Showing posts with label Môi trường ô nhiễm. Show all posts
Showing posts with label Môi trường ô nhiễm. Show all posts

Sunday, May 14, 2023

THỊ TRẤN LỊCH SỬ Ở LÀO NGHẸT THỞ TRONG KHÓI MÙ ĐỘC HẠI

 (Historical town in Laos chokes under a toxic haze)

Anton L. Delgado and Beatrice Siviero – Bình Yên Đông lược dịch

Mekong Eye – 27 April 2023

 

Ô nhiễm không khí chung quanh Luang Prabang lên đến mức đôc hai sau mùa đốt đồng dài bất thường. [Ảnh: Anton L. Delgado]

 

Luang Prabang, một trong những thị trấn du lịch quan trọng nhất ở Lào, bị ô nhiễm không khí ở mức độ cao trong mùa nầy, mà những người chủ doanh nghiệp nói đã ngăn cản du khách.

 

LUANG PRABANG, LAOS – Bao phủ bởi một màn khói mù dày đặc, chỉ thấy phía bên kia bờ sông Mekong lờ mờ bằng mắt trần.

Ở thị trấn lịch sử Luang Prabang của Lào, ô nhiễm không khí độc hại che mờ những bãi cát của Mekong và xóa đi núi non ở chung quanh.

Những người địa phương thức trắng đêm nheo mắt vì khói mù hy vọng mưa sẽ tẩy sạch không khí độc hại trước lễ hội Năm Mới của Lào nhưng thay vì nước, chỉ có tro từ trên trời rơi xuống.

Kỹ thuật nông nghiệp truyền thống ở Lào dựa vào việc đốt gốc rạ, thường bị cáo buộc làm ô nhiễm không khí.


Nguồn: Mapbox

 

“Chúng tôi mất vài ngày ở trong phòng của khách sạn vì không thể thở ở bên ngoài.  Thật khủng khiếp,” Fenya Elzenhar, một du khách người Đức, nói.  “Chúng tôi đến đây để thụ hưởng thiên nhiên, nhưng chúng tôi không thể nhìn cây cối trước mặt vì khói mù.”

Khói mù ở Đông Nam Á (ĐNA) đang trở thành một đe dọa chết người cho các quốc gia trên khắp vùng, với Lào và vài làng giềng Mekong đang cố gắng thực hiện những bước đầu tiên để đương đầu với vấn đề.

Theo sau một mùa đốt đồng dài bất thường trong năm nay, cuối tháng 3 và đầu tháng 4, trang mạng Chỉ số Phẩm chất Không khí (AQI) báo cáo mức ô nhiễm không khí đôc hại trên khắp Lào khiến cho cư dân và chuyên viên phản đối kịch liệt.  500+ AQI chẳng bao lâu trở thành một đe doa quan trọng cho sứ khỏe công cộng và du lịch.

Sau một mùa đốt đồng dài bất thường trong năm nay, các chỉ số phẩm chất không khí toàn cầu ghi nhận mức ô nhiễm không khí độc hại ở Lào.  Khói mù màu cam đã bao trùm Luang Prabang khiến cho người địa phương phải trốn trong nhà, du khách hủy bỏ các kế hoạch di chuyển và chủ doanh nghiệp phải tìm nguồn thu nhập thay thế.

 

Một người đàn ông đốt một đống rác ở ngoại ô Luang Prabang khi khói mù che khuất núi non ở phía sau. [Ảnh: Anton L. Delgado]

 

Lo ngại đang gia tăng về ảnh hưởng lâu dài mà khói mù theo mùa có thể có đối với Luang Prabang, điểm đến du lịch phổ biến nhất ở Lào.

 

Những ngày mù mịt ở Luang Prabang

Benny Kong Chong Jee hớp ly bia lạnh trong khi những đốm tro nằm trên mặt đất bên ngoài quán cà phê ở Luang Prabang, nơi ông đã sống trong 17 năm qua.  Mãi đến gần đây, gia đình ông sống với ông.  Nhưng điều đó thay đổi với khói mù.

Khi mùa đốt đồng đắt đầu sớm hơn bình thường trong tháng 2, Kong quyết định đưa gia đình trở lại quốc gia quê nhà để có đời sống tốt hơn.

“Vấn đề nầy khiến cho tôi mất ngủ nhiều đêm,” ông nói.  “Đó là một chọn lựa khó khăn, nhưng chúng tôi không muốn khói mù có ảnh hưởng tiêu cực đối với sức khỏe của con cái.”

Trong lúc khói mù tồi tệ nhất trong tháng 3 và 4, Kong ghi nhận ảnh hưởng sâu xa của ô nhiễm không khi đối với 2 khách sạn và cơ quan du lịch mà ông quản lý trong thị trấn.  Ngoài việc mất mát doanh thương từ việc hủy bỏ đặt phòng, kỹ nghê du lịch của thị trấn cũng mất thu nhập từ con số du khách quyết định không viếng thăm Lào vì ô nhiễm không khí, Kong giải thích.

Ngoài ra, khi khói mùa trở nên tồi tệ, du khách đã đến Luang Prabang có khuynh hướng ở trong khách sạn, thay vì khám phá thị trấn và đóng góp vào kinh tế địa phương.

Từ khi việc đốt đồng bắt đầu, Kong đã từ chối quảng cáo tích cực doanh nghiệp của ông.  Khi khách hàng trả tiền cho một sản phẩm hay kinh nghiệm, nó gồm có môi trường, ông nói.  Khách hàng muốn được cái họ chi cho, hay họ sẽ không khuyến khích người khác đến thăm viếng.

“Nay, người dân thấy khó sống hơn, với lạm phát cao và ít cơ hội có việc làm hơn,” ông nói.  “Nếu họ không đốt đồng và bắt đầu làm mùa mới hôm nay, họ sẽ không có đủ thu nhập để sống còn.”


Nông nghiệp chặt và đốt là một phương pháp phổ biến trong nhiều quốc gia trên khắp ĐNA.  Phương pháp truyền thống nầy, đòi hỏi đốt cây cối để tạo nên một lớp đất giàu chất dinh dưỡng, và thường bị cáo buộc làm tồi tệ phẩm chất không khí.

[Ảnh: Anton L. Delgado]

 

Nông nghiệp chặt và đốt, phương pháp canh tác truyền thống đốt cây cối để tạo nên lớp đất giàu dinh dưỡng, thường xảy ra ờ Lào.  Phẩm chất không khí thường giảm trong tháng 3 khi người địa phương đốt đồng của họ để chuẩn bị cho mùa trồng trọt mới. 

Nhưng cái làm cho khói mù khác thường trong năm nay là nông dân bắt đầu đốt đồng vào đầu tháng 2 và tiếp tục đến cuối tháng 4.

Đại dịch và lạm phát cao theo sau của tiền tệ Lào có lẽ kết hơp áp lực lên cộng đồng canh tác trong quốc gia, thường được xếp hạng có GDP thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN.

Mặc dù thừa nhận đốt đồng rất quan trọng đối với nông dân, Phouthala Phouheuanghong, một dân làng 60 tuổi trong làng Xieng Men đối diện với Luang Prabang ngang sông Mekong, tin rằng chánh phủ nên thi hành những quy định rõ ràng để giảm số rừng bị đốt.

“Nhiều người đã cảm thấy khó ở,” Phouhala nói.  “Nó không tệ trước thời Covid, nhưng nay tôi lo ngại rằng nó sẽ tồi tệ hơn trong vài năm tới.”

Khi không khí dày đặc với ô nhiễm từ các đám cháy, cư dân thấy càng ngày càng khó hơn để thở.  Những người đi xe gắn máy để làm việc trong khói mù, độ ẩm và sức nóng thường bị mắt đỏ và chảy nước mắt.

Tuy nhiên, Lào không phải là quốc gia duy nhất chật vật để giải quyêt những lo ngại ô nhiễm môi trường.  Môt vài quốc gia thượng lưu Mekong đã chịu những mùa đốt đồng nghiêm trọng tương tự trong năm nay.

 

Khói mù bao trùm Chiang Mai, trong tháng 3, được xếp hạng là thành phố bị ô nhiễm không khí nhất.  Trong tháng 4, cư dân của thành phố miền bắc Thái nạp đơn kiện chống lại chánh phủ Thái, đòi hỏi ‘quyền có không khí sạch’. [Ảnh: Anton L. Delgado]

 

Mức ô nhiễm không khí trên khắp miền bắc Thái Lan, nhất là các thành phố chẳng hạn như Chiang Mai, đạt đến mức độc hại trong năm nay, cư dân cùng nhau kiện thủ tướng Thái và các cơ quan chánh phủ khác, đòi hỏi “quyền có không khí sạch” của họ.

Các quốc gia láng giềng thường chỉ tay tong vấn đề khói mù xuyên biên giới, nhưng một thỏa thuận hợp tác mới giữa Myanmar, Thái Lan và Lào có thể giải quyết điều đó.

Vào đầu tháng 4, lãnh đạo của 3 quốc gia đã gặp nhau để thảo luận vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới và đồng ý giảm phương pháp chặt và đốt trong vùng biên giới, cũng như đương đầu với viêc đốt rác và cung cấp những phương tiện hiện đại để đổ rác thích hợp.

Ở Lào, khói mù đã ảnh hưởng tất cả 11 huyện của quốc gia, theo một viên chức huyện Luang Prabang, được yêu cầu dấu tên vì lý do an ninh.  Nhưng Nha Môi trường và Nông nghiệp đang làm việc để giải quyết vấn đề bằng cách tăng cường cộng tác với các cộng đồng địa phương, ông giải thích.

“Năm nay, khói mù tồi tệ hơn năm ngoái rất nhiều vì người dân cần đốt đồng nhiều hơn cho mục đích nông nghiệp,” viên chức nói.  “Nhưng chúng tôi biết không khí như thế nầy đầu độc mọi đời sống, bao gồm thú vật lẫn con người.”

.

Sunday, October 23, 2022

CÁC TRẠI NUÔI HEO Ở VIỆT NAM LÀ ÁC MỘNG MÔI TRƯỜNG

 (Vietnam’s pig farms an environmental nightmare)

Vo Kieu Bao Uyen – Bình Yên Đông lược dịch

Mekong Eye – 10 October 2022

 

Đàn bà ở xã Phú An đang chịu mùi hôi thối từ các hố nước thải lộ thiên của các trại nuôi heo nằm ngay trong làng của họ. [Ảnh: Vo Kieu Bao Uyen]

 

Trong khi quốc gia gia tăng việc sản xuất heo, môi trường, và người dân, đang trả một cái giá cao.

ĐỒNG NAI, Việt Nam – Bây giờ là tháng 3 và Nguyễn Thị Bông đã than phiền về mùi hôi của phân heo trong làng số 5 của xã Phú An từ nhiều năm nay.  Bà và một nhóm đàn bà khác trong cộng đồng ở tỉnh Đồng Nai, ở miền nam Việt Nam, đã có đủ và họ muốn chánh quyền địa phương biết.

Trong năm 2014, trại nuôi heo 10.000 con và một loạt hố nước thải lộ thiên xuất hiện cạnh nhà bà trong tỉnh được biết như “thủ đô heo của Việt Nam.”  Ao cá gần nhà bà chẳng bao lâu trở nên đen ngòm vì nước thải từ trại.  Trong khi đàn ông và người trẻ trong làng đi học hay đi làm ở đồng ruộng xa nhà, những người đàn bà trung niên làm việc ở nhà như Bông chịu trực tiếp hầu hết ô nhiễm nầy.

Trại nuôi heo đã phủ kín không khí trong lành trong một vùng thôn quê bao quanh bởi đồi núi gần cao nguyên.  Nhưng làng của Bông không chỉ là cộng đồng duy nhất bị nghẹt thở vì chất thải của heo.  Có hàng trăm làng như thế ở Đồng Nai, cũng như trên khắp Việt Nam, quốc gia tiêu thụ heo đứng thứ nhì ở Á Châu sau Trung Hoa.

Dân số heo bùng nổ không đi theo với khả năng đổ bỏ chất thải gia tăng, đe dọa môi trường tự nhiên, sức khỏa và cuộc sống của người địa phương.

 

Cái giá của dân số hóa heo

Khi Bông còn nhỏ, heo là một biểu tượng của giàu có: bà thường phải chờ đến Tết Âm lịch để thưởng thức một vài miếng thịt.  Nhưng nay mọi thứ đã thay đổi.

Sau 3 thập niên cải tổ kinh tế do chánh phủ cầm đầu được gọi là Đổi Mới, thịt heo có nhiều trong các bữa ăn Việt Nam, kể cả trong các món ăn mà công thức truyền thống chỉ có cơm và rau cải.

Theo Bộ Y tế, số lượng thịt trung bình tiêu thụ bởi người Việt Nam đã gia tăng 10 lần, từ dưới 14 g một người một ngày trong năm 1985 đến gần 140 g một người một ngày trong năm 2020.  Thịt heo chiếm trên 70% thịt tiêu thụ mỗi năm với 3,8 triệu tấn.

Một nghiên cứu của Tiến sĩ Arve Hansen ở Trung Tâm Phát triển và Môi trường của Đại học Oslo (Norway) cho thấy rằng cả phát triển kinh tế và những thay đổi trong lề lối lương thực là những chất xúc tác thúc đẩy người Việt Nam ưa thích thịt.

Quan trọng đặc biệt là sự biến chuyển từ mô hình canh tác thâm canh truyền thống sang sản xuất gia súc tập trung sau khi chánh sách Đổi Mới được thi hành.  Chánh sách đổi mới gia súc gia tăng con số trại nuôi heo lớn lao.

Kết quả là, nguồn cung cấp ở trong nước trở nên phong phú, góp phần vào việc bình thường hóa thịt trong đời sống hàng ngày.

“Điều nầy có những hệ quả lớn lao cho tất cả gia đình, nay có thể tiếp xúc với thịt dễ dàng hơn các thế hệ trước đây,” Hansen nói trong một cuộc phỏng vấn trên mạng.

Tổng cục Thống kê của Việt Nam cho thấy đàn heo sau 20 năm đã gấp đôi từ khoảng 16 triệu trong năm 1995 đến trên 30 triệu trong năm 2016.  Do bệnh cúm heo Phi Châu và đại dịch Covid-19, con số hiện nay khoảng 28 triệu.

Theo Sở Nghiên cứu Kinh tế của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (US Department of Agriculture (USDA)), Việt Nam là quốc gia sản xuất thịt heo lớn thứ nhì ở Á Châu sau Trung Hoa và là quốc gia sản xuất thịt heo lớn thứ 6th trên thế giới.  Phần lớn sản phẩm được cung cấp cho nhu cầu ở trong nước, nhưng một số ít được xuất cảng sang các thị trường chẳng hạn như Trung Hoa lục địa và Hong Kong.

“Nhưng theo sau việc đi lên của kỹ nghệ thịt, có những vấn đề khá rõ ràng ở dạng, đất, nước và ô nhiễm không khí, nhất là trong trường hợp chất thải không kiểm soát từ các trại lớn,” Hansen nói thêm.


Số lượng chất thải khổng lồ

Đánh giá của Hansen phù hợp với thực tế hiện nay.  Nhiều thịt heo trên bàn ăn có nghĩa là nhiều chất thải gia súc trong môi trường chung quanh.  Trong nhiều năm nay, chánh quyền đã cấm một loạt trại nuôi heo vì vi phạm việc đổ bỏ chất thải.

Báo chí ở trong nước đã tường trình liên tục rằng các trại nuôi heo đã làm nghẹt sông, suối, ngay cả đe dọa các sông lớn đang cung cấp nước cho hàng triệu người, kể cả thành phố Hồ Chí Minh, khu đô thị lớn nhất của Việt Nam.

Nghiên cứu được công bố trong năm 2017 bởi Ngân hàng Thế giới cho thấy rằng nuôi heo sản xuất tỉ lệ chất thải cao nhất, khiến cho mức ô nhiễm trong việc sản xuất gia súc cao hơn các loại khác ở Việt Nam.  Trong khi đó, các trại nuôi heo vẫn tập trung phần lớn trong các vùng đông dân trên khắp Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam.

Heo góp giá trị cao nhất vào kỹ nghệ gia súc ở Việt Nam, nhưng gần ½ phân của chúng, không được xử lý, được xả trực tiếp vào môi trường, chiếm tỉ lệ cao nhất của chất thải được sản xuất bởi gia súc của quốc gia.


Không như gia súc khác, chất thải của heo không chỉ được xem như phân và nước tiểu.  Nó cũng gồm có nước thải từ việc làm mát heo và chùi rửa chuồng.  Khí hậu nhiệt đới của Việt Nam thường đổ mồ hôi, vì thế số nước đáng kể được thải ra từ 2 hoạt động nầy.

Theo dự án Hỗ trợ Nông nghiệp Carbon Thấp (Low Carbon Agriculture Support project (LCASP)) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nông dân thường dùng khoảng 30-40 l nước cho mỗi con heo một ngày để làm mát và tắm.  Mỗi năm, kỹ nghệ heo sản xuất khoảng 300 triệu m3 nước dơ.

Con số nầy, theo một phúc trình năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chiếm khoảng 66% tổng số khối lượng nước thải được sản xuất bởi kỹ nghệ gia súc.

LCASP cứu xét việc sử dụng thái quá nước ngọt là lý do chánh của ô nhiễm trong thành phần nầy.  Các trại không thể đương đầu với khối lượng nước thải khổng lồ bằng cách tưới hoa màu.  Họ cũng không thể vận chuyển nó đến các vùng nông nghiệp khác để canh tác hay nuôi thủy sản vì mùi hôi của nó.

 XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Tuesday, October 30, 2018

Cà Mau: Mỗi năm mất từ 400-500ha rừng phòng hộ, do đâu?



Thứ Bảy, ngày 27/10/2018

Hằng năm tỉnh Cà Mau mất khoảng 400 – 500ha rừng phòng hộ do sạt lở. Cá biệt, trong vòng khoảng 1 năm, điểm sạt lở tại cửa biển Hố Gùi (huyện Năm Căn) bị sóng biển đánh mất đến 200m đất, ăn sâu vào đất liền.
Ngày 12.10, đoàn công tác do ông Cao Đức Phát - Phó Trưởng Ban Kinh tế T.Ư làm Trưởng đoàn có buổi làm việc với Tỉnh ủy Cà Mau về việc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 24 của Ban Chấp hành T.Ư Đảng về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu (BĐKH), tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh này.
Tại buổi làm việc, ông Nguyễn Tiến Hải - Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cho biết: Tình hình BĐKH, nước biển dâng ảnh hưởng tới địa phương ngày càng nhanh, mạnh hơn và tác động trên diện rộng hơn. Nghiêm trọng nhất là tỉnh trạng sạt lở bờ biển, bờ sông.

Đoàn công tác của cũng đã đi khảo sát thực tế đoạn sạt lở ven biển nghiêm trọng từ cống Hương Mai đến cống Tiểu Dừa thuộc huyện U Minh. Ảnh: CTV.

Cũng theo ông Hải, diễn thế rừng ngập mặn Cà Mau không còn đúng theo đúng quy luật nữa; cây rừng không thể tái sinh, lấn biển mà diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp. Hằng năm tỉnh Cà Mau mất khoảng 400 – 500ha rừng phòng hộ do sạt lở. Cá biệt, trong vòng khoảng 1 năm, điểm sạt lở tại cửa biển Hố Gùi (huyện Năm Căn) bị sóng biển đánh mất đến 200m đất, ăn sâu vào đất liền.
Thực tế, BĐKH đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến đông đảo đời sống người dân địa phương. Để chủ động ứng phó với tỉnh hình này, tỉnh Cà Mau đã quy hoạch lại dân cư, quy hoạch lại sản xuất nhưng gặp khó về nguồn lực.
Theo UBND tỉnh Cà Mau, hỗ trợ từ T.Ư cho BĐKH còn nhỏ giọt, không đáp ứng được yêu cầu. Trong việc ứng phó sạt lở bờ biển, cần làm đồng bộ nhưng hiện nay chỉ tiến hành làm từng đoạn, mà làm đoạn này thì sạt điểm kia. Chính phủ đã có lộ trình cấm khai thác nước ngầm, nhưng thực tế tại Cà Mau chỉ có nước ngầm để dùng, nếu cấm thì gây ra nhiều khó khăn. Chương trình ngọt hóa bán đảo Cà Mau cần đẩy nhanh thực hiện để cung cấp nước ngọt cho địa phương.
Mỗi năm tỉnh Cà Mau mất từ 400-500ha rừng phòng hộ do sạt lở. Ảnh: TH.

Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cũng kiến nghị, cần có cơ chế cần thông thoáng hơn. Trong đó, có những việc cần mạnh dạn giao việc cho địa phương thực hiện, như việc cho chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Ông Cao Đức Phát đánh giá cao công tác thực hiện thực hiện Nghị quyết số 24 của Ban Chấp hành T.Ư Đảng về chủ động ứng phó BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của tỉnh Cà Mau.
Ông Phát cho biết: Qua khảo sát thấy rõ tác động BĐKH ảnh hưởng rất lớn tới Cà Mau. Thời gian qua, bằng nhiều nguồn lực Cà Mau đã đã thực hiện nhiều giải pháp chủ động ứng phó. Địa phương đã dùng nhiều nguồn lực để đảm bảo việc chống xói lở bờ biển, đe dọa khu dân cư, đảm bảo người dân yên tâm sản xuất. Công tác tăng cường quản lý tài nguyên, công tác bảo vệ môi trường địa phương này cũng đã thực hiện tốt.
“Thời gian tới những vấn đề về môi trường như vấn đề ô nhiễm nguồn nước, không khí cần được quan tâm hơn. Không chỉ Trung ương mà địa phương cần hành động quyết liệt hơn nữa để không biến đông rơi vào tình thế khó trước diễn biến BĐKH. Để ứng phó BĐKH, đầu tiên vẫn phải là người dân. Phải làm cho mỗi người dân hiểu rõ và thực hiện việc ứng phó ngay tại nhà mình, trên phần đất gia đình mình” - ông Phát lưu ý.
Về những kiến nghị của địa phương, ông Phát cho biết, sẽ báo cáo Bộ Chính trị chỉ đạo các Bộ ngành T.Ư tháo gỡ cho địa phương.

Ngọc Quyên 
Source: