Sunday, October 24, 2021

ĐẬP DO TRUNG HOA TÀI TRỢ Ở CAMBODIA HỦY HOẠI SINH KẾ CỦA HÀNG CHỤC NGÀN: PHÚC TRÌNH


(China-financed Cambodia dam destroyed livelihoods of tens of thousands: Report)

 

AFP, Phnom Penh – Bình Yên Đông lược dịch

AlarabiyaNews – 10 August 2021

Toàn cảnh của đập thủy điện Hạ Sesan 2 có công suất 400 MW trong lễ khánh thành trong tỉnh Stung Treng. [Ảnh: AFP]

 

Một đập khổng lồ do Trung Hoa tài trợ ở Cambodia đã “cuốn trôi sinh kế” của hàng chục ngàn dân làng trong khi không sản xuất đủ năng lượng được hứa hẹn, Human Rights Watch (HRW) (Theo dõi Nhân Quyền) cho biết hôm Thứ Ba.

Đập Hạ Sesan 2 có công suất 400 MW ở vùng đông bắc của vương quốc đã châm ngòi viêc tranh cãi rất lâu trước khi được phát động trong tháng 12 năm 2018.

Các chuyên viên thủy sản đã cảnh báo rằng việc ngăn đập ở hợp lưu của Sesan và Srepok – 2 phụ lưu quan trọng của sông Mekong giàu tài nguyên – sẽ đe dọa số cá rất cần cho hàng triệu người sống dọc theo các đồng lụt của Mekong.  Hàng chục ngàn dân làng sống ở thượng và hạ lưu đã mất nhiều thu nhập, HRW cho biết trong một phúc trình hôm Thứ Ba, trích các cuộc phỏng vấn được thực hiện trong 2 năm với khoảng 60 người từ các cộng đồng khác nhau.

“Đập Hạ Sesan 2 đã cuốn trôi sinh kế của người bản địa và các công đồng sắc tộc thiểu số mà trước đây sống tập thể và gần như tự túc bằng việc đánh cá, đi rừng và canh tác,” John Sifton, giám đốc vận động và tác giả của phúc trình, nói hôm Thứ Ba.

“Giới chức Cambodia cần phải tái xét nhanh chóng việc bồi thường, tái định cư và các phương pháp phục hồi sinh kế của dự án.”

“Không còn nghi ngờ gì nữa là (đập) đã đóng góp đáng kể vào các vấn đề lớn hơn mà Mekong đang đối mặt hiện nay,” Brian Eyler, chuyên viên nước và năng lượng Mekong, nói trong lúc thêm rằng cần có thêm nghiên cứu về những mất mát thật sự.

Chánh phủ đã tiến hành dự án – liên quan đến việc tái định cư khoảng 5.000 người – với hy vọng để sản xuất khoảng 1/6 số điện Cambodia cần mỗi năm như nhà xây cất China Huaneng Group (Tổ hợp Huaneng Trung Hoa) hứa hẹn.

Nhưng mức sản xuất “có lẽ thấp hơn nhiều, chỉ có 1/3 mức được hứa hẹn,” phúc trình nói.

Phát ngôn viên chánh phủ Phay Siphan bảo vệ đập, nói nó cung cấp “ảnh hưởng tích cực nhất” và rằng dân làng được tái định cư có nhà mới, đất canh tác và điện.

“Những cáo buộc vô lý, chúng không nhìn vào kinh nghiệm của Cambodia… và vị trí mới thì tốt hơn nơi cũ,” Phay Siphan nói, thêm rằng chánh phủ sẽ tiếp tục theo dõi ảnh hưởng đối với các làng ở chung quanh.

Đập, có trị giá 780 triệu USD, là một phần của Sáng kiến Vành đai và Con đường, một ảo tưởng hạ tầng cơ sở khổng lồ trị giá 1.000 tỉ USD cho các dự án đường biển, đường sắt và đường bộ trên khắp Á, Phi, và Âu Châu.

Kế hoạch, một dấu hiện của các nỗ lực của Beijing (Bắc Kinh) để nới rộng ảnh hưởng kinh tế trên khắp thế giới, đã bị chỉ trích rộng rãi vì đã chất gánh nợ không thể đãm đương lên các quốc gia nhỏ.

.

THỜI ĐIỂM LỊCH SỬ KHI CHUYẾN XE ĐIỆN CHỞ KHÁCH ĐẦU TIÊN TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG SẮT LÀO-TRUNG HOA ĐẾN LÀO

 (Historic Moment as First Passenger Train Along Laos-China Railway Arrives in Laos)

Latsamy Phonevilay – Bình Yên Đông lược dịch

The Laotian Times – October 15, 2021

Tàu điện Lane Xang đến Ga Muang Xay. [Ảnh: Do Yuavthin]

 

Trong một thời điểm lịch sử, chuyến xe điện chở khách đầu tiên chạy trên tuyến Đường sắt Lào-Trung Hoa đã đến Lào.

Xe điện chở khách gồm nhiều toa điện (Electric Multiple Unit (EMU)), được chánh thức gọi là “Lane Xang”, có thể thấy trong hình của Do Yuavthin, đến Ga Muang Xay trong tỉnh Oudomxay chiều hôm nay.

Tên Lane Xang được lấy từ tên của cựu vương quốc Lào, có nghĩa là Đất của Triệu Voi.

Xe điện khởi hành từ Trung Hoa vào đầu tuần và đi đến Ga Vientiane ở thủ đô Vientiane, ga lớn nhất của tuyến đường sắt Lào-Trung Hoa.

Việc xây cất đường sắt lịch sử nối thủ đô Vientiane của Lào với biên giới Trung Hoa cách xa 427 km bắt đầu trong tháng 12 năm 2016, nối liền 5 tỉnh Luang Namtha, Oudomxay, Luang Prabang, Vientiane và thủ đô Vientiane.

 

Ga Muang Xay. [Ảnh: Do Yuavthin]

 

Tuyến đường sắt gồm có 198 km đường hầm, và 62 km cầu.  Nó sẽ chạy từ cửa khẩu Boten, nối thượng Lào với Trung Hoa, tới thủ đô Vientiane, với một vận tốc điều hành là 160 km/h.

Thủ tướng Lào loan báo hôm tuần trước rằng tuyến Đường sắt Lào-Trung Hoa sẽ chánh thức khánh thành đúng thời hạn vào ngày Quốc Khánh 2 tháng 12 của Lào.

.

Saturday, October 23, 2021

Ts. Nguyễn Hữu Phước - Nhớ Sài Gòn Qua Ca Dao

 


23/10/2021

Xin nhắc lại ghi chú sau đây về địa danh Lục Tỉnh:

Lục Tỉnh là tên cũ của vùng Đồng Nai Cửu Long (ĐN-CL). Năm 1831 Vua Minh Mạng đổi tên các “trấn” thành “tỉnh” và địa danh “Nam Kỳ Lục Tỉnh” từ đó mà có. Địa danh nầy bao gồm phần đất từ phía Nam của Bình Thuận cho đến hết vùng Cà Mau. Lục Tỉnh hay Sáu Tỉnh lúc đó gồm Biên Hòa, Gia Định Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. (Tên tuổi của Ông Phan Thanh Giản đã gắn liền với lịch sử “Sáu Tỉnh” nầy khi Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, dưới triều vua Tự Đức.

Khi Pháp chiếm tất cả Lục Tỉnh và sau nhiều năm bình định xong, năm 1899 Toàn Quyền Paul Doumer ký sắc lệnh chia “Lục Tỉnh” thành 20 tỉnh (theo tác giả Phú Điền), và ít lâu sau tách rời Cấp (Vũng Tàu) ra khỏi Bà Rịa thành một tỉnh riêng. Tình trạng 21 tỉnh của Miền Đồng Nai Cửu Long kéo dài cho đến hết năm 1975. Để dễ nhớ, ai đó đã đặt tên tắt cho 21 tỉnh đó:

Gia - Châu - Hà - Rạch - Trà - Sa - Bến

Long - Tân - Sóc - Thủ - Tây - Biên - Mỹ

Bà - Chợ - Vĩnh - Gò - Cần - Bạc - Cấp

(Gia Định, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Trà Vinh, Sa Đéc, Bến Tre, Long Xuyên, Tân An, Sóc Trăng, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Hòa, Mỹ Tho, Bà Rịa, Chợ Lớn, Vĩnh Long, Gò Công, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cấp (Vũng Tàu ngày nay, xưa có tên Pháp là Cap Saint Jacques).

Lẽ dĩ nhiên sau khi Pháp rút khỏi VN vào 1955, và dưới thời VN Cộng Hòa, cũng như sau 1975, ranh giới của một số tỉnh, và một số địa danh đã có nhiều thay đổi.

Sài Gòn, Gia Định, Mỹ Tho

Đồng Nai, Bến Nghé, Nhà Bè, Thủ Thiêm

Sài Gòn niềm nhớ không tên

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên

Như dòng sông nước cuộn quanh buồn

Như người đi cách mặt xa lòng

Ta nhủ thầm em có nhớ không?

Sài Gòn ơi! Đâu những ngày khi thành phố xôn xao

Trong niềm vui tiếng hỏi câu chào

Sang đời tươi thắm vạn sắc màu

Nay còn gì đâu?

Ai ra đi nhớ hàng me già

Thu công viên hoa vàng tượng đá

Thôi hết rồi mộng ước xa xôi

2

Theo dòng đời trôi.

Sài Gòn ơi! Đâu những ngày mưa mùa khoác đi

Đâu cuội hoa quán nhặt đêm về

Đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly.

Sài Gòn ơi! Thôi hết rồi những ngày hát bên nhau

Đâu Phạm Duy với tình ca sầu

Mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu

Còn gì đâu. . ..

Nguyễn Đình Toàn

Bài thơ trên là một phần trong bài “Sài Gòn niềm nhớ không tên” của thi sĩ Nguyễn Đình Toàn, được phổ nhạc (phần 2 ở cuối bài). Tôi chép lại từ tiếng ca trong CD, để nói lên sự mong nhớ Sài Gòn (không biết chấm câu, xuống hàng v.v. có đúng như bài thơ không, xin lỗi vậy.)

 

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Sunday, October 17, 2021

CÁC CÔNG TY TRUNG HOA ĐEM LẠI NHỮNG Ý TƯỞNG THÔNG MINH ĐỂ BẢO VỆ HỆ SINH THÁI Ở LÀO

(Chinese firms bring bright ideas to protect ecosystem in Laos)

Zhang Jianhua and Sang Wenlin – Bình Yên Đông lược dịch

Xinhua – 12 October 2021


Các kỹ sư của Trung Hoa đã giảm thiểu ảnh hưởng của dự án đối với môi trường sinh thái và hoàn thành phát triển khả chấp, được quần chúng và chánh phủ Lào ca ngợi.

Vientiane (Xinhua) – “Tôi chưa bao giờ mong đợi trở thành một ngư dân từ một người miền núi,” Songkham Yathika, 55 tuổi, một người sống trong vùng núi non ở thượng Lào và sinh sống bằng cách thu lượm và săn bắn, nói.

Năm 2017, Songkham và gia đình ông di chuyển đến nhà mới ở làng định cư Huay Lo do Công ty Xây cất Điện Trung Hoa (PowerChina) xây sau khi hoàn tất nhà máy thủy điện Nam Ou 1.

“Chánh phủ Lào và công ty Trung Hoa thả cá vào hồ chứa mỗi năm, và chúng tôi bắt cá theo quy định,” Songkham nói, thêm rằng cá khá lớn và nhiều.

Rồi thì, gia đình của Songkham mở một nhà hàng cá bên cạnh hồ chứa nước Nam Ou 1, “cá tươi thu hút người dân thành thị, cách xa hàng chục km ở thành phố Luang Prabng, đến để thưởng thức.  Tài xế và khách trên đường cũng dừng lại để thử cá của chúng tôi, kể cả nhiều khách hàng Trung Hoa.”

 


Chuỗi dự án thủy điện Nam Ou, do PowerChina phát triển với tổng số đầu tư khoảng 2,8 tỉ USD, bắt đầu sản xuất điện vào ngày 28 tháng 9 năm 2021.  Dự án, với công suất thiết trí tổng cộng 1.272 MW và sản lượng điện trung bình hàng năm khoảng 5 tỉ KWh, sẽ được chuyển giao cho chánh phủ Lào sau 29 năm.

“Chúng tôi thả và vựa cá dọc theo Nam Ou hàng năm,” Wang Peng, một nhân viên của PowerChina phụ trách di dân hồ Nam Ou, nói với Xinhua hôm Chủ Nhật vừa qua, thêm rằng công ty của ông chú ý đến sự chọn lựa cá, “ngay nếu giá cả cao hơn, chúng tôi chọn cá địa phương hơn các loại cá ngoại lai.”

Các công ty Trung Hoa là lực lượng chánh trong việc đầu tư và xây cất các nhà máy thủy điện ở Lào, và cá thả vào các hồ chứa từ lâu là một trong những lối thực hành tiêu chuẩn để bảo vệ hệ sinh thái ở Lào.

Công ty Điện Nước Quốc tế Trung Hoa (China International Water and Electricity Corp. (CWE)) của Công ty Tam Hiệp Trung Hoa (China Three Gorges Co. (CTG)) luôn luôn cứu xét việc quản lý dự án và bảo vệ nguồn nước trong và núi non xanh tươi từ khi đi vào thị trường Lào trong năm 1996.

 

Dự án thủy điện Nam Lik 1-2 do CWE đầu tư ở phía bắc thủ đô Vientiane của Lào, đã theo con đường phát triển xanh “mang cá đến nước sạch” và đã thả 50.000 cá con vào hồ mỗi năm, trong khi theo dõi và bảo vệ phẩm chất nước.  Bằng cách nầy, nhà máy thủy điện góp phần vào đa dạng sinh học ở dưới nước và cân bằng sinh học trong phụ lưu vực sông Mekong.

“Thả cá vào hồ chứa đã làm tăng số cá trong lưu vực, và theo dõi và bảo vệ phẩm chất nước làm cho sông trong hơn,” Phouxay Vongphachanh, một nhân viên Lào ở nhà máy Nam Lik 1-2 nói, thêm rằng đường lối nầy không chỉ làm giàu đa dạng sinh học của nước mà còn làm cho thị trấn của ông xinh đẹp hơn.

Hiang Yande, phó tổng quản đốc của PowerChina Resources Limited và tổng quản đốc chi nhánh ở Lào, nói với Xinhua hôm Thứ Hai rằng thiết kế của 7 nhà máy thủy điện của chuỗi đập trên Nam Ou, phụ lưu dài nhất của Mekong ở Lào, mặc dù làm tăng chi phí với sản lượng điện ít hơn, bảo vệ tốt hơn sinh thái ban đầu ở địa phương và giảm thiểu vùng bị ngập.

Đập thứ 7th ở thượng lưu có dung tích tương đối lớn hơn, có thể đóng vai trò điều hòa từ năm nầy qua năm khác, và giúp 6 nhà máy thủy điện nhỏ hơn ở hạ lưu sản xuất điện trong mùa khô.  Bằng cách nầy, 7 nhà máy thủy điện sử dụng hoàn toàn nguồn nước, và mang lại lợi ích sinh thái, xã hội và kinh tế.

 


Trong lúc xây cất, các kỹ sư của PowerChina đã dùng hệ thống hút bụi và tuân thủ tiêu chuẩn không xả nước thải, để giảm thiểu ảnh hưởng của việc xây cất đối với môi trường; thiết lập một số vùng bảo vệ nơi cư trú thú và thả trên 2 triệu cá con vào sông trong 9 năm liên tiếp; giúp các cộng đồng địa phương bảo vệ đa dạng sinh học, khuyến khích trồng cây gây rừng, và tìm cách để bảo tồn các loại cây hiếm.

Huang nói các kỹ sư Trung Hoa đã giảm thiểu ảnh hưởng đối với môi trường sinh thái, và hoàn thành phát triển khả chấp, được quần chúng và chánh phủ Lào ca ngợi như những “ý tưởng thông minh.”

Công ty Vận tải Điện của Lào (Electricity du Laos Transmission Company Limited (EDL-T), một công ty hỗn hợp giữa Lưới Điện Nam Trung Hoa (China Southern Power Grid (CSG)) và công ty quốc doanh Điện lực Lào (Electricite du Laos), sẽ là cơ quan điều hành lưới điện quốc gia để đầu tư, xây cất và điều hành các lưới điện 230 KV hay cao hơn ở Lào và thực hiện các dự án nối kết lưới điện giữa Lào và các quốc gia láng giềng.

Theo Cheng Jun, tổng quản đốc của EDL-T, trong việc quy hoạch hệ thống đường dẫn điện, công ty đã có nhiều biện pháp khác nhau để bảo vệ sinh thái địa phương, chẳng hạn như tránh các vùng đa dạng sinh học, các vùng nguy hiểm với tai họa thiên nhiên tiềm tàng, các vùng dễ tôn thương sinh thái, để không ảnh hưởng hay thay đổi môi trường sống của động vật hoang dã, cùng những thứ khác.

“Đó là chiều cao của dây điện và các cột điện, thí dụ, không ảnh hưởng đường đi của thú hoang chẳng hạn như voi rừng, là một điều chúng tôi để ý trong các giai đoạn thiết kế và xây cất,” Cheng nói.

 .

MẸ MEKONG VÀ THÁCH THỨC MỚI

(Mekong the Mother and the New Challenge)

Sok Saing Im and Watt Botkosal – Bình Yên Đông lược dịch

 

Sông Mekong ở Nong Khai, Thái Lan ngày 8 tháng 10 năm 2019. 

[Ảnh: Reuters]

 

Phần tóm lược

Mekong chảy qua 6 quốc gia Đông Nam Á gồm có Nam Trung Hoa, Myanmar, Lào PDR, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam.  Tài nguyên phong phú của nó thu hút sự chú ý của nhiều nhà thám hiểm từ bên ngoài, đặc biệt từ Âu Châu.  Người dân trong vùng nầy nghèo và hầu hết vẫn sống dưới mức nghèo khó.  Mãi cho đến đầu thập niên 1950s sau khi các quốc gia Đông Dương thu hồi độc lập, giấc mơ phát triển tài nguyên của sông Mekong mới thành hình.  Được hỗ trợ bởi Liên Hiệp Quốc và các cơ quan trực thuộc và 21 quốc gia tặng tiền, Ủy ban Mekong để Điều tra việc Phát triển Lưu vực sông Mekong được thành lập.  Thỏa ước Mekong 1995 dựa trên các nguyên tắc hợp tác mới và khuôn khổ hợp tác đang được soạn thảo.  Những quy định được hỗ trợ bởi một số thủ tục và hướng dẫn được hình thành.  Vì sự phức tạp của tài nguyên thiên nhiên của lưu vực và việc sử dụng nó theo thời gian và không gian, dữ kiện chi tiết để hỗ trợ cho Quản lý Lưu vực Kết hợp đang được sưu tập và chương trình nghiên cứu thêm đang được quy hoạch.  Người dân rất hy vọng các giấc mơ cũ và mới sẽ lại nổi lên.  Thỏa ước không thể được thực hiện thành công nếu không có sự kết hợp ở địa phương, vùng và thành phần của mọi khía cạnh phát triển đến cấp thấp nhất.  Cần phải thay đổi cách quy hoạch trước đây trong tất cả các cấp của mỗi quốc gia duyên hà với sự tôn trọng hỗ tương và “đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của thế hệ tương lai để đáp ứng nhu cầu của họ” (Gro Harlem Bruntland trong Lord Osborne, 2000).  Đây sẽ là một thách thức lớn cho tất cả các bên có quan tâm.

Phần giới thiệu

Sông Mekong, cũng được gọi là sông Lớn hay Mẹ của sông, chảy qua 6 quốc gia và bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng ở Trung Hoa.  Sau khi rời Trung Hoa bằng cách chảy qua nhiều rặng núi cao ở Yunnan (Vân Nam), nó tạo thành biên giới giữa Myanmar và Lào PDR rồi giữa Thái lan và Lào PDR, xuyên qua thác Khone trước khi vào Cambodia.  Từ thị trấn Kratie ở Cambodia, Mekong chảy vào vùng đồng bằng nơi nó nối với hệ thống Tonle Sap-hồ Tonle Sap và Bassac để điều hành lũ lụt tự nhiên đặc thù và phong phú sinh học của thế giới.

Lưu vực sông Mekong. [Ảnh: Research Gate]

Có bằng chứng cho thấy con người đã định cư trong lưu vực từ 6.000 năm trước, nhưng mặc dù lưu vực có một lịch sử chiếm đóng của con người lâu dài không thể nghi ngờ, ảnh hưởng của con người đối với lưu vực rất nhẹ.  Và không giống như các sông lớn khác trên thế giới, chẳng hạn như sông Nile hay Yangtze nới văn minh lớn được hình thành, các thành phố quan trọng chẳng hạn như Phnom Penh và Vientiane là những thành phố trong thời hiện đại.  Nền văn minh Angkor là một ngoại lệ, nơi những nhà xây cất cùng lúc xem Mekong như tài nguyên cần thiết cũng như một đe dọa, một con đường được quân thù sử dụng.  Chưa bao giờ có ý định để thuần phục hay khai thác tài nguyên Mekong.

Người dân trong lưu vực sông Mekong thường nghèo khi so sánh với người dân trong lưu vực láng giềng chẳng hạn như Chao Phraya, Yangtze hay Hồng.  Việc đi lại đến vùng xa xôi đã được cải thiện gần đây khi nhiều đường mới được mở ra ở Thái Lan và Lào PDR, nơi trước đây sông là đường mậu dịch duy nhất.

Trong lịch sử, tài nguyên phong phú của Mekong từ lâu đã được người ngoài biết đến, người Âu Châu từ đầu thế kỷ 17th, quan tâm ban đầu chú trọng đến thủy vận, đặc biệt là đường đến Trung Hoa được bày tỏ mạnh mẽ bởi thực dân Pháp.  Cuộc thám hiểm 1866-1868 do Carne cầm đầu cuối cùng đã đến Yunnan nhưng không thể xác định nguồn của Mekong.  Kinh nghiệm của những người mạo hiểm nầy, khi thuật lại ở Paris, làm rõ con đường nguy hiểm không an toàn của sông và sự điên rồ của ý tưởng rằng nó sẽ cung cấp một con đường dễ dàng để đến Trung Hoa.  Với kiến thức nầy, khát vọng của người Pháp quay sang những con đường tiềm tàng khác để vào bên trong, đáng chú ý là sông Hồng.  Quan tâm nầy đã đưa đến giới hạn ban đầu của biên giới hành chánh thuộc địa giữa các quốc gia có chủ quyền hiện hữu trong khu vực.  Trong đầu thập niên 1950s, 3 quốc gia cựu thuộc địa của Pháp ở Đông Dương thu hồi độc lập từ Pháp.  Đó là một công tác vất vả cho các chánh phủ mới để cai quản và tái thiết các quốc gia của họ.

Phát triển Mekong

Sau khi được độc lập, các quốc gia Đông Dương cũ cùng với Thái Lan thành lập Ủy ban Mekong để Điều tra nguồn nước và tài nguyên liên hệ của Hạ Lưu vực Mekong (Lower Mekong Basin (LMB)).  Mekong không những là con đường hay biên giới mà còn là một cơ hội đầu tư trong việc phát triển nguồn nước và tài nguyên liên hệ, một mục đích thương mại.  Lợi dụng ưu thế của tiềm năng chưa được khai thác về thủy điện, thủy nông (vào lúc các dự án được xem xét, chỉ có 3% đất canh tác được dẫn thủy), thủy vận và ngừa lụt và, kiến thức khoa học mới mẻ dựa trên dữ kiện vừa được thu thập, các hoạt động quy hoạch phát triển xảy ra.  Đó là lúc cho một giấc mơ lớn của các lãnh đạo, kỹ sư, nhà quy hoạch trong khu vực và trên khắp thế giới.  Các dự án Mekong được sự tham gia của các tổ chức quốc tế (gồm 12 tổ chức của Liên Hiệp Quốc) và 21 quốc gia ngoài 4 quốc gia duyên hà.  Các kế hoạch thực dụng phát sinh từ “Tinh thần Mekong” phản ánh hy vọng của người dân liên hệ đến việc thực hiện kiến tạo để cải thiện phẩm chất của đời sống của người dân trong 4 quốc gia duyên hà (Giảng sư Hiroshi Hori và Giảng sư Bob Stenholt, 1999 trong Nancy Hudson-Rodd).  Dựa trên dữ kiện khoa học mới có được thu thập trên dòng chánh Mekong và các phụ lưu chánh và trong hạ lưu vực, trên 70 dự án được xác định vào năm 1969 (đập, nhà máy điện, nông trường thí điểm, khảo sát đất, cầu, hệ thống thủy nông, tiên đoán và ngừa lụt, thủy vận, v.v.)  Trong đầu thập niên 1970s, 3 đập được hoàn tất, 2 ở đông bắc Thái Lan (Nam Pung và Nam Pong) và 1 ở hạ Lào (Hạ Sedone) với các hoạt động trong các giai đoạn khác nhau.

Có trên 50 dự án khác được đặt tên, vẽ đường, chấm hay khoanh tròn trên bản đồ mà trong những năm hay thập niên tới sẽ trở thành thị trấn, đập, cầu hay hệ thống thủy nông, đường sá, hãng xưỡng, đất canh tác mới (Wilson, 1972:54 trong United Nations Universities, 1990).  Có lạc quan vô hạn được bày tỏ trong những lợi ích từ những kế hoạch phát triển lớn nầy.  Tuy nhiên, dự án phát triển quốc tế nhiều tham vọng nhất gặp nhiều trở ngại, và Ủy ban Mekong than phiền rằng việc tìm kiếm những người ủng hộ tài chánh cho các dự án nầy càng ngày càng khó khăn.  Công tác trên dự án bị cản trở khi chiến tranh Đông Dương leo thang.

Những giấc mơ của tiến bộ phát triển liên tục của người dân trong lưu vực Mekong bắt đầu phai mờ vì lo ngại đối với những hậu quả sinh thái và con người của một số dự án.  Đến thập niên 1980s, một đánh giá phát triển cho thấy không có dự án trong số 16 dự án trên dòng chánh được hoàn tất và chỉ có 16 trong số 180 dự án được đề nghị trong kế hoạch của lưu vực được hoàn tất, với đa số nằm ở đông bắc Thái Lan (Nam Pong, Nam Oon, Nam Pung, Lam Pao, Lam Pra Pleang, Lam Ta Kong, Nam Phrom, Lam Don Noi) và 2 ở Lào (Selabam và Nam Dong) (United Nations, 1984:48).

Nhưng gần đây, trên 4 thập niên sau các sáng kiến của ECAFE, 4 quốc gia thành viên (Cambodia, Lào PDR, Thái Lan và Việt Nam) đã thương lượng một Thỏa ước mới.  Thỏa ước nầy được ký kết năm 1995 và được gọi là Thỏa ước Mekong 1995, giấc mơ của đập lại đến với chúng ta trong lúc trợ giúp tài chánh quốc tế cho các dự án hạ tầng cơ sở đại qui mô càng ngày càng chịu áp lực của quần chúng, và phong trào môi trường ở Thái Lan càng ngày càng lớn tiếng trong việc chống đối các dự án thủy điện trong lưu vực Mekong.  Khi viễn cảnh của việc xây cất một chuỗi hồ chứa lớn trên dòng chánh phai mờ, tình trạng thiếu nước trong mùa khô trở thành vấn đề lo ngại.  Để bảo vệ kế hoạch của các dự án chuyển nước đại qui mô của mình, Thái Lan, với sự chống đối của Cambodia, Lào PDR và Việt Nam, không muốn phục hồi hợp tác qua các nguyên tắc trong tuyên bố chung 1975 (Browder, 2000).  Quốc gia nầy lo sợ rằng một số quy định trong tuyên bố chung – được chấp thuận trước bởi các quốc gia thành viên để chiếm hữu đơn phương nước của dòng chánh và xem các phụ lưu chánh cũng giống như dòng chánh có thể cản trở 2 dự án đại qui mô (Kok-In-Nam và Khong-Chi-Mun) và muốn có một vai trò nhỏ hơn của Chế độ Mekong, mặt khác, Việt Nam nhận thấy rằng tình trạng của Ủy ban Mekong Lâm thời rất hạn chế cho việc phát triển thêm nguồn nước.  Vào giữa năm 1992, rõ ràng là mặc dù 4 quốc gia thành viên muốn duy trì Chế độ Mekong, các ý tưởng về cấu trúc, vai trò và trách nhiệm rất khác biệt từ quốc gia nầy sang quốc gia khác.

Phải mất 4 năm thương thảo tích cực 4 quốc gia thành viên mới đạt được thỏa thuận.  Tất cả 4 quốc gia thành viên đều muốn duy trì Chế độ Mekong nhưng, các ý tưởng về cấu trúc, vai trò và trách nhiệm rất khác nhau.

Thỏa ước Mekong 1995 cung cấp một khuôn khổ hợp tác cho các quốc gia thành viên cộng tác để thực hiện phát triển khả chấp trong lưu vực.  Mỗi quốc gia thành viên cần bảo vệ một quyền lợi tối thiểu liên quan đến nước Mekong.  Thí dụ, Cambodia xem việc duy trì hệ thống Tonle Sap là quan trọng chánh yếu và Việt Nam xem việc duy trì dòng chảy trong mùa khô hiện hữu ở Đồng bằng sông Cửu Long là cần thiết.  Một công cụ hỗ trợ đã được phát triển qua chương trình Sử dụng Nước (Water Utilization) gồm có một Khuôn khổ Hỗ trợ Quyết định (Decision Support Framework (DSF)), một bộ quy định để duy trì dòng chảy trong dòng chánh và các nghiên cứu về các vấn đề xuyên biên giới.  Một số lớn kiến thức đã được tích lũy để phát triển các công cụ và “Quản lý Dòng chảy Kết hợp” đang được phát triển.  Các công cụ và kiến thức mới được dự đoán để hỗ trợ tiến trình quy hoạch các dự án phối hợp.  Và có nhu cầu ngày càng tăng cho tin tức và dữ kiện khoa học phức tạp mới, phân tích, trao đổi và chia sẻ vào lúc thích hợp cũng như khả năng cần có để quản lý toàn thể hệ thống một cách kết hợp và phối hợp.  Trong mắt của quần chúng đã tham gia vào Giấc mơ Mekong, câu hỏi lớn cho họ là điều gì sẽ xảy ra.

Những thách thức

Dân số của lưu vực đã tăng từ khoảng 20 triệu trong đầu thập niên 1970s đến 55 triệu hiện nay và được tiên đoán tăng đến 75-90 triệu vào năm 2025.  Đa số họ dựa vào nông ngiệp để sinh sống.  Lúa là hoa màu chánh của hầu hết gia đình ở nông thôn, với 80-90% gia đình trồng lúa như hoa màu chánh.  Trong những năm gần đây, kinh tế của Cambodia, Lào PDR và Việt Nam đã bắt đầu chuyển qua sản xuất theo thị trường và giải phóng mậu dịch.  Những nước nầy đang trở nên kỹ nghệ hóa nhiều hơn như đã xảy ra ở Thái Lan 20-30 năm về trước.  Những thay đổi nầy là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh kế, lợi tức và mức nghèo khó của người dân sống trong khu vực.

Nghèo khó lan tràn trên khắp LMB.  Nghèo khó là người nghèo trên nhiều phương diện, thiếu phương tiện và cơ hội sinh sống cũng như lợi tức.  Giảm nghèo là ưu tiên trong các chánh sách phát triển kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia trong LMB, nhất là ở quốc gia nghèo nhất nơi đa số dân số dựa trực tiếp vào tài nguyên thiên nhiên, khiến cho việc quản lý hệ sinh thái là một việc thách thức đặc biệt.  Ảnh hưởng đối với tài nguyên thiên nhiên của khu vực được dự đoán sẽ gia tăng với thời gian.  Trong 50 năm qua, nhiều tài nguyên rừng đã bị cạn kiệt, hầu hết ở đông bắc Thái Lan, Lào PDR và với một vận tốc chóng mặt ở Cambodia.  Lợi ích từ những tài nguyên đó phần lớn được dùng ở ngoài khu vực hay ở thành phố thủ đô.

Thỏa ước 1995 đã chuyển trọng tâm trong lưu vực từ các dự án đại qui mô sang hợp tác để phát triển khả chấp và sử dụng công bằng tài nguyên thiên nhiên (MRC, 1995).  Quy hoạch phát triển lưu vực hỗ trợ mạnh mẽ sự tham gia của cộng đồng trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên trong lưu vực.  Đường lối tổng quát là: (i) thực hiện lợi ích toàn lưu vực trong khi cứu xét quyền lợi của quốc gia; (ii) cân bằng các cơ hội phát triển với bảo tồn tài nguyên; (iii) tham gia rộng rãi của quần chúng; chia sẻ kiến thức và trao dồi khả năng.  Kế hoạch sẽ gồm có các chủ đề môi trường, phát triển nhân lực, kinh tế xã hội, giảm nghèo, bình đẳng giới tính và sự tham gia của quần chúng (MRC, 2003).  Các chương trình khác gồm có môi trường, thủy sản, thủy vận, trao dồi khả năng và nông nghiệp, các chương trình thủy nông và lâm nghiệp, cũng đang được xúc tiến để thi hành Thỏa ước Mekong 1995.  Kế hoạch Phát triển Lưu vực sẽ là chương trình then chốt của Thỏa ước Mekong 1995.  Vì tính phức tạp của việc phát triển và quản lý nguồn nước trong LMB; một đường lối chung và hỗn hợp rất cần thiết từ cấp xã đến quốc gia và khu vực.  Để đáp ứng nhu cầu phát triển, các quốc gia thành viên cần thực hiện một số lớn dự án và chương trình.  Hành chánh, quy hoạch và luật pháp trong mỗi quốc gia thành viên thường được phân phối trong các cơ quan khác nhau trong các bộ khác nhau.  Quy hoạch quốc gia thường là cơ quan được thúc đẩy với cứu xét hạn chế trong tương quan giữa các thành phần.

Ở cấp tổ chức, các quốc gia thành viên ở các mức phát triển khác nhau nhưng thường mới trong lãnh vực nầy mặc dù một số quốc gia thành viên có trình độ kỹ thuật cao về phát triển nguồn nước.  Việc thi hành Quản lý Nguồn Nước Kết hợp (Integrated Water Resources Management (IWRM)) càng phúc tạp hơn trong lưu vực Mekong vì kém hiểu biết động lực của sông và hệ sinh thái dòng nước và sự phụ thuộc của chúng vào chế độ dòng chảy (Campbell, trong Juha et al., 2005).  Điều nầy đưa đến những hạn chế và bất định nghiêm trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng môi trường.

Dựa trên tiêu chuẩn được đề nghị cho “IRWM tốt” bởi (Millington, 2004 trong MRC, 2005, Trategic Directions for IRWM in LMB):

·        Các khuôn khổ tổ chức và kiểm soát với những đường lối rõ ràng của trách nhiệm – thiết lập đạo đức và thành tích của cai quản tốt

·        Quy hoạch và quản lý dựa trên kiến thức, với chia sẽ tin tức rộng rãi

·        Sự tham gia của bên liên hệ và cộng đồng – hợp tác giữa chánh phủ và cộng đồng trong các đường lối phát triển có đáp ứng

·        Kết hợp và phối hợp các chánh sách và chương trình trên khắp thành phần, quốc gia, quyền lợi cạnh tranh của bên liên hệ và các cấp của chánh phủ.

Rõ ràng, mặc dù có một số bước đã được thực hiện để tiến đến IWRM, việc thực hiện “IRWM tốt” của MRC và các quốc gia thành viên vẫn còn xa.

Trường hợp đập Pak Mun là một trong những thí dụ cho thấy tính phức tạp của công việc như thế ngay ở bên trong biên giới quốc gia.  Người nghèo mà sinh kế của họ ở mức sống còn là những người đau khổ trước hết với ảnh hưởng tiêu cực.

Với thời gian, người dân ở cấp quốc gia và khu vực có vẻ đã quên bài học của Sesan.  Trong trường hợp nầy, không rõ liệu MRC và các quốc gia lo ngại trực tiếp đã cứu xét vấn đề một cách nghiêm chỉnh và xây dựng trường hợp như một bài học cho quy hoạch và quản lý trong tương lai.

Xây dựng đạo đức Mekong

Nước là một vấn đề quan trọng được giải quyết bởi mọi người ngay lập tức.  Để có kết quả, toàn thể xã hội phải đóng góp.  Việc thiết lập một số nguyên tắc hướng dẫn và các quy định tiếp theo không thể được xem là chấm dứt.  Nhưng cần phải cam kết vào hành động để tìm kiếm một mô hình có thể dùng như một mũi nhọn khoa học của thiên niên kỷ nầy, tận tâm và được đạo đức thúc đẩy, tập họp tất cả các chuyên viên liên ngành.  Điều nầy cần có những nỗ lực hợp tác quốc tế lớn lao để tập họp các khoa học gia và nhà nghiên cứu trên toàn thế giới và trong khu vực Mekong kể cả quần chúng.  Đạo đức của quản lý nguồn nước trong Lưu vực sông Mekong được hướng đến cân bằng và bình đẳng cũng như tiến đến tối ưu hóa khu vực.  Tính hợp lý khoa học đóng một vai trò rõ rệt, nhưng không cung cấp một tham khảo đầy đủ để phân phối tài nguyên hay giải pháp cho xung đột liên hệ (Tue Kell Nilsen, 2003).

Di sản văn hóa phong phú của khu vực phải được sử dụng để hoàn thành IWRM tốt cùng với sự tham gia đầy đủ của toàn thể người dân trong LMB để bảo đảm một tương lai khả chấp của thành phần nước trong khu vực nầy.

Phần kết luận và đề nghị

Thỏa ước Mekong 1995 đáp ứng lòng mong đợi của người dân trong lưu vực để thực hiện một lưu vực sông thịnh vượng kinh tế, công bằng xã hội và lành mạnh môi trường.  Nghệ thuật và lối thực hành của việc phân phối công bằng và sự tiếp cận với nước ngọt cho tất cả người dân trong thế kỷ 21st, như là quyền căn bản và bắt buộc quốc tế, là mẹ của tất cả các câu hỏi đạo đức của tất cả tài nguyên thiên nhiên xuyên biên giới với bản chất có hạn.  Công lao của Mẹ Mekong đã cho chúng ta qua các thế hệ một đời sống thanh bình không được bỏ quên cho việc phát triển nguy hiểm và thiếu phối hợp.  Trong khi người dân chúng ta khác nhau trong nhiều cách, sông và hệ sinh thái chỉ là một, Mekong và hệ sinh thái của nó rất đặc thù trên thế giới.  Chúng ta phải sử dụng tốt được hướng dẫn bởi tinh thần [Mekong] và các nguyên tắc tốt nhất.

Cảm tạ

Các tác giả chân thành cảm ơn Ủy ban Mekong Quốc gia Cambodia và các viên chức của các cơ quan chánh phủ đã hỗ trợ và cung cấp nhiều ý kiến xây dựng trong việc soạn thảo bài viết nầy.

Tài liệu tham khảo

1.      Claudia Ringler, 2001. Optimal Allocation and Use of Water Resources in the Mekong River Basin: Multi-Country and Inter-sectoral Analyses.

2.      Browder, 2000. Thesis : The Mekong Negotiation (1992-1995) on Mekong Agreement for MRC, USA.

3.      Lord Osborne, 2000. L’ethique de l’utilization de l’eau douce: Vue d’ensemble, UNESCO.

4.      Matti Kummu, Juha Sarkkula, Jorma Koponen and Jussi Nikula, 2005. Ecosystem Management of Tonle Sap Lake: integrated modeling approach.

5.      MRC, 1995. Agreement on cooperation for sustainable development of the Mekong River basin, Mekong River Commission, Bangkok, Thailand.

6.      MRC, 2003. State of the Basin Report, Mekong River Commission, Phnom Penh, Cambodia.

7.      MRC, 2005. Strategic Directions for IWRM in Lower Mekong Basin, MRCS, Vientiane, Lao PDR.

8.      Nancy Hudson-Rodd: River Dreams: The Mekong River.

9.      United Nations, 1984. Interim Committee for coordination of investigation of the Lower Mekong Basin, Annual Report. Bankok: United Nations, Thailand.

10. Tue Kell Nielsen, 2003. River Basin ethics in the context of the Lower Mekong Basin, Chiang Mai, Thailand.

11. United Nations Universities, 1990. Towards Cooperative utilization and coordinated management of international rivers.