Showing posts with label Khí tượng Thủy văn. Show all posts
Showing posts with label Khí tượng Thủy văn. Show all posts

Friday, October 27, 2023

HẠN HÁN KHÍ TƯỢNG VÀ THỦY HỌC TRONG LƯU VỰC SÔNG LANCANG-MEKONG: LỀ LỐI KHÔNG GIAN-THỜI GIAN VÀ LAN TRUYỀN

(Meteorological and Hydrological Droughts in the Lancang-Mekong River Basin: Spatiotemporal Patters and Propagation)

 

Xuan Luo, Xian Luo, Wenting Ming, Lin Wang, Xin Xiao, Jianan Xu, Yue Liu and Yungang Li – Bình Yên Đông lược dịch

Atmospheric Research – 5 July 3023

 

Sông Mekong khô cạn vì hạn hán. [Ảnh: Firstpost]

 

1. Phần giới thiệu

Hạn hán là khí hậu cực đoan phát triển chậm, lan rộng và kéo dài, ảnh hưởng sâu đậm đến việc phát triển nông nghiệp, kinh tế xã hội, và môi trường sinh thái (Mishra and Singh, 2010; Zhang et al., 2022c).  Hạn hán thường được chia làm 4 loại: hạn hán khí tượng (meteorological drough (MD)), hạn hán nông nghiệp (agricultural drought (AD)), hạn hán thủy học (hydrological drought (HD)), và hạn hán xã hội-kinh tế (social-economic drought (SED)) (Wilhite and Glantz, 1985).  Những loại hạn hán khác nhau được công nhận tác động qua lại lẫn nhau (Van Loon and Van Lanen, 2012; Guo et al., 2020).  MD được gây ra vì thiếu mưa và thường biến thành HD hay AD qua chu kỳ thủy học, khiến không có đủ nguồn nước để dùng cho môi trường (Ma et al., 2019; Zhou et al., 2021a).  Trong số những loại hạn hán nầy, HD, được ám chỉ như thiếu hụt nước mặt và nước ngầm (Mishra and Singh, 2010; Van Loon, 2015), là loại hạn hán gay gắt nhất vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thủy nông, kỹ nghệ, và việc cung cấp nước (Zhu et al., 2016; Bhardwa et al., 2020).  Hiểu được những đặc tính  không gian-thời gian của MDs và HDs, gồm có những cơ chế lan truyền của chúng, vô cùng quan trọng cho việc quản lý nguồn nước.

Một vài nguyên cứu đã giới thiệu nhiều chỉ số hạn hán khác nhau để theo dõi sự xảy ra và lan truyền của hạn hán.  Thí dụ, chỉ số mưa tiêu chuẩn hóa (standardized precipitation index (SPI)) (McKee et al., 1993) và chỉ số mưa bốc thoát hơi tiêu chuẩn hóa (standardized precipitation evapotranspiration (SPEI)) (Vicente-Serrano et al., 2010) là 2 chỉ số MD đại diện, có thể được dùng để nghiên cứu hạn hán cho nhiều qui mô thời gian khác nhau.  Theo đường lối tính toán của SPI, chỉ số chảy tràn tiêu chuẩn hóa (standardized runoff indes (SRI)) (Shukla and Wood, 2008) và chỉ số dòng chảy tiêu chuẩn hóa (standardized streamflow index (SSI)) (Vincente-Serrano et al., 2012) được dùng rộng rãi để theo dõi HD.

Một số nghiên cứu đã điều tra những đặc tính lan truyền từ MD đến HD trong những thập niên qua, gồm có mức lan truyền, thời gian từ lúc bắt đầu đến lúc chấm dứt (lag time), và thời gian đáp ứng (response time) (Zhang et al., 2021c).  Các mô hình thống kê thường không thể thiếu để nghiên cứu sự lan truyền của hạn hán.  Thí dụ, lý thuyết chạy (run theory) (Ho et al., 2021; Wu et al., 2021b), phân tích liên hệ (correlation analysis) (Barker et al., 2016), và các phương pháp đáp ứng không thẳng hàng (nonlinear response) (Wu et al., 2017a), phân tích sóng lăn tăn (wavelet analysis) (Huang et al., 2017. và mô hình Copula and Baysesian (Sattar and Kim, 2018).  Ngoài các mô hình thống kê, các phương pháp mô phỏng thủy học rất hữu ích để đánh giá sự lan truyền của hạn hán (Ma et al., 2019; Wang et al., 2019b; Wu et al., 2019; Zhang et al., 2022c).  Nói chung, những nghiên cứu nầy hầu hết dựa trên quan sát thước nước; tuy nhiên, dữ kiện quan s thường không có sẵn ở những nơi hiếm dữ kiện.  Do đó, dữ kiện tái phân tích toàn cầu có thể dùng để thay thế trong việc phân tích lan truyền của hạn hán (Ding et al., 2021).

Khi MD tiến đến HD qua chu kỳ thủy học trên mặt đất, các yếu tố thời tiết và đặc tính của lưu vực cùng có trách nhiệm cho mối liên hệ nầy (Van Loon, 2015; Van Loon and Laaha, 2015).  Vai trò của những yếu tố quyết định tùy thuộc nặng nề vào kích thước của qui mô không gian.  Trên toàn cầu, HD có thể liên quan nhiều đến điều kiện khí hậu hơn các đặc tính của lưu vực (Van Loon and Laaha, 2015).  Tuy nhiên, ở qui mô khu vực, nơi khí hậu tương đối đồng nhất, các đặc tính của lưu vực có ảnh hưởng đáng chú ý đến sự lan truyền của HD (Barker et al., 2016; Valiya Veettil and Mishra, 2020; Konapala and Mishra, 2020; Wu et al., 2021a).  Trong các lưu vực bị xáo trộn, những hoạt động của con người như làm đầy các hồ chứa nước, chuyển nước, dẫn tưới đất, và thay đổi cách sử dụng đất đã chúng minh là những yếu tố quan trọng và không thể bỏ qua trong việc xác định sự lan truyền của HD (Wu et al, 2018a; Wang et al., 2019b; Ma et al., 2019; Wu et al., 2019; Yang et al., 2020).

Sông Lancang-Mekong (LMR) được biết như một Thủy lộ Vàng nối liền Trung Hoa và Đông Nam Á (ĐNA), và lưu vực của nó là nơi cư trú của 65 triệu người (Sabo et al., 2017).  Khoảng 60% của dân số Mekong dựa vào nông nghiệp để sống còn, và hạn hán tái diễn đe dọa an ninh nước và lương thực trong lưu vực nầy.  Lưu vưc sông Lancang-Mekong (LMRB) đã trải qua nhiều trận hạn hán nghiêm trọng và kéo dài trong 20 năm qua (Tran et al., 2019; Loc et al., 2021; Kang et al., 2021).  Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng thay đổi khí hậu sẽ gia tăng tần suất và tính nghiêm trọng của hạn hán trong LMRB trong tương lai (Dong et al., 2022; Kang et al., 2022; Li et al., 2021a; Thilakarathne and Sridhar, 2017); tuy nhiên, sự lan truyền của hạn hán từ MD đến HD vẫn chưa rõ.  Trong  nghiên cứu nầy, chúng tôi thực hiện một đánh gia qui mô tiểu khu vực của sự lan truyền hạn hán trong LMRB và mối liên hệ của nó với khí hậu và những đặc tính của khu vực.  Mục đích là (1) xác định và phân tích những đặc tính không gian-thời gian của MDs và HDs, (2) xác định thời gian lan truyền hạn hán (DPT) từ MD đến HD, và (3) thăm dò các yếu tố tiềm tàng ảnh hưởng đến DPTs.  Kết quả có thể đưa đến một nhận thức tốt hơn về cơ chế lan truyền hạn hán và làm dễ dàng hơn việc quản lý nguồn nước của LMRB.

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Sunday, October 1, 2023

SÁU QUỐC GIA MEKONG NẮM TAY ĐỂ GIẢI QUYẾT THAY ĐỔI KHÍ HẬU

(Six Mekong countries join hands in settle climate change)

Vietnam Investment Review – Bình Yên Đông lược dịch

September 20, 2023

 

Sông Mekong trong tỉnh Nakhon Phanom của Thái Lan. [Ảnh: VNA]

 

Sáu quốc gia dọc theo sông Mekong – Cambodia, Trung Hoa, Lào, Myanmar, Việt Nam và Thái Lan – đã cam kết làm việc với nhau để đương đầu với các vấn đề thay dổi khí hậu, theo Surasee Kittimonthon, Tổng Thư ký của Văn phòng Quốc gia Thủy lợi (ONWR) của Thái Lan.

Bangkok – Sáu quốc gia dọc theo sông Mekong – Cambodia, Trung Hoa, Lào, Myanmar, Việt Nam và Thái Lan – đã cam kết làm việc với nhau để đương đầu với các vấn đề thay đổi khí hậu, theo Surasee Kittimonthon, Tổng Thư ký của Văn phòng Quốc gia Thủy lợi (ONWR) Thái Lan.

Surasee nói ONWR đại diện cho Thái Lan trong các phiên họp của của Diễn đàn Hợp tác Nguồn nước Lancang-Mekong và Hội nghị Nước Thế giới thứ 18th ở Beijing (Bắc Kinh) vào ngày 10-13 tháng 9.

Cùng hiện diện trong các phiên họp là các viên chức cap cấp từ sáu quốc gia thành viên của Hợp tác Lancang-Mekong (LMC).  Sông Mekong dài 4.880 km và nuôi dưỡng 235 triệu người trong những quốc gia đó.

Viên chức Thái nói rằng các phiên họp được tổ chức để trao đổi kiến thức và kỹ thuật, cũng như trình bày thành tích của các dự án được quỹ đặc biệt LMC tài trợ.  Các phiên họp cũng báo cáo tiến bộ của việc trao đổi ý tưởng qua việc hợp tác quản lý nước Lancang-Mekong giữa các quốc gia thành viên.

Tại phiên họp, Thái Lan nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các quốc gia thành viên trong việc quản lý nguồn nước qua mỗi cơ chế của xã hội gồm có các cơ quan nhà nước, tư nhân và các thành phần xã hội dân sự, hay các tổ chức của phụ nữ và giới trẻ để đương đầu với ảnh hưởng của thay đổi khí hậu chẳng hạn như lũ lụt, hạn hán và nhu cầu nước ngọt gia tăng.

Ông nói Thái Lan đã đề nghị một kế hoạch quản lý nước dựa trên kế hoạch quản lý nước 20 năm của quốc gia nhằm thực hiện vệc quản lý khả chấp nước theo Nghị trình Phát triển Khả chấp 2030 của Liên Hiệp Quốc.

Ngoài ra, Surasee nói các quốc gia thành viên cũng đồng ý nghiên cứu hỗn hợp giai đoạn 1 giữa Ủy hội Sông Mekong (MRC) và LMC để lót đường cho việc chia sẻ tin tức tốt hơn về dòng chảy và việc xả nước trong việc điều hành hồ chứa nước trên Mekong cũng như các giải pháp để làm giảm ảnh hưởng, hạn hán và lũ lụt, dọc theo nhiều nơi trong các quốc gia ở hạ lưu.

Surasee tiết lộ rằng một nhóm chuyên viên hỗn hợp sẽ được thiết lập để thực hiện các nghiên cứu.  Cũng sẽ có một cuộc khảo sát hỗn hợp Lancang-Mekong để nghiên cứu ảnh hưởng đối với các cộng đồng sống ven sông, ông nói thêm.

Thursday, August 30, 2018

Miền Bắc mưa rất to tiếp tục kéo dài hết 31/8, Hà Nội mưa kèm giông, tố


HOÀNG NAM | 30/08/2018 07:30 



Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia cho biết, từ ngày 30 đến hết ngày 31/8, mưa to tập trung ở khu vực Tây Bắc, miền núi phía Bắc (70-120mm/24 giờ), riêng các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai mưa rất to (100-150mm/24 giờ).

Ngày và đêm 30/8 là cao điểm của đợt mưa lớn do ảnh hưởng của rãnh áp thấp hoạt động mạnh với vùng xoáy thấp phát triển từ tầng thấp đến 5.000m. Vùng núi Bắc Bộ và tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục có mưa vừa, mưa to (lượng mưa phổ biến 50-100mm/24 giờ). 

Riêng khu vực Đồng bằng, Trung du Bắc Bộ và các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Phú Thọ, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An có mưa to đến rất to (80-150mm/24 giờ).
Tỉnh đến 1 giờ ngày 30/8, lượng mưa phổ biến trong khoảng 50-100mm, có nơi cao hơn như Việt Trì (Phú Thọ) 107mm, ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) 142mm, Cầu Sơn (Bắc Giang) 202mm, Lục Nam (Bắc Giang) 133mm Quảng Hà (Quảng Ninh) 166mm,...

Sáng 30/8, khu vực các tỉnh Lai Châu, Lào Cai và Hòa Bình đã có mưa to.
Lượng mưa đo được trong 2 giờ tại Than Uyên 32mm, Tân Lạc 25mm, Văn Bàn 13mm…trong sáng 30/8, các khu vực Lai Châu, Lào Cai, Hòa Bình, Thanh Hóa sẽ có mưa vừa, mưa to với lượng từ 20-40mm.

Lũ quét và sạt lở đất có nguy cơ cao xảy ra tại tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hòa Bình, Thanh Hóa đặc biệt là ở huyện Than Uyên (Lai Châu), Văn Bàn (Lào Cai), Tân Lạc (Hòa Bình), Mường Lát và Quan Hóa (Thanh Hóa). Cảnh báo cấp độ rủi ro thiên tai cấp hai.

Ngày 30/8, phía Tây Bắc Bộ nhiều mây, có mưa vừa, mưa to, riêng Sơn La-Hòa Bình có mưa to đến rất to và rải rác có giông. Gió nhẹ. Trong cơn giông có khả năng xảy ra tố, lốc và gió giật mạnh.
Độ ẩm từ 75-100%. Nhiệt độ thấp nhất từ 22-25 độ C, cao nhất 26-29 độ C.

Phía Đông Bắc Bộ nhiều mây, có mưa vừa, mưa to, riêng khu vực Đồng bằng và Trung du có mưa to đến rất to và rải rác có giông. Gió nhẹ.
Trong cơn giông có khả năng xảy ra tố, lốc và gió giật mạnh. Độ ẩm từ 72-100%. Nhiệt độ thấp nhất từ 23-26 độ C, cao nhất 27-30 độ C.

Thủ đô Hà Nội nhiều mây, có mưa vừa đến mưa to, có nơi mưa rất to và rải rác có giông. Gió nhẹ. Trong cơn giông có khả năng xảy ra tố, lốc và gió giật mạnh. Độ ẩm từ 75-100%. Nhiệt độ thấp nhất từ 24-27 độ C, cao nhất 26-29 độ C.

Các tỉnh từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên-Huế nhiều mây, phía Bắc (Thanh Hóa-Nghệ An) có mưa to đến rất to và rải rác có giông; phía Nam có mưa rào và giông rải rác. Trong cơn giông có khả năng xảy ra tố, lốc và gió giật mạnh.
Gió Tây Nam cấp 2-3. Độ ẩm từ 68-100%. Nhiệt độ thấp nhất từ 24-27 độ C, cao nhất 27-30 độ C, phía Nam 30-33 độ C.

Các tỉnh, thành phố từ Đà Nẵng đến Bình Thuận mây thay đổi, ngày nắng, có nơi có nắng nóng, chiều tối và đêm có mưa rào và giông vài nơi. Gió Tây Nam cấp 2-3. Độ ẩm từ 55-95%. Nhiệt độ thấp nhất từ 25-28 độ C, cao nhất 32-35 độ C, có nơi trên 35 độ C.

Khu vực Tây Nguyên mây thay đổi, có mưa rào và dông vài nơi, chiều tối có mưa, mưa rào rải rác và có nơi có giông. Gió Tây Nam cấp 2-3.
Trong cơn giông có khả năng xảy ra tố, lốc và gió giật mạnh. Độ ẩm từ 65-98%. Nhiệt độ thấp nhất từ 21-24 độ C, cao nhất 28-31 độ C, có nơi trên 31 độ C.

Khu vực Nam Bộ mây thay đổi, ngày nắng, chiều tối và đêm có mưa rào và giông vài nơi. Gió Tây Nam cấp 2-3. Độ ẩm từ 60-98%. Nhiệt độ thấp nhất từ 24-27 độ C, cao nhất 31-34 độ C.

Trên biển, rãnh áp thấp có trục ở khoảng 20-23 độ vĩ Bắc. Gió mùa Tây Nam có cường độ trung bình thịnh hành trên khu vực Biển Đông gây mưa rào và giông rải rác trên khắp các khu vực.

Riêng khu vực vịnh Bắc Bộ có gió Tây Nam đến Nam cấp 5, có lúc cấp 6, giật cấp 7. Biển động. Trong cơn dông có khả năng xảy ra lốc xoáy./.