GOOGLE 's LINK:
.
(How much is the world's most productive river worth? Here's how experts estimate the value of nature)
Stefan Lovgren – Bình Yên Đông lược dịch
The Conversation – April 4, 2023
Mekong ở Đông Nam Á (ĐNA) có thể là một con sông quan trọng
nhất trên thế giới. Được gọi là “mẹ của
các sông,” nó là nơi cư trú của thủy sản nội địa lớn nhất trên thế giới, và
những số lượng khổng lồ của phù sa mà nó vận chuyển nuôi dưỡng một số đất canh
tác phì nhiêu nhất trên thế giới. Hàng
chục triệu người dựa vào nó để sinh sống.
Nhưng giá trị bằng tiền của nó như thế nào? Có thể nào đặt một giá trị bằng USD cho vô số dịch vụ hệ sinh thái mà nó cung cấp, để giúp giữ cho những dịch vụ đó vững mạnh trong tương lai hay không?
Đó là cái mà các đồng nghiệp nghiên cứu của tôi và tôi đang cố gắng để tìm ra, chú trọng đến 2 quốc gia nắm giữ những vùng trù phú nhất của sông cho đánh cá và canh tác: Cambodia và Việt Nam.
Hiểu giá trị của một con sông rất cần để quản lý và lấy quyết
định tốt, chẳng hạn như phát triển hạ tầng cơ sở và nơi để bảo vệ thiên nhiên. Điều nầy đặc biệt đúng đối với Mekong, đã
chịu áp lực lớn lao trong những năm gần đây vì đánh cá quá mức, xây đập và thay
đổi khí hậu, và nơi mà các quyết định về các dự án phát triển thường không bao
gồm chi phí môi trường.
“Các sông chẳng hạn như Mekong có tác dụng như những hệ thống
hỗ trợ đời sống cho toàn thể khu vực,” Rafael Schmitt, khoa học gia cầm đầu Dự
án Tư bản Thiên nhiên của Đại học Stanford đã nghiên cứu hệ thống Mekong trong
nhiều năm, nói. “Hiểu giá trị của chúng,
bằng tiền, có thể quan trọng để phán xét công bằng các ảnh hưởng mà việc phát
triển hạ tầng cơ sở sẽ có đối với những chức năng nầy.”
Nhưng tính toán trị giá đó không đơn giản. Hầu hết các lợi ích tự nhiên mà một dòng sông mang lại là, một cách tự nhiên, ở dưới nước, và vì thế ẩn núp việc quan sát trực tiếp. Các dịch vụ hệ sinh thái có thể khó để theo dõi vì các sông thường chảy qua những khoảng cách dài và thỉnh thoảng chảy qua biên giới quốc gia.
Đi vào việc
tính toán tư bản thiên nhiên
Lý thuyết của tư bản thiên nhiên (natural capital) đề nghị
rằng những dịch vụ hệ sinh thái cung cấp bởi thiên nhiên – chẳng hạn như lọc
nước, ngừa lụt và vật liệu thô – có giá trị kinh tế phải được cứu xét khi lấy
các quyết định ảnh hưởng đến các hệ thống nầy.
Một số người lập luận rằng đặt một cái giá tài chánh lên
thiên nhiên là trái đạo đức, và rằng làm như thế hủy hoại động cơ thúc đẩy bên
trong của con người để coi trọng và bảo vệ thiên nhiên. Những người chỉ trích nói việc định giá
thường không nắm toàn thể giá trị của dịch vụ thiên nhiên.
Những người ủng hộ nói rằng tính toán tư bản thiên nhiên đặt
một địa vị nổi bật lên giá trị của hệ thống thiên nhiên khi so sánh với các áp
lực thương mại. Họ nói nó mang tính rõ
ràng đến cho những lợi ích thiên nhiên thay vì bị che khuất, sử dụng từ ngữ để
các nhà làm chánh sách có thể hiểu và sử dụng tốt hơn.
Một vài quốc gia đã kết hợp việc tính toán tư bản thiên nhiên
trong những năm gần đây, gồm có Costa Rica, Canada và Botswana. Thường thường, điều đó đã đưa đến việc bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên tốt hơn, chẳng hạn như rừng đước bảo vệ các bờ biển mong
manh. Chánh phủ Hoa Kỳ cũng loan báo một
chiến lược trong năm 2023 để bắt đầu phát triển khoa học đo đạc để tính toán
trị giá của tài sản thiên nhiên căn bản, chẳng hạn như khoáng sản, rừng và sông
quan trọng.
Tuy nhiên, các nghiên cứu tư bản thiên nhiên phần lớn chú
trọng đền các hệ sinh thái trên mặt đất, nơi được-mất giữa can thiệp và bảo tồn
của con người dễ thấy hơn.
Khi định giá trị của sông, những thách thức sâu rộng hơn nhiều. “Nếu anh phá một khu rừng, ảnh hưởng được thấy trực tiếp,” Schmitt chỉ ra. “Một con sông có thể nhìn như nguyên thủy, nhưng chức năng của nó có thể thay đổi lớn lao bởi 1 đập ở xa.”
Tính toán
cho thủy điện
Thủy điện cung cấp 1 thí dụ của những thách thức trong việc
lấy quyết định về sông mà không hiểu đầy đủ trị giá của nó. Thường thì việc tính trị giá của 1 đập thủy
điện dễ hơn trị giá của cá và phù sa trong sông và sau cùng trở thành đất canh
tác phì nhiêu.
Các sông của lưu vực Mekong đã được khai thác rộng rãi cho
việc sản xuất điện trong những thập niên gần đây, với việc nẩy nở của đập ở
Trung Hoa, Lào và nơi khác. Theo dõi Đập
Mekong (Mekong Dam Monitoring (MDM)), do Trung tâm Stimson bất vụ lợi điều
hành, theo dõi các đập và ảnh hưởng môi trường của chúng trong lưu vực Mekong
gần như tức thời.
Mặc dù thủy điện rõ ràng là một lợi ích kinh tế - cung cấp
điện cho nhà cửa và doanh nghiệp, và đóng góp vào GDP của quốc gia – các đập
cũng thay đổi dòng chảy của sông và ngăn chận việc di chuyển của cá và chuyên
chở phù sa.
Hạn hán trong Mekong trong những năm gần đây, liên kết với El
Niño và tồi tệ thêm bởi thay đổi khí hậu, càng tồi tệ thêm vì các nhà điều hành
đập giữ nước lại. Điều đó làm cho mực
nước xuống đến mức thấp kỷ lục, với những hậu quả tàn phá thủy sản. Trong hồ Tonle Sap, hồ lớn nhất ĐNA và là
trái tim của thủy sản Mekong, hàng ngàn ngư dân buộc phải bỏ nghề, và nhiều
thủy sản thương mại phải đóng cửa.
Một dự án đang bị xoi mói hiện nay trong lưu vực Mekong là 1 đập nhỏ đang được xây trên sông Sekong, một phụ lưu, ở Lào gần biên giới Cambodia. Mặc dù đập dự trù sản xuất một số điện nhỏ, các nghiên cứu sơ khởi cho thấy nó sẽ có ảnh hưởng tiêu cực lớn lao đối với dân số của nhiều loại di ngư trong Sekong, là phụ lưu chảy tự do cuối cùng trong lưu vực sông Mekong.
Định giá
‘mạch máu của khu vực’
Sông Mekong bắt nguồn ở cao nguyên Tây Tạng và chảy qua 2.700 miles (khoảng 4.350 km) qua 6 quốc gia trước khi dổ ra Biển Đông.
Hạ lưu sông Mekong. [Nguồn: USGS]
Tính phong phú sinh thái và sinh học của nó đáng kể rõ
ràng. Hệ thống sông là nơi cư trú của
trên 1.000 loại cá, và số cá đánh được hàng năm chỉ trong hạ lưu vực, bên dưới
Trung Hoa, được ước tính trên 2 triệu tấn.
“Sông là mạch máu của khu vực trong nhiều thế kỷ,” Zeb Hogan,
một nhà sinh học của Đại học Nevada, Reno, người cầm đầu dự án nghiên cứu Kỳ
quan của Mekong (Wonders of the Mekong) mà tôi tham gia, nói. “Nó là nguồn tái tạo cuối cùng – nếu nó được
hoạt động thích đáng.”
Nhưng thiết lập trị giá tài chánh của cá thì phức tạp hơn nó
thấy. Nhiều người trong khu vực Mekong
là ngư dân để kiếm sống, đối với họ cá không có hay có ít trị giá thị trường
nhưng quan trọng cho sự sống còn của họ.
Sông cũng là nơi cư trú của một số cá nước ngọt lớn nhất trên
thế giới, như các đuối và cá tra dầu khổng lồ và là loại có nguy cơ tuyệt chủng
cao. “Làm thế nào để anh định giá quyền
hiện hữu của một chủng loại?” Hogan hỏi.
Phù sa, bón phân cho các đồng lụt và xây nên Đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL), tương đối dễ để định lượng, Schmitt, nhà khoa học Stanford
nói. Theo phân tích của ông, Mekong,
trong tình trạng thiên nhiên của nó, vận chuyển 160 triệu tấn phù sa mỗi năm.
Tuy nhiên, các đập chỉ cho qua khoảng 50 triệu tấn, trong khi khai thác cát ở Cambodia và Việt Nam lấy đi 90 triệu tấn, có nghĩa là nhiều phù sa bị ngăn chận và lấy đi từ sông hơn số lượng nó đưa đên nơi đến tự nhiên của nó. Kết quả là, ĐBSCL, thay vì nhận được nhiều phù sa một cách tự nhiên, đã bị sạt lở sông lớn lao, với hàng ngàn nhà bị cuốn trôi đi.
Tiềm năng
được chỉ định ‘khu di sản thế giới’
Các dịch vụ thiên nhiên của sông cũng có thể bao gồm những
lợi ích văn hóa và xã hội có thể khó để đặt những trị giá tiền bạc.
Một đề nghị mới tìm cách để chỉ định một khúc sông giàu sinh
học của sông Mekong ở miền bắc Cambodia như một Khu Di sàn Thế giới
UNESCO. Nếu thành công,việc chỉ định như
thế có thể mang với nó một số uy tín nào đó rất khó để tính bằng con số.
Tính phức tạp của sông Mekong khiến cho dự án của chúng tôi là một cam đoan đầy thử thách. Cùng lúc, tính đa dạng phong phú của những lợi ích thiên nhiên mà Mekong cung cấp làm cho công việc nầy quan trọng, để các quyết định trong tương lai có thể được lấy dựa trên các chi phí thật sự.
(Can river meet all needs at same time)
Aprisom Intralawan and David Wood – Bình Yên Đông lược dịch
Bangkok Post – 17 November 2023
Tăng trưởng dân số và kinh tế - gồm có việc chuyển sang xe
điện và việc sử dụng kỹ thuật số đang bành trướng nhanh chóng, đưa đến nhu cầu
điện cao hơn trên toàn cầu, được mong đợi tăng gấp đôi vào năm 2050, theo phúc
trình của In McKinney “Viễn cảnh Năng lượng Toàn cầu 2021”.
Các quốc gia Hạ lưu Mekong (Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam) đang trải qua một sự gia tăng nhanh hơn.
Nhu cầu điện trong 4 quốc gia nầy được tiên đoán sẽ gấp đôi
trong năm 2040, theo một cơ quan nghiên cứu khu vực, Viện Nghiên cứu Kinh tế
ASEAN và Đông Á (ERIA), trong năm 2019.
Sự gia tăng nhu cầu điện sẽ là một thách thức không chỉ cho
các nhà làm chánh sách trong các quốc gia Hạ lưu sông Mekong mà con cho sông
Mekong nữa, vì con sông hùng vĩ đã trở thành một nguồn kỹ nghệ năng lượng thủy
điện.
Từng được dùng cho các mục đích giao thông, thủy sản và nông
ngiệp mà thôi, nước của con sông hùng vĩ nầy, cũng như thủy đạo tự nhiên, đã
được dùng để sản xuất năng lượng nước.
Không cần phải nói, vai trò mới của sông Mekong đưa đến những xung đột
đối với tài nguyên thiên nhiên.
Một thí dụ sáng chói là trường hợp của các dự án đập ở
Lào. Quốc gia không có bờ biển bắt đầu
phát triển các dự án thủy điện trong thập niên 1980s, bắt đầu với đập Nam Ngum
trên sông Nam Ngum – một phụ lưu của Mekong [Lời
người dịch: Đập Nam Ngum được xây trong thập niên 1970s]. Hầu hết điện được xuất cảng để tạo thu nhập
cho việc phát triển kinh tế và xã hội ở Lào.
Chánh phủ Lào nới rộng kỹ nghệ thủy điện của họ bằng cách
chấp thuận dự án thủy điện đầu tiên trên dòng chánh Mekong [Xayaburi] trong năm
2011 mặc dù có sự chống đối của các cộng đồng Mekong và các chánh phủ Cambodia
và Việt Nam. Đây là đập thừ nhất trong 9
đập được dự trù ở Lào trên dòng chánh sông Mekong.
Với việc sông bị ngăn chận bởi các đập, Ủy hội Sông Mekong
(MRC) đã cảnh báo rằng các đập được dự trù trên dòng chánh có thể làm mất 1
triệu tấn cá Mekong đánh được mỗi năm – một nguồn thực phẩm quan trọng. Điều nầy sẽ làm hại cho an ninh lương thực và
cuộc sống của hàng triệu dân làng dựa vào sông Mekong.
MRC là một tổ chức liên chánh phủ làm việc trực tiếp với các
chánh phủ Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam để cùng quản lý nguồn nước chung
và phát triển khả chấp Mekong.
MRC cũng tiên đoán rằng dòng phù sa và chất dinh dưỡng đến
Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam (ĐBSCL) sẽ bị giảm gần 100%, có thể ảnh
hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam dựa vào phù sa sông
giàu chất dinh dưỡng được mang xuống hạ lưu.
ĐBSCL sản xuất khoảng 50% lúa của Việt Nam và chiếm 30% GDP của quốc
gia.
Các dự án thủy điện của Trung Hoa ở thượng lưu và các dự án
hiện hữu trên phụ lưu Mekong ở Lào đã thay đổi nhịp lũ hàng năm của
Mekong. Điều nầy đã ảnh hưởng đến sự
bành trướng của hồ Tonle Sap và làm giảm lớn lao số cá đánh được trong Tonle
Sap ở Cambodia. Thay đổi trong dòng nước
Mekong cũng làm tăng sạt lở bờ sông.
Việc xây cất một dự án khác trên dòng chánh gần đây đã bắt
đầu ở Luang Prabang. Một lần nữa, đập
nầy chuốc lấy nhiều tranh cãi hơn dự án Xayaburi, vì nó nằm gần vùng bị động
đất và có thể gây nguy hại cho Khu Di sản Thế giới Unesco ở Luang Prabang.
Thủy điện thường được xem là nguồn điện tái tạo xanh với
lượng phóng thích carbon dioxide tối thiểu.
Nhưng những người chống đối cũng nói rằng việc xây cất các đập thủy điện
cũng phóng thích [carbon dioxide].
Ngoài ra, những người chống đối đập cho rằng việc phóng thích
khí nhà kiếng trong khi xây cất các đập thủy điện đại qui mô chẳng hạn như
Xayaburi được ước tính tương đương với một năm điều hành một nhà máy điện than
1.000 MW.
Một lo ngại khí hâu quan trọng là việc phóng thích khí
methane từ cây cối bị phân hủy khi một khối lượng nước lớn được giữ lại trong
các hồ chứa khổng lồ.
Trong lúc đó, hầu hết các quốc gia Hạ lưu Mekong có tiềm năng
lớn của điện mặt trời và gió. Vậy mà,
hầu hết những quốc gia nầy hiện đang xây các nhà máy điện than mới, mặc dù điện
mặt trời và gió đang được xem là cách rẻ nhất và thân thiện với môi trường nhất
để sản xuất điện.
Than và khí đốt cung cấp 60% điện trong khu vực trong năm
2022, và điều nầy được mong đợi vẫn ở trên 50% cho đến 2040. Thí dụ, vùng biển của Việt Nam thì lý tưởng
cho điện gió, nhưng việc chuyển tiếp từ nhiên liệu hóa thạch sang tái tạo rất
chậm.
Các giới chức năng lượng trong những quốc gia nầy thường đổ
cho sự khó khăn trong việc kết hợp điện tái tạo hay thay đổi vào lưới điện
truyền thống như là lý do để bám váo năng lượng nhiên liệu hóa thạch.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) báo cáo rằng nhiều tái tạo
có thể được kết hợp vào lưới điện hiên hữu ở Thái Lan để cung cấp đến 15% của
nguồn cung cấp. Cải thiện lưới điện và
nối kết xuyên biên giới tốt hơn sẽ gia tăng thêm tỉ lệ nầy.
Trong năm 2022, năng lượng tái tạo chỉ cung cấp 5% nguồn điện
ở Thái Lan, cho thấy có nhiều cơ hội để đi nhanh trong việc chuyển tiếp. Chúng tôi khuyến khích một chánh sách kết hợp
hơn để bành trướng nguồn năng lượng tái tạo và không ảnh hưởng đến sự toàn vẹn
sinh thái của sông Mekong với tất cả lợi ích mà nó cung cấp cho các cộng đồng
địa phương.
Nếu ưu tiên được dành cho cá Mekong và việc sàn xuất lúa ở
Cambodia/Việt Nam, có khả thi để đáp ứng nhu cầu điện khu vực bằng tái tạo mà
thôi? Thiết lập các tấm quang điện trên
nóc nhà, thêm nhiều dự án mặt trời nổi, và cải thiện việc trữ điện tất cả có
thể góp phần.
Điện mặt trời nổi có nhiều ưu điểm so với điện mặt trời trên
mặt đất. Không có chi phí cho đất, không
có tái định cư làng mạc, có hiệu năng đổi năng lượng cao hơn và chi phí nối kết
với lưới điện thấp khi nằm gần những hồ chứa thủy điện hiện hữu.
Thái Lan đã có một dự án mặt trời nổi đang hoạt động (đập
Sirindhorn), và có nhiều dự án khác đang trong giai đoạn quy hoạch. Lào đã bắt đầu xây một dự án điện mặt trời
nổi lớn trên hồ chứa Nam Ngum và chấp thuận một dự án khác ở Nam Theun 2. Các tấm quang điện nổi cũng làm giảm sự bốc
hơi của hồ chứa.
Khuyết điểm chánh của mặt trời và gió là sự biến đổi. Điều nầy có thể được tối thiểu hóa bằng việc
quản lý lưới điện tốt hơn, cải thiện kỹ thuật dự trữ năng lượng và giảm chi
phí. Những yếu tố nầy có thể đóng góp
vào việc sử dụng 60% tái tạo vào năm 2040 mà không dùng thêm than hay các dự án
thủy điện trên dòng chánh.
Những lợi ích kinh tế, những lợi ích khí hậu và sức khỏe tốt
hơn cho cư dân trong khu vực cung cấp một động lực thúc ép các nhà quy hoạch
năng lượng tăng tốc việc chuyển sang điện mặt trời và gió.
(Major Asian Rivers of the Plateau of Tibet: The Basics)
Stewart Gordon – Bình Yên Đông lược dịch
Environmental Challenges and Asia – Winter 2010
Sông Brahmaputra trên cao nguyên Tây Tạng. [Ảnh: Imagechina]
Trong những thời kỳ địa chất tương đối gần đây, dưới 40 triệu năm trước, tiểu lục địa Ấn Độ đụng vào vĩ thạch quyển (tectonic plate) Eurasia. Khi vĩ thạch quyển Nam Á Châu di chuyển bên dưới vĩ thạch quyển Eurasia, nó nâng Himalayas và cao nguyên Tây Tạng lên, và gập thành những dãy núi ở phía đông của cao nguyên Tây Tạng. Vĩ thạch quyển Ấn Độ vẫn còn hội tụ với vĩ thách quyển Eurasia với vận tốc hàng năm trên ¾ inches một chút, làm biến dạng và nâng cao dãy Himalayas. Mức độ nầy nhanh hơn sự tăng trưởng của móng tay.
Cao nguyên Tây Tạng và những dãy núi chung quanh rất hiếm được xem như một vùng sinh thái vì các nghiên cứu, nhất là các nghiên cứu về sông, thường dành riêng cho quốc gia [1]. Là một vùng sinh thái, chướng ngại lớn lao của Himalayas và những dãy núi nới rộng và phía đông chia khu vực thành 2 phần sinh thái. Triền phía nam nhận mưa trên triền núi thấp hơn và tuyết trên đỉnh núi. Mưa và tuyết nầy tao nên các sông chảy về phía đông, nam, và tây của dãy núi. Tuy nhiên, Himalayas cũng hình thành một chướng ngại lớn lao cho mây chứa đầy độ ẩm. Phía bắc của Himalayas là bóng mưa kéo dài từ Tây Tạng qua sa mạc Takla Makan và Gobi. Trên 1 ngàn năm, bóng mưa càng ngày càng trở nên khô hơn.
Mười hai con sông quan trọng bắt nguồn từ cao nguyên được nâng cao nầy. Chúng cung cấp nước ngọt cho khoảng gần ½ dân số hiện nay. Bắt đầu ở Trung Hoa và đi theo chiều kim đồng hồ chung quanh Á Châu, những con sông nầy gồm có Yellow (Hoàng), Yangtze (Dương Tử), Red (Hồng), Mekong, Salween, Irrawaddy, Brahmaputra, Ganges, Helmand, Amu Darya và Sir Darya. Mười con sông dài hơn 1.000 miles (1.600 km).
Yangtze – 3.965 miles
Yellow – 3.395 miles
Mekong – 2.750 miles
Indus – 1.975 miles
Syr Darya – 1.913 miles
Salween – 1.901 miles
Brahmaputra – 1.765 miles
Amu Darya – 1.630 miles
Ganges – 1.560 miles
Irrawaddy – 1.335 miles
Một vài con sông có diện tích lưu vực lớn nhất trên trái đất.
Ganges và Brahmaputra – 668.000 square miles
Yangtze – 454.000 square miles
Yellow – 378.000 square miles
Indus – 371.000 square miles
Mekong – 313.000 squre miles [2]
Sinh thái căn bản của những sông nầy được cai quản bởi nhịp
mưa mùa hàng năm. Gió thổi ra biển thịnh
hành từ tháng 1 đến tháng 5 thường đem lại thời tiết khô khan [3]. Gió từ biển thổi vào từ tháng 6 đến tháng 10
mang mây có nhiều độ ẩm và mưa. Lề lối
nầy rõ rệt trên khắp toàn thể chu vi phía nam của lục địa Á Châu – từ bờ biển
phía tây Ấn Độ (chung quanh Maynmar), Malaysia và Việt Nam, và bờ biển Trung
Hoa, đến Triều Tiên. Mưa mùa trước hết
rơi xuống những khúc sông ở hạ lưu sông, rồi mưa di chuyển vào đất liền và đi
lên cao nguyên. Khi không khí đầy độ ẩm
dâng lên, trước hết độ ẩm rơi ở chân núi và đến từng dãy núi liên tiếp, như mưa
hay tuyết.
Bản đồ được thực hiện bởi Willa Davis bằng cách dùng Mountain
High Maps Continental Edition [Nguồn 1995 Digital Wisdom]
Ảnh hưởng của gió mùa giảm mạnh cho những sông bắt nguốn từ phía tây của cao nguyên Tây Tạng. Đơn giản vì còn ít độ ẩm trong gió mùa còn lại vào lúc mây trút mưa trên khắp tiểu lục địa Ấn Độ. Khi ra khỏi vùng tuyết bị nén ở trên núi, Syr Darya và Amu Darya nhận thêm một ít mưa; vùng hạ lưu nhận được dưới 4 inches nước mưa mỗi năm. Indus nhận được thêm một số nước từ chân núi Himalayas, nhận được khoảng 8 inches nước mưa trong mùa gió mùa, nhưng ở xa hơn về phía hạ lưu đồng bằng Pakistan trên căn bản là khô, chỉ nhận được khoảng 4 inches nước mưa mỗi năm.
Đi về phía đông, sông Ganges nhận được nước đáng kể ở hạ lưu trong mùa mưa, trong khi đồng bằng thấp hơn của Ganges nhận trên 200 inches nước mưa trong mùa mưa, và dòng chảy của sông gia tăng gần 5 lần [4]. Những sông ở lục địa Đông Nam Á (ĐNA) và Trung Hoa nhận từ 60 đến 80 inches nước mưa ở hạ lưu, cộng thêm một cách dáng kể vào dòng chảy của những sông nầy. Cường độ của mưa trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, lũ lụt trong mùa mưa và nước thấp trong phần còn lại của năm. (Những sông ở về phía tây, với sự đóng góp ít của mưa, có dòng chảy đều đặn hơn). Yangtze, Yellow, và Brahmaputra thuộc 9 con sông ở về phía đông và có mùa nước thấp truyền thống làm lộ ra những tảng đá ở đáy sông theo sau bởi lũ lụt hay gần lũ lụt.
Tất cả những sông nầy mang theo bùn, phần lớn được lấy trong những khúc sông ở trung lưu, thường từ bờ sông, nơi nước chảy tương đối nhanh. Sau đó, bùn được lồi lắng trong hạ lưu vực của sông; 50% bùn đi đến biển để hình thành các đồng bằng. Nói chung, những sông rời khỏi cao nguyên Tây Tạng mang theo những số lượng bùn rất lớn. Khoảng 70% của tất cả bùn được sông mang ra biển là do các sông ở Á Châu [5]. Lượng bùn nặng nhất trên trái đất được mang bởi sông Yellow. Trong hàng triệu năm, nó đã thu hoạch bùn trong khi cắt qua một cánh đồng rộng lớn được tạo thành bởi đất hạt mịn do gió mang đi. Sông bồi lắng hầu hết số bùn nầy trong khúc sông chảy chậm dài 435 miles, mỗi mile giảm trên 2 feet một chút.
Địa dư văn hóa
Vòng cung rộng lớn từ Bengal vòng qua lục địa ĐNA và những cánh đồng ở phía nam Trung Hoa là tâm điểm của lúa trong hàng ngàn năm. Lúa đòi hởi thủy nông thường xuyên, và kiểm soát nước càng nhiều thì năng suất càng cao [6]. Những can thiệp của con người đối với lúa là ruộng bậc thang và làm ngập ruộng lúa, bằng cách dùng nước của các sông. Nhiều đế quốc phức tạp và thành công nhất ở Á Châu đã dựa trên năng suất của việc thâm canh lúa. Những đế quốc nầy gồm có Angkor ở Cambodia, Ayuthia ở Thái Lan, nhiều triều đại ở Trung Hoa, và Đế quốc Gupta ở Ấn Độ. Trong thế kỷ vừa qua, thủy nông từ các sông bắt nguồn ở cao nguyên Tây Tạng đã được bành trướng lớn lao. Dọc theo sông Yellow, đất được dẫn tưới nhiều gấp 20 lần vào cưới Thế Chiến II. Có những phát triển thủy nông quan trọng trong các đồng bằng của Ganges, Mekong, Yangtze, Irrawaddy và Brahmaputra. Những vùng nầy đã trở thành một số vùng có mật độ con người cao nhất trên thế giới [7].
Từ lâu, đã có những khác biệt sắc tộc rõ rệt trong những phần khác nhau của sông. Các nền kinh tế miền núi ở vùng nguồn tập trung vào chăn nuôi di chuyển hay thu nhặt. Người dân đã nói (và vẫn còn nói) một ngôn ngữ khác với người dân sống trong các vùng khác của sông. Cuộc sống của những người sống trong vùng trung lưu thường trộn lẫn chăn nuôi với nông nghiệp, kể cả canh tác ruộng bậc thang. Những người nầy thường đốn cây để lấy củi và mở đất mới cho nông nghiệp. Phá rừng đại qui mô thường xảy ra ở vùng trung lưu của một số sông, và phá rừng được đặc biệt chú ý trong Brahmaputra, Ganges, và cả Yangtze và Yellow. Người dân ở vùng trung lưu của sông thường nói một ngôn ngữ khác với người dân sống ở đồng bằng gần vùng hạ lưu của sông.
Các sông ở Á Châu bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng có những ý nghĩa văn hóa phức tạp cho các nhóm sắc tộc khác nhau dọc theo chiều dài của chúng. Ở Ấn Độ, thí dụ, câu chuyện giáng trần của Ganges từ cõi trời được kể lại và miêu tả sống động trong thuật điêu khắc của Hindu. Nhiều nhóm sắc tộc sống dọc theo những sông nầy đã xem họ bị hy sinh trong nhiều thế kỷ, nếu không phải ngàn năm. Trong suốt nhiều thế kỷ, thần thánh cũng như người trần thế đã tắm trong Ganges. Ở Trung Hoa, người dân sống ở hạ lưu Ganges đã làm lễ để làm nguôi giận con rồng, đó là sông Yangtze.
“Kiểm soát” một vài con sông nầy – Yelllow, Yangtze, Mekong, và Irrawaddy – đã đòi hỏi nỗ lực lớn lao của con người trong hàng trăm hay hàng ngàn năm. Trên những cánh đồng ở Trung Hoa, thí dụ, tiến trình tự nhiên là để đáy sông nâng lên từ từ khi bùn lắng xuống đáy trong lúc dòng chảy qua đồng bằng của sông thấp. Để giữ cho sông không gây ngập lụt cho những cách đồng nông nghiệp ở chung quanh đòi hỏi việc duy trì liên tục các đê, tạo nên những lòng lạch để gia tăng dòng chảy, vét đáy để tăng chiều sâu, và giữ nước trong các hồ và biền. Trên sông Yellow, đã có 1.750 trận lũ lụt thảm khốc do đê sông bị vỡ giữa 650 BCE và 1950 CE [8]. Chánh phủ Trung Hoa hiện nay đã xây nhiều đập nhỏ ở thượng lưu và đã quản lý để cắt ½ số bùn bồi lắng của sông Yellow, nhưng đáy sông hiện nay ở hạ lưu vẫn còn cao hơn mặt đất chung quanh gần 10 feet.
Từ lúc ban đầu, một số trong các sông nầy đã có, và vẫn còn có, những đòi hỏi nước cạnh tranh. Nước cho các thành phố cạnh tranh với nước cho nông nghiệp. Thủy vận trên sông đòi hỏi nước cao, cạnh tranh với việc lấy nước cho thủy nông. Ở Trung Hoa, thí dụ, chánh phủ cần nước cao để đi qua sông Yangtze và Yellow để vận chuyển lúa từ miền nam đến miền bắc nghèo thực phẩm. Nông dân cần lấy nước cho thủy nông và hưởng chất dinh dưỡng của bùn sông. Năm trong số 12 con sông chảy qua nhiều quốc gia. Sông Mekong bắt đầu ở miền tây Trung Hoa, tạo thành biên giới Cambodia [Lào]-Thái Lan và xuyên qua Lào [Cambodia] và Việt nam. Ưu tiên quốc gia thường cạnh tranh và xung đột. Thủy nông trong thung lũng Fargana của Kirgistan làm giảm lưu lượng của Sir Drarya vào Kazakhstan và biển Aral [9]. Bên trong Trung Hoa, những dự án thủy nông gần đây để cung cấp nước cho thủ phủ của bang Ningxia và Inner Mongolia đã làm giảm dòng chảy đến hạ lưu sông Yellow [10].
Nhiều quốc gia đã xây đập trên các khúc sông ở thượng nguồn
của những sông nầy như một giải pháp đối với mưa định kỳ hàng năm, hạn hán bất
thường, và để sản xuất thủy điện. Một
vài đập nầy đã gây chống đối chánh trị nghiêm trọng, nhất là của các nhóm sắc
tộc ở phía trên sông mà họ chỉ thấy dời cư và sự hủy hoại cuộc sống của họ và
không được hưởng lợi từ thủy điện hay nước được trữ lại. Khi các đập đươc xây và kinh nghiệm với chúng
gia tăng, nhiều vấn đề xuất hiện [11].
Bùn lấp đầy vùng lưu vực ở phía sau đập và khiến cho nó ít hữu hiệu hơn
nhiều cho việc sản xuất điện hay dự trữ nước.
Thủy điện được sản xuất ở các địa diểm núi non cách xa nơi có nhu cầu
thường là các thành phố ở đồng bằng hay ven bờ biển.
Xây cất nhà máy thủy điện Jinghong
(Cảnh Hồng) trên sông Lancang (sông Mekong trong tỉnh Yunnan, Trung Hoa). [Ảnh:
Imagechina]
Kết luận
Trong những cách nào, thì, nó hữu ích để xem những sông từ cao nguyên Tây Tạng như một đơn vị duy nhất để giảng dạy? Trước hết, viễn cảnh nầy thay đổi chú trọng của chúng ta ra ngoài biên giới quốc gia hay ngay cả nền văn minh (“Trung Hoa”, “Ấn Độ”) đến lưu vực lớn hơn, và những vùng chảy bò qua biên giới chánh trị, vùng sinh thái, vùng sắc tộc, và biên giới ngôn ngữ. Loại phân tích nầy cho thấy sự lệ thuộc mật thiết của tất cả những ai sống hay có cuộc sống dựa vào nguồn nước của sông. Thứ hai, chú trọng đến nhóm sông nầy cho phép so sánh địa dư và tổ chức giữa nhửng cách mà nguồn nước đã được sử dụng cho việc phát triển các nền văn minh phức tạp. Từ viễn cảnh nầy, nó trở nên thích hợp để so sánh Indus với Angkor. Thứ ba, có một bộ vấn đề phổ biến để quản lý những sông nầy – lắng bùn, nước thấp, nước cao do nước mưa mùa, lưu vực, hạ lưu sông thuộc về các thực thể chánh trị khác, và nhu cầu cạnh tranh của thủy nông, kỹ nghệ và thành phố. Cuối cùng, tất cả những sông nầy bị đe dọa nghiêm trọng bởi hâm nóng toàn cầu với hậu quả của nó là làm giảm các băng hà và tuyết bị nén lại để nuôi những con sông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng.
Ghi chú giảng dạy và thư mục
Có những bài tường thuật thám hiểm của từng con sông, thường được soạn bởi việc vẽ bản đồ thời thuộc địa hay thám hiểm quân sự. Trong thời của chúng ta, vì những sông nầy rất quan trọng đối với nền kinh tế của tất cả các quốc gia chúng chảy qua, có hàng ngàn bài viết khoa học và phúc trình về dòng chảy, tích lũy bùn, thực vật dọc theo bờ sông, động vật, và những cứu xét chánh sách về đập, thủy nông, và việc sử dụng nước. Có hàng trăm bài viết về pháp luật về các hiệp ước giữa các quốc gia Á Châu chia sẻ những sông đó.
Để giới thiệu việc giảng dạy về phần đông các sông lớn ở Á Châu, không có gì tốt hơn Google Earth. Sinh viên có thể dò theo các sông và xem địa thế chúng đi qua và ảnh hưởng. Nhiều nơi dọc theo sông được kèm theo hình ảnh của những địa điểm đặc biệt. Điều ngạc nhiên đặc biệt là sự xuất hiện đầu tiên của ruộng bậc thang có thể so sánh với các sông khác. Đập và hồ chứa nước của chúng rõ ràng. Thủy nông cũng được thấy. Phá rừng rất rõ trong những hình nầy, cũng như đường sá.
Ngược với đường lối “cao nguyên Tây Tạng” thống nhất của bài nầy đối với các sông ở Á Châu với đường lối trong Asia for Education của Đại học Columbia (http://afe.easia.columbia.edu/geography/element_b/eb5.html) và dựa án Annenberg về giảng dạy địa dư (http://www.learner.org/resources/series180.html), cả 2 dùng biên giới quốc gia trong việc phân ranh giới của khu vực địa dư.
Nhiều trong số những sông nầy cũng xuất hiện trong nhiều quyển sách phổ biến, thường được mô tả phong phú. Thí dụ, xem The Mekong: A River and Its People của John Hoskin (Bangkok: Post Publishing, Co. Ltd., 1992).
Các sử gia bị bẻ cong sinh thái thỉnh thoảng cứu xét toàn thể sông nhưng thường xuyên hơn một phần của sông hay nhóm sắc tộc sinh sống dọc theo sông. Thông thường là các bài viết được sưu tập trong Constance M. Wilson (ed.). The Middle Mekong River Basin: Studies in Tai History and Culture (DeKalb, IL: Center for Southeast Asian Studies. Northern Illinois University, 2009).
Những con sông nầy cũng làm say mê những người viết không khoa học đã viết rất nhiều sách để thảo luận những cách mà sông cung cấp cấu trúc cho xã hội. Nhắc lại kịch vui Slowly own the Ganges (1966) của Eric Newby. Yangtze, thí dụ, đã khích lệ văn chương trong nhiều thế kỷ, những mẩu chuyện ngắn được sưu tập trong Yangtze River: The Wildest, Wickedest River on Earth của Madeline Lynn (Oxford University Press: Hong Kong, 1977).
Chú thích
1. This is one
of the few articles to treat transnational aspects of rivers over a broad swath
of the Himalayas and Plateau of Tibet. It does not, however, include the rivers
of China. Jayanta Bandyopadhyay and Dipak Gyawali, “Himalayan Water Resources:
Ecological and Political Aspects of Management”, Mountain Research and Development 14, no.1 (February 1994):
1–24.
2. All of the
essentials of the rivers that originate on the Plateau of Tibet are taken
from The Times Atlas of the World (London:
John Bartholomew & Sons Ltd. Seventh edition, 1988), x1v, xv. A lovely
large map of Asia that shows all of the rivers is found on xxxvi and xxxvii.
3. The monsoon
is a seasonal reversal of winds caused by the difference in atmospheric
pressure from the differential heating of land and ocean. In winter,
high-pressure cells develop over continental Asia producing sinking air that
results in an offshore monsoon. The winter monsoon produces little
precipitation. In summer, the heating of the Asian continent results in rising
air and, therefore, lower pressure. The moist maritime onshore winds bring
extensive precipitation to certain areas during summer.
4. Bandyopadhyay
and Gyawali, 3.
5. See John H.
Millmanand and Robert H. Meade, “Worldwide Delivery of River Sediments to the
Ocean,” Journal of Geology, 91,
no.1 (February 1983): 1–21.
6. Te-Tzu Chang
and A. H. Bunting, “The Rice
Cultures,” Philosophical Transactions of the Royal Society of London.
Series B, Biological Sciences, 275, no. 936, The Early History of
Agriculture (July 27, 1976): 143–157.
7. Using
irrigation from the Indus, the Punjab has become one of India’s largest
food producing areas based on high-yield wheat.
8. Mei Chengrui
and Harold E. Dregne, “Review Article: Silt and the Future Development of
China’s Yellow River,” The
Geographical Journal, 167, no. 1 (March 2001): 15.
9. Fergana,
which is watered by the Amu Darya, has been fought over for centuries. See, for
example, a description of it in the memoirs of Babur, a descendant of Ghengis
Khan who inherited the valley and lost it to Uzbegs in the 1490s CE.
Babur, Babur-Nama (Memoirs of
Babur), trans. Annette Sussanah Beveridge (New Delhi: Low Price
Publications, 1989, reprinted edition), 1–12.
10. Mei Chengrui
and Harold E. Dregne, 10.
11. Zeb Hogan,
“Tonle Sap: The Flowing Heart of Cambodia,” NPR, December 6, 2005, http://www.npr.org/templates/story/story.php?storyId=5039980;
“China Rejects Mekong River Dam Criticism,” BBC News, April 5, 2010, http://news.bbc.co.uk/2/hi/8603112.stm;
Nirmal Ghosh, “Mekong River Talks: Dams Be Damned,” from Asia News
Network, The Straits Times,
April 4, 2010, http://www.asianewsnet.net/climate/detail.php?id=109&sec=11.
Diện mạo Cửu Long Giang
“Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ” được vẽ năm 1834 với các chú thích bằng Hán tự do Quốc Sư Quán triều Nguyễn thế kỷ XIX ấn hành. Phan Huy Chú công bố năm 1838 – P.A. Lapicque công bố năm 1939 – “Sách Trắng” về Hoàng Sa và Trường Sa của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa công bố năm 1975.
Sông Cửu Long, mà quốc tế gọi là sông Mekong, là con sông lớn vào hàng thứ 7 của châu Á, hàng thứ 12 của thế giới, phát nguyên từ cao nguyên Tây Tạng, dài 4,909 km, chảy qua lãnh thổ 6 nước: Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cambodia, và đổ nước ra Biển Đông qua 9 cửa thuộc lãnh thổ Việt Nam, là: Đại, Tiểu, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, Ba Lai, Định An, Ba Thắc và Trần Đề. Thực ra, nói 9 cửa là nói chuyện đời xưa, chuyện của thế kỷ 20 trở về trước. Ngày nay, Cửu Long chỉ còn chảy ra 8 cửa. Cửa Ba Thắc (Bassac) đã bị phù sa bồi lấp trong thập niên 1970. Trong tương lai không xa, cửa Ba Lai cũng sẽ không còn. Điều này thấy rõ trên bản đồ vệ tinh của Google.
Sông Cửu Long và lưu vực (vùng màu trắng)
Tại Huế, có con sông đào với tên chính thức là Lợi Nông Hà, dài chừng 20km, được đào dưới đời Gia Long vì lợi ích nông nghiệp, khi chảy qua vùng Bến Ngự thì gọi là sông Bến Ngự, qua Phủ Cam thì gọi la sông Phủ Cam, qua An Cựu thì gọi là sông An Cựu, huống chi đã lớn lại dài hàng ngàn cây số như sông Mekong thì mang nhiều tên cũng không có gì lạ. Bởi vậy, khi chảy trên cao nguyên Vân Nam thuộc Trung Quốc, nó là sông Lan Thương (Lancang Jiang: Lan Thương Giang), khi chảy qua Lào-Thái, nó là Mae Nam Khong, thường gọi là Mae Khong, nghĩa là sông lớn. Chính từ cái tên Lào-Thái này mà người Tây phương khi biết đến nó đã tây-hóa thành Mekong. Đi vào lãnh thổ Cambodia, nó là Tônlé Thum hay Tôn lé Mékôngk (Wikipedia). Từ Phnompenh sông tỏa thêm nhánh phụ là sông Bassac. Nhánh lớn của Mekong đi vào Việt Nam qua ngõ Tân Châu thành Tiền Giang, chảy ra 6 cửa, là Tiểu, Đại, Ba Lai (sắp tắt), Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu; còn nhánh nhỏ Bassac đổ vào Việt Nam tại Châu Đốc làm thành Hậu Giang, chảy ra hai cửa Định An và Trần Đề.
Người Việt Nam nào được cắp sách đến trường đều ít nhiều có học và biết rằng sông Cửu Long là một con sông lớn của nước ta ở phía Nam, xem đó như là một việc đương nhiên và không có ai thắc mắc rằng ai đã đặt tên sông Mekong là Cửu Long Giang? Và cái tên Cửu Long Giang có tự khi nào?
Người có kiến thức lịch sử hẳn sẽ có câu trả lời mau mắn: thì các chúa Nguyễn khi Nam tiến đến vùng đồng bằng Cửu Long bây giờ, vào thế kỷ 17,18, gặp con sông lớn này chảy ra 9 cửa, chẳng khác chi 9 con rồng phóng ra biển cả nên lấy ý đó đặt tên chữ (nho) là Cửu Long giang, chứ còn ai khác nữa?
Nếu câu trả lời này đúng và đơn giản chỉ có thế thì hẳn không có bài viết này.
Nhà Nguyễn biết đến sông Cửu Long tự khi nào?
Chữ “Nhà Nguyễn” tôi dùng ở đây bao gồm cả 9 đời chúa Nguyễn của thế kỷ 17, 18 và 13 đời vua Nguyễn, từ 1802 đến 1945.
Năm 1698 chúa Minh Nguyễn Phúc Chu phái Thống binh Nguyễn Hữu Cảnh vào tổ chức vùng đất mà lưu dân Việt và người Minh Hương đã đến khai phá và lập nghiệp từ trước trên đất Thủy Chân Lạp, lập thành hai đơn vị hành chánh mới là dinh Trấn Biên (Biên Hòa ngày nay) và dinh Phiên Trấn (Gia Định sau này) nhưng triều đình Phú Xuân vẫn chưa làm chủ được Tiền Giang và Hậu Giang. Mãi đến năm 1732, vua Chân Lạp là Nặc Tha nhường đất Mesa và Long Hor (Mỹ Tho và Vĩnh Long ngày nay) cho chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ để trả ơn về việc ủng hộ ngai vàng của ông ta thì hai sông lớn này mới chính thức thuộc về Việt Nam. Tuy nhiên, lưu dân Việt và Minh Hương trước đó mấy mươi năm đã biết nước sông Tiền sông Hậu trong đục thế nào rồi.
Mặc dầu các chúa Nguyễn là những người có công mở rộng và hoàn thành cuộc Nam tiến vào năm 1757, đem lại sông nước phù sa Cửu Long trù phú về cho Việt Nam nhưng chỉ có ông chúa cuối cùng đời thứ 9, Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777), mới là người có biết sông này qua thực địa, trước khi bị Tây Sơn bắt giết ở Long Xuyên vào năm 1777. Nói như thế không có nghĩa ám chỉ Định Vương là người biết sông chảy ra 9 cửa mà đặt tên Cửu Long Giang. Ông bị Tây Sơn đuổi đánh, truy sát rất ngặt và cuối cùng mạng vong, có thì giờ đâu mà nghĩ đến chuyện Cửu Long.
Người kế nghiệp Định Vương là Công tử Nguyễn Phúc Ánh, tức Nguyễn Vương, tức vua Gia Long sau này, có thể nói là người biết tận tường và thực chứng về sông nước Cửu Long hơn ai hết, kể cả tiền bối và hậu duệ, nhờ những năm lặn lội khắp miền Nam trong thời kỳ chống trả và trốn tránh Tây Sơn nhưng ông cũng không phải là người đặt tên Cửu Long Giang, vì việc vua đặt tên cho một nơi nào đó là một việc quan trọng, phải được Quốc Sử Quán ghi vào chính sử. Cứ xem chuyện nhỏ này thì biết: trên Tiền Giang có Cù lao Rồng, ban đầu chỉ là một cái cù lao nhỏ, nhưng “Từ năm Mậu Thân (1788) trở di , cát bồi lên, ngày dần cao lớn, hình như con rồng nằm. Thế Tổ Cao hoàng đế [Gia Long] cho tên là Long Châu, dài chừng 2 dặm, làm la tinh [cái gò chắn ] trấn ngoài thủy khẩu, che giữ trấn sở, chắn át sóng dữ, rõ ràng là một nơi thắng địa.” (Trịnh Hoài Đức, tr.43) Xem thế đủ biết việc vua đặt tên cho một địa phương là chuyện sử sách không bỏ qua được. Thế nhưng…
Nhà Nguyễn không đặt tên Cửu Long Giang
Điều này mới nghe thật vô lý nhưng đó là sự thật.
Điều hiển nhiên và chắc chắn nhất là Nhà Nguyễn đã thủ đắc phần hạ lưu của sông Mekong từ năm 1732 với hai nhánh lớn có tên Tiền Giang và Hậu Giang, và nhà cầm quyền hẳn biết hai nhánh sông này đổ nước ra Biển Đông qua 9 cửa nhưng rõ ràng là Nhà Nguyễn hầu như không đả động gì đến Cửu Long Giang một cách đường hoàng minh mạch như đối với các sông lớn khác của Việt Nam như trong sử sách triều đại đã ghi. Thử lật Đại Nam Nhất Thống Chí — bộ địa-sử quan trọng nhất của triều Nguyễn — ra mà xem. Vắng tanh. Thế nhưng trong cuốn viết về tỉnh Vĩnh Long, mục Sơn xuyên thì thấy ngay hai tên Tiền Giang và Hậu Giang đường hoàng có mặt với mô tả chi tiết. Cả hai sông đều được xếp vào hạng đại giang (sông lớn) và được liệt kê vào Tự điển của triều đình (Tự điển ở đây không có nghĩa dictionary như ngày nay. Tự ở đây là cúng tế. Tự điển là sách ghi chép tên các thần linh của sông núi lớn được triều đình cúng tế hàng năm. Người xưa tin đất có Thổ công, sông có Hà Bá, núi sông lớn đều có thần làm chủ nên phải tôn trọng bằng tế tự để được thần hộ trì cho quốc gia).
Hình Tiền Giang (nhánh dưới )và Hậu Giang(nhánh trên)
được khắc chạm trên Huyền đỉnh trong Đại Nội, Huế (ảnh: Kevin Võ)
Đã thế, năm 1836, khi cho đúc 9 cái đỉnh đồng lớn (Cửu đỉnh) đặt trước Thế miếu trong Đại Nội, Huế, vua Minh Mạng đã cho chạm hình Tiền Giang và Hậu Giang trên Huyền đỉnh. Lại lần giở đến các bộ chính sử như Đại Nam Thực Lục (Tiền biên & Chánh biên) và Đại Nam Liệt Truyện (Tiền biên & Chánh biên) cũng sẽ thấy sự vắng vẻ của cái tên Cửu Long.
Việc Nhà Nguyễn không ghi chép Cửu Long Giang một cách chính thức là điều hữu lý vì Cửu Long là sông của muôn nhà thế giới, chỉ Tiền Giang và Hậu Giang mới thực là của Việt Nam nên mới xứng đáng để ghi chép. Và, tuy không nhắc đến Cửu Long nhưng không có nghĩa là triều đình Huế không biết đến nó.
Nhà Nguyễn và sông Khung (Khung Giang)
Nếu sử sách Nhà Nguyễn không nói gì đến Cửu Long Giang thì lại nhắc nhiều đến tên của một con sông nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam; đó là sông Khung hay Khung Giang. Khung Giang chính là Mekong, là Cửu Long Giang. Khung là nói trại của Khong trong ngôn ngữ Thái-Lào.
Trong Đại Nam Thực Lục chánh biên, (bản dịch, 2004, các tập 2,3,4,5,6,7,8,9) cái tên Khung Giang hay sông Khung được nói đến nhiều lần nhân ghi chép về các sự kiện diễn ra trên địa bàn có sông này chảy qua.
Vào thế kỷ 19 trở về trước, khi người Pháp chưa đô hộ Đông Dương, thì vùng đất trải từ đông bắc Thái Lan đến biên giới Lào Việt hiện nay, trên đó sông Mekong tức sông Khung chảy qua (nhưng chưa phải là ranh giới Lào-Thái như bây giờ) là lãnh thổ của nhiều tiểu quốc khác nhau như Nam Chưởng, Vạn Tượng, Lão Qua, Lạc Hoàn, Mục Đa Hán và nhiều bộ tộc nhỏ khác sống sát biên giới Lào Việt hiện nay. Các tiểu quốc và các bộ tộc này khi thì ngã theo Xiêm khi thì ngã theo Việt, tùy tình hình, và là đầu mối tranh chấp ảnh hưởng của hai nước lớn này. Dưới thời Nhà Nguyễn, nhất là sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước vào năm 1802, họ đều có liên lạc và xin triều cống để được bảo vệ hoặc xin nội thuộc Những nơi xin nội thuộc được vua Minh Mạng Việt hóa thành phủ huyện, như các phủ Trấn Biên và Trấn Định lập năm 1827 ở phía tây Nghệ An, phủ Trấn Man và Trấn Ninh, cũng lập cùng năm, ở phía tây Thanh Hóa. Xin trích dẫn sau đây như một ví dụ điển hình để thấy sông Khung đã xuất hiện trong chính sử Nhà Nguyễn như thế nào:
Năm 1828, “Mục Đa Hán qui phục. Mục Đa Hán ở hai bờ sông Khung Giang, tiếp giáp với Tam Động, Lạc Hoàn và Cam Lộ.[VHA nhấn mạnh] Man trưởng là Phọc Chân Xa cai quản dân bên bờ sông nam, em là Lạt Xà Bông làm Phó man trưởng, cai quản dân bên bờ sông bắc, vẫn bị Xiêm La và Vạn Tượng chèn ép. Năm ngoái, quân Vạn Tượng đến đánh. Phọc Chân Xa đem bộ thuộc chạy sang nước Xiêm, ngụ ở động Yên Sơn. Bèn đem phẩm vật địa phương đến cửa ải xin nội phụ. Trấn thần Nghệ An đem việc tâu lên. Vua [Minh Mạng] đem việc ấy xuống cho bầy tôi bàn.” (Đại Nam Thực Lục, tập 2, tr. 754)
Khi cuộc tranh chấp Việt-Xiêm tới hồi gay cấn, dẫn đến việc phải giải quyết bằng võ lực thì địa bàn sông Khung thuộc trung và nam Lào ngày nay là diễn trường và vì vậy, sông Khung được sử nhắc đến. Chẳng hạn năm 1827, Xiêm đem quân vượt sông Khung đánh nước Vạn Tượng. Vua nước này là A Nộ chống không nổi, chạy về Nghệ An xin tị nạn và cầu cứu triều đình Huế. Vua Minh Mạng cử Thống chế Phan Văn Thúy làm Trấn thủ Nghệ An kiêm Kinh lược binh vụ đại thần, có Phó tướng Nguyễn Văn Xuân và Tham tán Nguyễn Khoa Hào phụ tá, lo việc trấn giữ biên cương và liệu bề giúp đở A Nộ. Tướng Thúy đem 3,000 quân đưa A Nộ về Trấn Ninh. A Nộ lên tinh thần, đem quân tái chiếm Vạn Tượng. Nhưng sau đó, thay vì tìm cách hòa giải với Xiêm, A Nộ lại dại dột gây chiến làm quân Xiêm hiệt hại nặng cả người lẫn khí giới. Vua Minh Mạng được tin, đã xử trí ngay để tránh phải động binh lực, một mặt sai Cai đội Mạc Công Tài ở Hà Tiên đem quốc thư sang Vọng Các để giải thích với vua Xiêm trong tinh thần hòa giải về vụ xung đột và xin tha tội cho A Nộ; mặt khác, sai Cai đội Phan Văn Thống ở Nghệ An đem thư sang Vạn Tượng khiển trách A Nộ, bảo phải xin lỗi tướng Xiêm, trả lại khí giới đã thu được để tái lập hòa khí. ” Đến lúc bọn Phan Văn Thống đến đồn Phô Khâm ở bờ Nam sông Khung Giang , bị tướng nước Xiêm là Thung Vi Sa đánh úp. Thống cùng quân lính 40 người đều chết, duy Lê Đình Luật thì bị đưa sang nước Xiêm.” (Đại Nam Thực Lục, Tập 7, tr. 247)
Người Pháp, sau khi làm chủ 3 tỉnh Miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) đã cử Đại úy Doudart de Lagré làm trưởng và Trung úy Francis Garnier làm phó, cầm đầu một đoàn thám hiểm sông Mekong trong các năm 1866-1868 với mục đích tìm con đường thủy tiện lợi đi vào vùng Hoa Nam. Đoàn thám hiểm khởi hành tại Sài Gòn, ngược sông đi lên Cambodia, rồi Lào và đến Vân Nam năm 1868 (de Lagrée chết bệnh ở đây). Việc này, Đại Nam Thực Lục đời Tự Đức ghi nhận như sau:
Năm 1867, “Vua [Tự Đức] mới nghe tin nước Pháp phái người đến sông Khung Giang, sai các tỉnh đạo phái người do thám, đều về không, không được việc gì, đến nay thổ mục ở Trấn Ninh thuộc tỉnh Nghệ An là Thiệu Ứng đi thám về nói người Pháp đi đến đâu vỗ về hậu đãi nhân dân, người tỉnh Quảng Bình đi thám về nói nói rằng: người Pháp đóng thuyền ở bến sông Khung Giang, chỗ ấy đóng đồn sai canh giữ nghiêm mật, thổ man không dám cho đi.(Khung Giang, sử trước chép là sông Cửu Long, trước là nước Ai Lao, nay thổ man chỗ ấy, đều là bộ lạc cũ, gọi là người Lào) vua cho những lời nói ấy chưa biết hư thực, sai hai xứ Nghệ An, Cam Lộ luôn luôn do thám tâu lên” (Đại Nam Thực Lục, tập 7, tr.1061)
Dưới đời Đồng Khánh (1885-1889), người Pháp đặt nền bảo hộ trên vương quốc Lào. Họ gặp vấn đề biên giới với Xiêm nên muốn biết rõ trong quá khứ Việt Nam đã có những kinh nghiệm như thế nào bèn hỏi triều đình Huế. Vua cho Viện Cơ Mật nghiên cứu và phúc đáp.Viện đã trình lên vua như sau:
“Nước ta cùng với nước Xiêm tiếp giáp, lấy sông Khung làm giới hạn, là có đồ bản cùng sổ sách truyền lại, còn như nguyên trước hai nước có hội đồng lập giới hay không , mờ mịt không có sự tích có thể xét được,các triều kinh lý cũng ít nói đến. Bản triều, sau khi được nước, gián hoặc có cho hàng phục,đặt ra làm phủ, châu, rồi nhân nhiều việc, chế độ cương giới dần bỏ. Nay quan Pháp đến đóng để xem xét, tưởng nên định rõ bờ cõi, mở mang miền thượng du, hoặc có cơ hội, còn các việc định phái quan phủ dụ, xin do các quan tỉnh xem xét người nào am hiểu tình thế các đất Man, trao cho quan hàm, phái đi dò xét, về nên làm thế nào,có thể phủ dụ được người Man, bền vững cương giới của ta, cần phải hết lòng tính toán định liệu.” (Đại Nam Thực Lục, tập 9, tr.424)
Đại khái đấy là một vài trong nhiều trường hợp sông Khung xuất hiện trong chính sử.
Cửu Long Giang với Gia Định Thành Thông Chí và Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ
Khi tìm hiểu cái tên Cửu Long Giang trên …giấy, tôi cảm thấy rất thú vị khi bắt gặp trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của, xuất bản ở Saigon năm 1895, đã có lời giải thích như sau:
–Cửu Long giang: Tên sông ở về phía Vân Nam, thông với sông Không, sông Huình (sic) Hà
Tôi nói “thú vị” vì lần đầu tiên thấy có người minh thị Cửu Long Giang là sông Không tức Khung tức Mekong. Cũng thú vị vì ông nói Cửu Long Giang thông với Huình Hà (Hoàng Hà hay Hồng Hà??). Nếu là Hồng Hà thì tôi nghĩ Paulus Của đã lấy kết quả (sai lầm) từ cuộc thám hiểm Mekong (không tới nơi tới chốn) của de Lagrée và Garnier khi cho rằng Mekong thông với Hồng Hà.
Đến khi đọc kỹ Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và khảo sát Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ thì thấy vấn đề không đơn giản.
Trịnh Hoài Đức 鄭懷德 (1765-1825) là một khuôn mặt lớn của triều Gia Long (1802-1819) và đầu triều Minh Mạng (1820-1841).
Tổ tiên ông là người Phúc Kiến, nhiều đời làm quan Nhà Minh. Khi Nhà Thanh tiêu diệt Nhà Minh, thống trị Trung Hoa, tổ tiên ông đã bỏ nước qua tị nạn ở Đàng Trong và lập nghiệp tại Trấn Biên (Biên Hòa). Mặc dầu cha chết khi mới 10 tuổi nhưng Trịnh Hoài Đức là người thông minh, ham học lại được làm học trò của xử sĩ Võ Trường Toản nên đường học vấn rất tiến bộ. Ông chơi thân với hai bạn đồng môn khác là Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh, họp thành một bộ ba văn học có tiếng đương thời, goị là Gia Định tam gia. Ông theo giúp Nguyễn Vương từ năm 1788, sau khi đậu kỳ thi tuyển. Năm 1794, ông làm Ký lục dinh Trấn Định (Định Tường), rồi thăng Hữu Tham tri Bộ Hộ. Ông có công cung ứng lương thực đầy đủ cho các mặt trận trong các chiến dịch Nguyễn Vương chống Tây Sơn.
Năm 1801 sau khi Nguyễn Vương thu phục được Phú Xuân, Trịnh Hoài Đức được thăng làm Thượng thư Bộ Hộ, cầm đầu sứ bộ sang Trung Hoa, báo cáo việc Nguyễn Vương đã dứt Nhà Tây Sơn, đem ấn tín và sắc phong thu được của Tây Sơn cùng bọn cầm đầu đám cướp biển Tề Ngôi (Tàu Ô) giải nộp Nhà Thanh. Năm 1804, khi sứ Nhà Thanh là Án sát Tề Bố Sum sang tuyên phong vua Gia Long ở Bắc thành, Trịnh Hoài Đức giữ chức Thông dịch sứ của đại lễ.
Ông là người học rộng, thông thạo cả hai nền văn hóa và chính sự của hai nước, lại bản chất trung thành và khiêm tốn nên rất được các vua Gia Long và Minh Mạng tin dùng, các đề nghị của ông thường được nghe theo và cho thi hành. Ông đã hai lần làm Hiệp Tổng trấn Gia Định thành (1808, 1816), đã từng nhiều phen kiêm chức thượng thư hai bộ (Lại và Binh, 1821; Lại và Lễ, 1823), và kiêm giữ nhiều chức quan trọng như coi Khâm Thiên Giám (1812), Phó Tổng tài Quốc Sử Quán (1821),Chánh chủ khảo khoa thi Hội (1822), Tổng tài biên soạn Ngọc phả (1824), làm quan đến nhất phẩm triều đình.
Ông mất năm 1825. Gia Định Thành Thông Chí, là một tác phẩm quan trọng của Trịnh Hoài Đức (đã được dịch ra tiếng Việt), rất giá trị,một nguồn sử liệu phong phú về nhiều mặt (lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội…) không riêng Gia Định-Sài Gòn mà bao gồm cả miền Nam nước Việt từ thuở mới khai hoang. Sách này ông soạn xong dưới triều Gia Long nhưng qua đến đầu triều Minh Mạng mới dâng vua xem và sau đó phổ biến.Trong Gia Định Thành Thông Chí, khi nói về sông Mỹ Tho của trấn Định Tường, ông viết:
“Sông Mỹ Tho [tức Tiền Giang], ở trước trấn, làm sông cái của trấn, phát nguồn từ sông Cửu Long tỉnh Vân Nam của Trung Quốc [VHA nhấn mạnh] chảy nhanh cuồn cuộn, từ bắc mà sang tây, trải qua các nước Lào, tới sông Nam Vang nước Cao Mên , chia làm hai sông Tiền Giang và Hậu Giang, mà chảy xuống phía đông…” (tr.42)
Tiết lộ này làm cho chúng ta phải đặt câu hỏi: do đâu mà Trịnh Hoài Đức biết Tiền Giang, Hậu Giang phát nguồn từ sông Cửu Long tỉnh Vân Nam của Trung Quốc?
Cho đến thời bấy giờ, có lẽ không có ai hiểu biết rành rẽ sự liên hệ Tiền Giang-Hậu Giang-Cửu Long Giang như Trịnh Hoài Đức bởi ông có nhiều lợi thế hơn người: mang trong người hai dòng máu Hoa-Việt, sở hữu hai nên văn hóa, sinh trưởng Miền Nam, hai lần làm quan lớn cai trị Miền Nam, học thức cao, giao du rộng, nhờ vậy có đủ điều kiện hơn người để thu tập tin tức cần biết trong mọi giới.
Hiện nay, khi nói về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông, chính quyền cũng như giới biên khảo và truyền thông đều dẫn Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ (ĐNNTTĐ), do P.A. Lapicque trích từ sách Hoàng Việt Địa Dư Chí của Phan Huy Chú (1782-1840) đời Minh Mạng và in lại trong cuốn A.Propos des Iles Paracels của ông, xuất bản tại Sài Gòn, năm 1929. Hãy tạm gác vấn đề xuất xứ của bản đồ này qua một bên (*), ĐNNTTĐ sở dĩ được viện dẫn như một bằng cớ vững chắc và hùng hồn về chủ quyền của nước ta trên hai quần đảo này vì tên và vị trí của Hoàng Sa và Trường Sa đều được xác định trên bản đồ. Riêng tôi, trên ĐNNTTĐ còn có một thú vị khác, là có vẽ cả Cửu Long Giang cùng Tiền Giang và Hậu Giang. Người Tây phương biết đến sông Mekong khá sớm, vào khoảng thế kỷ 15,16. và đã thể hiện trên các bản đồ của họ, nhưng với Việt Nam, có lẽ ĐNNTTĐ là bản đồ xưa nhất có vẽ các con sông này và đề tên rõ ràng.
Mặc dầu Phan Huy Chú là người học rộng, tác giả của Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, bộ từ điển bách khoa đầu tiên của nước ta, nhưng hiểu biết về miền Nam chắc không thâm hậu như Trịnh Hoài Đức, vả chăng, họ Trịnh cũng là hàng tiền bối đồng triều của ông. Tôi muốn nói khi viết Hoàng Việt Địa Dư Chí cũng như khi vẽ ĐNNTTĐ, hẳn họ Phan phải có sự tham khảo ít nhiều họ Trịnh.
Từ những dữ liệu nêu trên, đến đây, tưởng có thể rút ra một vài kết luận:
-Nhà Nguyễn không nói gì đến Cửu Long Giang mặc dầu rất biết về nó và còn biết nó dưới một tên khác là Khung Giang hay sông Khung. Nhờ vậy, ngày nay ta có thêm nhiều dữ kiện khác trong lịch sử mà từ lâu ít người để ý đến.
-Cái tên Cửu Long Giang là sản phẩm văn hóa của lưu dân Việt-Minh Hương trên bước đường định cư khai phá vùng châu thổ Cửu Long, lấy ý từ 9 cửa sông đổ ra biển mà đặt ra. Cái tên Cửu Long Giang có thể đã xuất hiện vào đầu thế kỷ 18, ngay cả trước năm 1732 (nhưng phải sau thế kỷ 17), khi Việt Nam thủ đắc Vĩnh Long, An Giang.
Tên Cửu Long Giang 九龍江(chỗ mũi tên) trên ĐNNTTĐ
(*) Xem Phạm Hân, Xuất xứ của Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ trên (http://hannom.org.vn/web/tchn/data/9604v.htm#han29)
VÕ HƯƠNG-AN
Tài liệu tham khảo:
http://www.britannica.com/EBchecked/topic/373560/Mekong-River
-Alfred Schreider , Abrégé de l’histoire de l’Annam, http://books.google.com
-Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, bản dịch của Tổ Phiên dịch Viện Sử Học, do Nxb Giáo Dục ấn hành năm 2004, gồm 9 tập.
-Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí, Lục tỉnh Nam Việt, tập hạ, bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Nha Văn Hóa /Bộ Quốc Gia Giáo Dục (Saigon) , 1959
-Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành Thông Chí, bản dịch của Đỗ Mộng Khương và Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nxb Giáo Dục, 1999
-Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Tom I, A-L, Saigon, 1895.
–Việt Nam Administrative Atlas, Nhà xuất bản Bản Đồ, 2005
-Võ Hương-An, Từ Điển Nhà Nguyễn, Nam Việt, California, 2012
SOURCE:
https://khoahocnet.com/2014/09/30/vo-huong-an-cuu-long-giang-ai-da-dat-ten-cho-dong-song-nay/
.