệu USD.  Nói cách khác, lưu lượng hàng năm của Mekong là thiết yếu để giúp cho sông sinh tồn như hiện nay.

Để cho Trung Hoa chịu trách nhiệm ở Mekong cũng có nghĩa đẩy MRC đi chỗ khác – một cơ chế mà Thái Lan, Cambodia, Lào và Việt Nam đã cộng tác trong hơn 20 năm để hỗ trợ việc phát triển khu vực.

Báo hiệu cho một quyết tâm hành động mới, những mạnh thường quân quan trọng như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và Liên hiệp Âu Châu đang gia tăng hỗ trợ cho khu vực hàng trăm triệu USD về kỹ thuật có thể đem lại hàng tỉ đầu tư tư nhân.

Sáng kiến Dữ kiện Nước Mekong (Mekong Water Data Initiative) mới đây, là một phần của Sáng kiến Hạ lưu Mekong (Lower Mekong Initative (LMI) do Hoa Kỳ cầm đầu, một khuôn khổ cho việc hỗ trợ kỹ thuật và phát triển, là một bước quan trọng để bảo đảm rằng tất cả các quốc gia Mekong đều có thể nhận được dữ kiện thời tiết thủy văn cập nhật để cải thiện việc tiên đoán và đối phó với lũ lụt và hạn hán và thiết lập kế hoạch khu vực.

Tại phiên họp của ASEAN, Hoa Kỳ cũng công bố tài trợ 29,5 triệu USD để khởi động Đối tác Năng lượng Mekong Nhật Bản-Hoa Kỳ (Japan-United States Mekong Power Partnership), một trong nhiều đối tác Mekong mới giữa Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc nhắm vào điện năng đa dạng và thân thiện với môi trường của khu vực.  Nhật Bản, ít nhất, sẽ đóng góp tương tự như Hoa Kỳ.

Các quốc gia hạ lưu Mekong nên giao ước với tất cà các đề nghị nầy, cùng lúc bảo đảm rằng việc kiểm soát dòng sông trong tương lai sẽ không thuộc về Trung Hoa.

Cấp bách hơn, phải áp lực Bắc Kinh cung cấp dữ kiện lưu lượng và vận hành đập để giúp các quốc gia hạ lưu thảo kế hoạch đối phó với sự thay đổi điều kiện thủy học.  Cung cấp dữ kiện sẽ là cách để Trung Hoa bày tỏ sự thành thật của họ.

Các quốc gia hạ lưu Mekong phải chống lại những ai muốn dùng Mekong để chiếm ưu thế chánh trị và đặt quyền kiểm soát dòng sông vào tay họ.  Bằng cách cộng tác, các quốc gia nầy có thể bảo đảm một tương lai an toàn cho nguồn nước trong toàn khu vực.

Sơ lược về tác giả


Brian Eyler là tác giả của “Những Ngày Cuối của Mekong Hùng vĩ (Last Days of the Mighty Mekong)” và giám đốc Chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Stimson ở Washington D.C.  Aaron Salzberg là giám đốc Viện Nguồn Nước của Đại học North Carolina ở Chapel Hill và nguyên là Phối hợp viên Đặc biệt về Nước ở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Brian Eyler and Aaron Salzberg – Bình Yên Đông lược dịch

.

Monday, September 30, 2019

TRUNG HOA MUỐN LÀM BÁ CHỦ KHU VỰC MEKONG


(China’s hegemonic choice in the Mekong region)

Sebastian Biba – Bình Yên Đông lược dịch
East Asia Forum – August 30, 2019


Nếu là cường quốc đứng thứ nhì trên thế giới, bạn ước mơ gì?  
Làm sao biến giấc mơ đó thành hiện thực?

Nói toạc móng heo, khu vực Sông Mekong là nơi thử nghiệm chủ yếu cho những tham vọng trung và dài hạn của Bắc Kinh – không thừa nhận chánh thức – để trở thành bá chủ ở Đông Á và có lẽ xa hơn nữa.

Một phần vì khu vực Sông Mekong nằm sát với Trung Hoa.  Hầu hết khu vực bao gồm các quốc gia nhỏ bé dễ bị ảnh hưởng nhưng có tầm quan trọng chiến lược.  Trung Hoa cũng là quốc gia duyên hà đầu nguồn, với hơn 10 đập đã được hoàn tất hay đang xây trên dòng chánh.  Những ưu thế về kinh tế và địa dư so với các quốc gia Mekong khác đã khiến cho Trung Hoa gần như là bá chủ tự nhiên của Mekong.

Câu hỏi then chốt cho lãnh đạo Trung Hoa là làm thế nào để thực hiện vai trò bá chủ một cách tốt nhất.  Một trong những mục tiêu căn bản của bá quyền là bảo đảm việc tuân thủ.  Có 4 phương thức có thể sử dụng: cưỡng bức, vị lợi, quy tắc và lý tưởng.

Trung Hoa dùng một chiến lược hỗn hợp nhưng liên kết để tránh cưỡng bức công khai các quốc gia Mekong.  Trước hết, rất dễ nhận ra rằng Trung Hoa dựa vào phương thức vị lợi qua việc tặng thưởng kinh tế và tài chánh để đạt được mục đích ngoại giao.  Trong một phạm vi lớn hơn, phương thức nầy cũng được áp dụng ở nội địa, đặc biệt là ý định phát triển vùng tây nam xa xôi của Trung Hoa và nối chúng với các thị trường mới.  Trong thập niên 2000s, Trung Hoa nhanh chóng trở thành quốc gia mậu dịch, đầu tư và viện trợ hàng đầu trong khu vực Sông Mekong, kích thích hầu hết sự tăng trưởng kinh tế ở đó.

Sáng kiến Vành đai và Con đường (Belt and Road Initiative (BRI)) đã tăng cường tư thế của Trung Hoa ở trong vùng khi nó bao gồm Hành lang Kinh tế Trung Hoa-Đông Dương (China-Indochina Peninsula Economic Corridor) – một trong 6 hành lang chánh của BRI.  Kết quả là các quốc gia trong khu vực Sông Mekong đã bị lệ thuộc kinh tế vào Trung Hoa ở mức độ khác nhau.  Điều nầy rất đúng với Lào và Cambodia, nhưng ngay với Việt Nam, dù không thân thiện lắm với Trung Hoa, cũng đang chật vật.

Thứ nhì và gần đây hơn, Trung Hoa đã áp dụng phương thức quy tắc – ký kết hiệp ước và xây dựng tổ chức – để bảo vệ vị thế bá chủ của mình.  Trong thập niên 1990s khi quyền lợi của Trung Hoa dần dần tăng tốc, nó vẫn còn đối mặt với các tổ chức chi phối bởi các diễn viên Tây phương và Nhật Bản.  Việc thành lập Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)) vào tháng 6 năm 2016 phản ánh lòng ham muốn quyền lực ngày càng tăng của Trung Hoa trong khu vực.  Cơ chế đề ra một nghị trình tổng thể, bao gồm tất cả các quốc gia duyên hà Mekong và cung cấp nguồn tài chánh dồi dào mà các quốc gia thành viên có thể sử dụng.

Mặc dù LMC cần phải soạn luật lệ và thủ tục cho việc hợp tác, nó vẫn có tiềm năng làm lu mờ các tổ chức đã được thiết lập từ trước.  Các tổ chức nầy gồm có Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) và Phân vùng Đại Mekong (Greater Mekong Subregion (GMS)) do Ngân hàng Phát triển Á Châu (Asian Development Bank) cầm đầu, không kể các tổ chức nhỏ hơn như Sáng kiến Hạ lưu Mekong (Lower Mekong Initiative (LMI)) do Hoa Kỳ đề xướng và Thượng đỉnh Nhật Bản-Mekong (Japan-Mekong Summit).

Thứ ba và sau rốt, Trung Hoa vẫn luôn khao khát quảng bá mục tiêu và hành động trong khu vực Sông Mekong dưới một khẩu hiệu nhân từ “phát triển và thịnh vượng chung”.  Sáo ngữ nầy dùng để ám chỉ những gì không được đề cập đến, không chỉ nhắm vào việc chấp nhận uy quyền mà còn quốc tế hóa các giá trị và chuẩn mực của Trung Hoa.  Nó biến hóa từ từ thành một thông điệp được thừa nhận như một chiến lược toàn thắng mà không có giải pháp thay thế.  Xa lộ và đường sắt để tăng cường sự nối kết và xây đập để gia tăng nguồn năng lượng là những thí dụ được quảng bá như là thần dược cho tiến bộ kinh tế.

Mặc dù Trung Hoa có những nỗ lực phi thường, không phải ai trong khu vực cũng tin vào sáo ngữ của Trung Hoa vì họ không được lợi gì.  Điều nầy rất đúng đối với một số lớn cộng đồng địa phương sinh sống trực tiếp bằng tài nguyên Mekong.

Những cộng đồng nầy tiếp tục thách thức hành động của Trung Hoa, biến các hoạt động xây đập thành vấn đề gây tranh luận.  Cáo buộc các đập của Trung Hoa làm mực nước xuống thấp nhất hiện nay là một đoạn mới nhất của việc phản bác kéo dài đặt nghi vần về sự thành thật của Trung Hoa.  Nó cũng tìm cách chuyển sự chú ý đến các vấn đề sinh thái cấp thiết qua khẩu hiệu “Chúng tôi ăn cá, chúng tôi không thể ăn điện.”  Nhưng các cộng đồng địa phương nầy không muốn chánh phủ hỗ trợ vì nó làm cho chiến lược thách thức với Bắc Kinh kém hiệu quả.  Điều nầy rất đúng ở Lào và Cambodia nơi mà việc xây đập được Trung Hoa bảo trợ chiếm ưu thế trong nghị trình quốc gia.

Đối với lãnh đạo Trung Hoa, nguyên trạng có nghĩa là dự án làm bá chủ trong khu vực Sông Mekong của họ chưa được thực hiện.  Thông cáo chung Hoa Kỳ-Nhật Bản mới đây thiết lập Đối tác Điện lực Mekong (Mekong Power Partnership) cho thấy các tay chơi có thế lực sẵn sàng gia nhập vào khu vực như là một giải pháp thay thế cho Trung Hoa.
Trung Hoa phải lựa chọn giữa hai phương thức bá chủ khác biệt.  Một được biểu thị bởi sự lãnh đạo tích cực, đặc biệt qua sự phân phối công bằng hàng hóa và bao gồm tất cả các thành phần trong việc lấy quyết định.  Cái kia là tập trung một cách hẹp hòi vào ưu thế và tư lợi.  Hai phương thức nầy giống như từ ngữ vương đạo (nguyên tắc nhân từ) và bá đạo (nguyên tắc bạo ngược) của Trung Hoa.
Mặc dù làm bá chủ không phải dễ, lãnh đạo Trung Hoa vẫn còn có thể làm nghiêng cán cân về phía vương đạo có đức độ trong khu vực Mekong.

Sebastian Biba – Bình Yên Đông lược dịch

.

NHẬT BẢN CHUỘNG PHẨM HƠN LƯỢNG TRONG KHU VỰC MEKONG



(Japan is putting quality over quantity in the Mekong)

Fumitaka Furuoka – Bình Yên Đông lược dịch
East Asia Forum – September 27, 2018



Nhật Bản đã sửa đổi chiến lược của mình trong khu vực Mekong.  Đầu năm nay, cánh tay phải ngoại giao của Thủ tướng Shinzo Abe là Kentaro Sonoura đã phác họa chánh sách ngoại viện của Nhật Bản cho khu vực, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của “phẩm” thay vì “lượng”.  Sau đó, Nhật Bản đã thay đổi chiến lược để tập trung vào việc cải thiện minh bạch, phát triển nhân lực, trau dồi khả năng và bảo vệ môi trường qua viện trợ đến các quốc gia Mekong.
Nhật Bản có ý định cung cấp viện trợ không chỉ để xây đường sá và cầu cống, mà còn trực tiếp giúp cho mậu dịch trong khu vực Mekong được dễ dàng hơn.  Điều nầy sẽ được thực hiện qua việc cải thiện thủ tục quan thuế ở biên giới quốc gia, phát triển nhân lực và thiết lập các hệ thống mậu dịch để người và hàng hóa lưu thông dễ dàng hơn.

Về hạ tầng cơ sở, Nhật Bản cam kết cung cấp viện trợ phát triển gồm có “Hành lang phía Nam” nối Thành phố Hồ Chí Minh với Phnom Penh và Bangkok, và “Hành lang Đông-Tây” nối Đà Nẵng ở Việt Nam với Mawlamyine ở Myanmar.  Cùng lúc, Nhật bản cũng hứa hỗ trợ thúc đẩy tập hợp nhân lực trong những năm sắp đến bằng cách huấn luyện kỹ nghệ cho hơn 40.000 người ở Á Châu, kể cả các quốc gia Mekong.

Khu vực Mekong trở thành một trung tâm tăng trưởng mới của Á Châu.  Về nhân chủng, khu vực có một dân số đáng kể là 236 triệu người vào năm 2015.  Ngoại trừ Thái Lan, dân số đều trẻ, với hơn 20% dưới 15 tuổi.  Trong năm 2015, tổng sản lượng quốc gia của khu vực lên đến 673 tỉ USD và, ngoại trừ Thái Lan, mức tăng trưởng của tất cả các quốc gia Mekong vượt quá 5%.  Nhân chủng và các yếu tố kinh tế thuận lợi khiến cho khu vực trở thành một thị trường hấp dẫn cho đầu tư và sản phẩm Nhật Bản.

Trong quá khứ, chiến lược viện trợ của Nhật Bản thường bị chỉ trích là tập trung vào một mục tiêu duy nhất là phát triển hạ tầng cơ sở.  Nhưng với chiến lược mới, Nhật Bản ngày càng chú trọng đến phát triển không chỉ “phần cứng” mà còn “phần mềm” của hạ tầng cơ sở trong khu vực Mekong.

Đường hướng mới trong chánh sách viện trợ của Nhật Bản trong khu vực Mekong bắt rễ từ thiết kế ngoai giao rộng lớn của Abe – “Chiến lược Tự do và Rộng mở Ấn Độ-Thái Bình Dương (Free and Open Indo-Pacific Strategy (FOIPS))” do Hoa Kỳ đề xướng.  Chiến lược nầy nhằm mục đích thiết lập sự liên kết giữa lục địa Đông Nam Á (ĐNA), Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.  Nằm ở trung tâm của Ấn Độ-Thái Bình Dương, khu vực Mekong rất quan trọng cho sự thành công của chiến lược đầy tham vọng nầy.

Qua chiến lược, Abe cam kết rằng Nhật Bản sẽ chủ động hơn để đóng góp vào hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực qua hợp tác bốn bên giữa Hoa Kỳ, Ấn Độ, Úc và Nhật Bản.  Điều nầy có nghĩa là Nhật Bản cần phải tham gia và cần sự hỗ trợ tích cực của 3 quốc gia trong nỗ lực thực hiện chiến lược mới của mình.

Có nhiều lo ngại về hiệu quả của cơ chế bốn bên nầy vì sư hiện diện của 2 khuôn khổ địa chánh trị khác ở trong vùng – cấu trúc khu vực ASEAN (Association of SouthEast Asian Nations (Hiệp hội các Quốc gia ĐNA)) với Trọng tâm ASEAN của nó và chiến lược phát triển đầy tham vọng của Trung Hoa, Sáng kiến Vành đai và Con đường (Belt and Road Initiative (BRI)).  Trong phiên họp cấp ngoại trưởng của ASEAN ở Singapore vào ngày 2 tháng 8 năm 2018, chiến lược “Ấn Độ-Thái Bình Dương” được nhấn mạnh là nền tảng cho khái niệm Trọng tâm ASEAN.  Nói cách khác, khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương “tự do và rộng mở” phải được thực hiện qua việc thi hành cơ chế trọng tâm ASEAN dựa trên luật lệ.
Cũng trong phiên họp đó, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của Trung Hoa nói rằng Trung Hoa hoan nghênh cơ chế bốn bên trong việc hợp tác kinh tế và an ninh trong khu vực.  Nhưng ông cho biết số tài trợ quá ít so với một thiết kế rộng lớn như vậy.

Có một sự tương phản đáng kể giữa chiến lược viện trợ của Trung Hoa và Nhật Bản ở trong vùng.  Trung Hoa tập trung vào các dự án hạ tầng cơ sở “cứng” trong khi Nhật Bản có khuynh hướng phát triển hạ tầng cơ sở “mềm”.

Trung Hoa hứa cung cấp 10 tỉ USD qua chương trình Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)) cho một số các dự án phát triển hạ tầng cơ sở khác nhau, gồm có việc xây dựng các đập thủy điện, đường sắt và khu kỹ nghệ.  Trong khi Nhật Bản chi 7,5 triệu USD cho tổng tuyển cử ở Cambodia trong tháng 7 năm 2018.

Sự khác biệt về chiến lược viện trợ của 2 quốc gia cho thấy khả năng là BRI của Trung Hoa và chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản có thể bổ túc cho nhau và đóng một vai trò xây dựng trong khu vực.  Cố vấn đặc biệt Sonoura của Abe bác bỏ cáo buộc cho rằng chiến lược viện trợ mới của Nhật Bản có thể đe dọa Trọng tâm ASEAN hay BRI.  Và ông nói rằng Nhật Bản mong muốn ASEAN sẽ đóng một vai trò chánh và rằng sáng kiến viện trợ mới không có ý định kềm chế Trung Hoa.

Trong thời thực dân, khu vực Mekong được chia bởi 2 thế lực kình địch – Anh và Pháp.  Với những phát triển gần đây, các quốc gia Mekong mong muốn có một chánh sách ngoại giao tinh xảo và khéo léo để đối phó với các quyền lợi mâu thuẫn ở trong vùng.  Nếu không, các quốc gia Mekong, một lần nữa, có thể trở thành một “sân chơi” cho các siêu cường cạnh tranh ở Á Châu.

Fumitaka Furuoka – Bình Yên Đông lược dịch

.