Monday, June 17, 2024

RỪNG VIỆT NAM CÓ THỂ SỐNG CÒN VỚI SỰ LAN TRÀN CỦA CÁC ĐỒN ĐIỀN KEO VÀ BẠCH ĐÀN? (BÌNH LUẬN)

 [Can Vietnam’s forests survive the spread of acacia and eucalyptus plantations? (commentary)]

Buu Nguyen – Bình Yên Đông lược dịch

Mongabay – 4 June 2024

 


·                    Việc trồng những đồn điền độc canh cây keo và bạch đàn đại qui mô ở Việt Nam nêu lên những lo ngại về ảnh hưởng môi trường lâu dài đối với sức khỏe của đất và đa dạng sinh học

·                    Sự bành trướng mạnh mẽ nầy cũng đưa đến sự cạnh tranh đất khốc liệt, thường dời chỗ nhiều cộng đồng ở địa phương với tài nguyên hạn chế

·                    “Khuyến khích tinh thần hợp tác giữa các nông ty và nông dân rất càn thiết để bảo đảm kỹ nghệ lâm nghiệp của Việt Nam phát triển trong khi thúc đẩy cuộc sồng của cả 2 bên,” một nhện xét mới đây trên báo cho biết

·                    Bài dăng nầy là một bình luận, những quan điểm được trình bày là của tác giả, không nhất thiết của Mongabay

 

Việt Nam là một quốc gia có nhiều núi, với ¾ diện tích đất được bao phủ bởi đồi núi.  Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (MARD), rừng bao phủ chỉ có 42,02% tính đến tháng 6 năm 2022.  Ngoài ra, trên 2/3 rừng tự nhiên của Việt Nam được xem như suy thoái.  Nhóm Ngân hàng Thế giới tường trình rằng “2/3 rừng tự nhiên của Việt Nam có vẻ ở trong điều kiện xấu hay tái sinh, chỉ có 5% còn lại là rừng có tàn kín và tốt.”

Mặc dù rừng trồng lại chiếm khoảng 35% tông số diện tích rừng của Việt Nam (tính đến tháng 6 năm 2022 với 14.790.075 hectares), những rừng được thiết lập trong 15 năm qua phần lớn là những đồn điền cây nhỏ, được dùng cho kỹ nghệ gỗ vụn có giá trị thấp.  Phá rừng tự nhiên để khai thác tài nguyên và cho nông nghiệp đã gây ra một số hậu quả tiêu cực, gồm có làm giảm sự ổn định của sông và suối, kiểm soát thiên tai khó hơn, và sạt lở đất nghiêm trọng.  Những yếu tố nầy góp phần ảnh hưởng nguy hại đến kinh tế, môi trường và xã hội.

Rừng được trồng của Việt Nam: tăng trưởng và thách thức

Theo thống kê chánh thức của MARD, từ năm 2012 đến 2022, Việt Nam mất 289.762 hectares rừng tự nhiên.  Tuy nhiên, diện tích dành cho những đồn điền cây nhỏ của kỹ nghệ gỗ vụn đã gia tăng 1.217.793 hectares.  Sự bành trướng nhanh chóng nầy làm nổi bật tiềm năng của nỗ lực trồng rừng để gia tăng độ bao phủ rừng tổng quát, nhưng nó nêu lên những lo ngại về tính khả chấp lâu dài của lối thực hành nầy.  Mặc dù những đồn điền nầy đóng góp vào việc phát triển nông thôn, nhất là qua việc tạo công ăn việc làm, chúng thường gồm có những loại cây lớn nhanh có giá trị thấp cung cấp lợi ích sinh thái giới hạn so với rừng tự nhiên.

 

Những đồn điền rừng được khai quang xen kẻ với những khu trồng keo thương mại cạnh một hồ chứa nước trong tỉnh Thừa Thiên-Huế. [Ảnh: Michael Tatarski]

 

Kỹ nghệ lâm nghiệp Việt Nam đã thấy sự cạnh tranh khốc liệt trong việc trồng rừng giữa các công ty và gia đình trong thập niên qua.  Sự cạnh tranh nầy thỉnh thoảng đưa đến việc chạm trán giữa các cộng đồng và các liên minh có thế ,ực của các công ty và chánh phủ. Vì sự cô lập và thiếu tài nguyên pháp lý, ngưởi dân địa phương thường bị buộc phải bỏ đất hay bán với giá rất rẻ.

Mặc dù nông nghiệp là nguồn thu nhập chánh của người dân ở nông thôn, trồng hoa màu hay nuôi gia súc thường không thể giải quyết tình trạng nghèo khó của họ.  Điều nầy buộc họ phải quay sang rửng để có thêm thu nhập qua các hoạt động như đốn gỗ bất hợp pháp, làm than, và đốt rừng để có đất canh tác mới.  Tất cả những lối thực hành nầy đóng góp vào sự suy thoái của rừng hiện nay và làm giảm đáng kể độ bao phủ rừng nói chung.

Vào khoảng thập niên 1950s, một số loại cây bạch đàn được nhập cảng từ Australia, với một số rất thích hợp với đất đai và khí hậu của Việt Nam.  Mặc dù rừng bạch đàn rất phổ biến ở cao nguyên miền Trung từ trước năm 1975, việc phát triển mạnh mẽ loại cây nầy hay rửng được trồng chỉ xảy ra trong thập niên 1990s.

Tuy nhiên, trong thập niên 2000s, khi đất rừng sụt giảm vì trồng vội vã, người dân bắt đầu chọn các loại cây keo cùng với cây bạch đàn.  Những cây keo nầy có lợi thế là dễ trồng, lớn nhanh, và sản xuất sinh khối đáng kể và có giá trị kinh tế.  Hơn nữa, cây keo thuộc họ cãi, giúp cải thiện phẩm chất đất bằng cách cung cấp nitrogen qua rễ cây có chứa vi trùng tạo ra nitrogen.  Điều nầy giúp ngăn ngừa sạt lở, bảo vệ rừng và làm giảm rủi ro đất chuồi.  Kết quả là, cây keo dần dần thay thế cây bạch đàn, làm cạn kiệt chất dinh dưỡng của đất, như loại cây đồn điền chiếm ưu thế.  Nhờ sự chuyển đổi nầy, nhiều gia đình trong vùng lâm nghiệp thống trị đã tin tưởng để chuyển từ đồng ruộng trên cao với hoa màu hàng năm để trồng cây keo hay các loại hoa màu nhiều năm.

Ông Nguyễn Hoàng, một chủ đồn điền cây ở cao nguyên, nói “Việc trồng rừng sản xuất tăng trưởng rất nhanh trong những năm gần đây.  Cây keo và bạch đàn là 2 chọn lựa phổ biến nhất của người trồng.  Cây keo đặc biệt thu hút vì gỗ có thể được bán với giá cao hơn sau khoảng 8 năm.  Ngoài ra, nó có thể được bán cho hãng gỗ vụn chỉ sau 4 năm.”

Lợi nhuận tiềm tàng cũng hấp dẫn.  Sau khi trồng và săn sóc khoảng 5 năm, lái buôn sẽ đến nông trại để trực tiếp mua cây.  Điều nầy có thể cho một lợi nhuận khoảng 1.970-2.750 USD mỗi hectare.  Dể cây thêm vài nam nữa, cho phép chúng đủ lớn để cưa làm gỗ, có thể làm tăng trị giá đến 5.900 USD/ha.

Tuy nhiên, không phải tất cà vùng nông thôn đều có dất rừng sản xuất rộng lớn.  Điều nầy trở thành một lo ngại đặc biệt trong những năm qua, khi nhiều công ty và tổ hợp đang tìm đất cho các dự án trồng rừng đại qui mô.

 

Nông dân đốt rừng được khai quang sau khi thu hoạch. [Ảnh: Buu Nguyen]

 

Cạnh tranh mạnh mẽ

Hoàng cũng chia sẻ kinh nghiệm của ông, “Làm việc trong kỹ nghệ lâm nghiệp cũng thật sự cho thu nhập cao.  Khi nào một gia đình có khoảng 3 hectares đất rừng, kết hợp với làm ruộng và nuôi gia súc, họ có thể sống thoãi mái.  Tuy nhiên, không phải ai cũng có đất rừng.  Trong vùng của tôi, có một số đất rừng đáng kể.  Nhưng khoảng năm 2008, khi các công ty như Trường Thành Xanh hay Tân Phước Thịnh đắ bắt đầu xin cho các dự án trồng rừng của họ, rõ ràng là một số người bị mất đất.  Tệ hại hơn, có nhiều trường hợp những công ty nầy lấn vào đất do người địa phương làm chủ.”

Các công ty sản xuất rừng, như Trường Thành Xanhm đã đầu tư nặng nề trong việc phát triển vùng rừng vật liệu thô trong 5 năm qua.  Lợi dụng tài nguyên vốn mạnh mẽ của họ, họ thường được đất qua sự phân phối của chánh phủ hay mua đất của người địa phương với giá thấp, ngay cả thỉnh thoảng lấn chiếm.  Ngoài ra, họ dễ dàng để có tài chánh từ các ngân hàng thương mại và được lợi từ các chương trình cho vay được làm dễ dàng bởi Ngân hàng Chánh sách Xã hội của Việt Nam.

Nhiếu yếu tố bất lợi cho cư dân địa phương, như giới hạn vốn và sự vắng mặt của Quyền Sử dụng Dất (LURC) khiến cho họ dễ bị tổn thương khi có tranh chấp với các công ty,  Ngoài ra, việc bảo đảm nợ cho các dự án lâm nghiệp rất khó khăn vì những đòi hỏi của ngân hàng dành ưu tiên cho các công ty hơn các gia đình.  Những điều nầy gồm có thiếu LURC, thế chân không đủ, và sự do dự nói chung của ngân hàng đối với việc cho vay dài hạn của các gia đình.  Việc tiếp cận hạn chế với tài trợ lâu dài không may làm nản lòng cư dân thu hoạch cây còn non để bán cho các hãng gỗ vụn, làm giảm đáng kể giá trị kinh tế tiềm tàng.

Các công ty thường lợi dụng những khe hở trong việc cộng tác với những viên chức tham nhũng để mướn đất rừng với giá rẻ, và ngoài ra, họ dùng lợi thế của họ để lấn chiếm hay làm áp lực các nông dân địa phương để bán các miếng rừng lân cận không có LURC với giá thấp.  Đối với nhiều cư dân, điều nầy diễn dịch thành nhiều thập niên làm việc và việc canh tác chấm dứt thình lình, khi ngày nào đó, Ủy ban Nhân dân Tỉnh thình lình giao đất của họ cho một công ty trồng rừng nhất định.  Đối mặt với những thách thức pháp lý vô hiệu quả, cư dân buộc phải chấp nhận giá đất nghèo nàn hay bị mất đáng kể.

 

Đồn điền bạch đàn. [Ảnh: Patrick Shepherd]

 

Các ngân hàng ưa chuộng cho các công ty vay tiền vì tình trạng pháp lý vững chắc và khả năng cung cấp thế chân.  Tuy nhiên, nhiều công ty trồng rừng điều hành với việc thiếu minh bạch đáng lo ngại, ngay cả dùng đến những chiến thuật như băng đảng trong việc đụng độ với những viên chức tham nhũng để đàn áp người địa phương.  Mọt khi họ được LURC hay sự chấp thuận dự án của Ủy ban Nhân dân Tỉnh, những công ty nầy lợi dụng những tài sản nầy để thế chấp để mượn nợ ngân hàng.  Sau khoảng 2-3 năm canh tác rừng, họ thường tìm cách để nhảy ra nhanh chóng bằng cách bán lại dự án hay bán cổ phần cho các công ty ngoại quốc.  Trong một số trường hợp tuyệt vời, các công ty kết thúc việc bàn rừng trước khi con dấu chấp thuận của Ủy ban Nhân dân Tỉnh khô mực.

Kỹ nghệ lâm nghiệp của Việt Nam, một đóng góp đáng kể cho kinh tế quốc gia, đang trải qua sự tăng trưởng nhanh chóng, Trong một thành quả mốc ngoặc năm 2023, thành phần lâm nghiệp của Việt Nam hoàn tất việc chuyển giao chưa từng có 10,3 triệu tấn trong việc giảm phóng thích carbon cho Carbon Partnership Fund in Forestry (Quỹ Hợp tác Carbon Lâm nghiệp) qua Ngân hàng Thế giới.  Sáng kiến tạo ra 51,1 triệu USD, và thành phần lâm nghiệp của Việt Nam đưa ra những mục tiêu đầy tham vọng cho năm 2024, nhằm mục đích duy trì mức bao phủ rừng quốc gia ổn định ở mức 42,02% trong khi hoàn thành mức tăng trưởng 5,0-5,5% trong trị giá sản xuất lâm nghiệp.  Ngoài ra, mục tiêu của thành phần là là tạo ra thu nhập 116 triệu USD qua dịch vụ môi trường rừng và đạt đến 17,5 tỉ USD trị giá xuất cảng các sản phẩm rừng.

Tuy nhiên, để hoàn thành những mục tiêu nầy và bảo đảm một tương lai khả chấp cho kỹ nghệ, cộng tác giữa các công ty và nông dân vô cùng quan trọng, nhưng nông dân Việt Nam đã đối mặt với khó khăn kinh tế trong việc chạm trán với những chướng ngại đáng kể ngăn cản việc tham gia của họ trong thành phần đang tăng trưởng nầy.  Những thách thức như cạnh tranh kiểu băng đảng từ các công ty có ràng buộc với chánh phủ, khó khăn trong việc vay tiền ngân hàng cho những dự án lâm nghiệp dài hạn, và nhiều thủ tục phiền phức liên quan đến việc xin LURC, tất cả ra sức làm căng thẳng tình huống đã thách thức của họ.

Giải quyết những thách thức nầy và khuyến khích chạy nước rút giữa các công ty và nông dân rất cần thiết để bảo đảm rằng kỹ nghệ lâm nghiệp của Việt Nam phát triển trong khi khuyến khích cuộc sống của cả 2 bên.

 

VIỆC CHUYỂN TIẾP XANH CÓ THỂ CỨU SÔNG MEKONG?

 (Can a green transition save the Mekong River?)

Enno Hinz – Bình Yên Đông lược dịch

DW – May 30, 2024

 

Sông Mekong duy trì nông nghiệp, đánh cá, giao thông và thương mại – và hỗ trợ đời sống trong các làng nhỏ và thị trấn dọc theo bờ sông. [Ảnh: Sirachai Arunrugstichai]

 

Con sông dài nhất Đông Nam Á cung cấp mạch sống cho hàng triệu người, nhưng cuộc đua tài nguyên và năng lượng đã đặt tương lai của Mekong vào nơi nguy hiểm.  Các dự án khả chấp nay cung cấp hy vọng mới.

Sông Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng ở Trung Hoa và đổ ra Biển Đông qua Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam.

Tuy nhiên, các dự án hạ tầng cơ sở được thiết kế để đáp ứng nhu cầu năng lượng của những xã hội phát triển nhanh chóng ở Đông Nam Á (ĐNA) đang gia tăng trong Mekong.  Sự can thiệp đang được cảm nhận ở hạ lưu và đang đặt áp lực ngày càng tăng lên các hệ sinh thái của sông và nhiều cuộc sống.

Cambodia bắt đầu công việc cho kinh đào gây tranh cãi

Cambodia loan báo hôm Thứ Năm rằng họ sẽ bắt đầu công việc của kinh đào Funan Techo trong tháng 8.  Dự án trị giá 1,7 tỉ USD (€1.6 billion) sẽ nối thủ đô của Cambodia, Phnom Penh, với biển – châm ngòi cho những lo ngại ở Việt Nam về ảnh hưởng của nó đối với việc sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nơi cư trú của 17.4 triệu người.

Các nhà môi trường cũng lo ngại rằng kinh đào dài 180 km sẽ có tiềm năng làm giảm dòng chảy của Mekong, trong số những con sông có đa dạng sinh học nhất trên thế giới.

Chỉ trích khí hậu đang làm phức tạp vấn đề, với việc trì hoãn của mùa mưa và thêm nhiều đợt nóng làm khô đất phì nhiêu.

Nguồn cung cấp thực phẩm toàn cầu bị áp lực

Chu kỳ lũ lụt-hạn hán hàng năm của Mekong hỗ trợ việc di chuyển vô cùng quan trọng của cá và đa dạng sinh học nước ngọt.  Chiếm trên 15% số cá đánh được trong nội địa toàn cầu, sông nắm giữ nền thủy sản nội địa lớn nhất trên thế giới.

Ở một số nơi nhất định, tuy nhiên, số cá đã sụt giảm trên 87% trong 2 thập niên qua.

“Nó là vấn đề có nhiều mặt.” theo Courtney Weatherby, phó giám đốc chương trình ĐNA của Trung tâm Stimson, một tổ chức nghiên cứu dành cho việc tìm kiếm những giải pháp thực tiễn cho những vấn đề xuyên biên giới.

“Nhưng một số trong những thách thức nầy có thể được nối với việc xây đập miệt mài đã xảy ra trên khắp Mekong trong những thập niên gần đây.”

Thu hoạch sức mạnh của nước chảy để sản xuất điện là một trong những dạng xưa nhất của năng lượng tái tạo.  Đặc biệt ở ĐNA, các đập thủy điện đã trở thành một nguồn năng lượng sạch và đáng tin cậy – và thu nhập.

“Anh đối mặt với tiến thoái lưỡng nan khi thủy điện được xem là sạch và cần thiết.  Nhưng cùng lúc, nó có những ảnh hưởng môi trường phi carbon, có thể rất sâu xa,” Weatherby nói với DW.

 

Sông Mekong bị đe dọa bởi các đập, thay đổi khí hậu

Các dự án thủy điện ảnh hưởng nhịp tự nhiên của sông, theo Stimson.  Chúng thay đổi mực nước, ngăn chận những đường di chuyển của cá và ảnh hưởng đến nông nghiệp dựa vào khả năng tự nhiên của hệ thống sông để sản xuất phù sa, chất dinh dưỡng và mang nước qua hệ thống.

Cân bằng tài nguyên của Mekong với nhu cầu năng lượng

Với những giải pháp thay thế ít xáo trộn hiện có – chẳng hạn như điện gió và mặt trời – một số chuyên viên nói rằng hạ tầng cơ sở thủy điện cũng có thể là một phần của giải pháp.

Việc xây dựng những công viên gió đại qui mô và thiết lập những tấm quang điện nổi trên các hồ chứa đập Mekong đang được tiến hành ở Lào và Thái Lan.

Những dự án nầy có thể điều hành hỗn hợp với thủy điện, cung cấp tiềm năng cho đầu tư trong tương lai để từ từ chuyển từ các đập sang điện gió và mặt trời.

Theo Weatherby, ý tưởng của những đường lối thay thế nầy đối với thiết kế năng lượng là xem chúng “không phải là những dự án duy nhất, nhưng là một đóng góp hệ thống rộng lớn hơn” cho một tương lai sạch hơn.

Những giải pháp dựa trên thiên nhiên

Với những hệ sinh thái đa dạng hiện diện trong khu vực, gồm có đất ngập nước, đồng lụt và rừng, Ủy hội Sông Mekong (MRC) thấy tiềm năng lớn trong việc thực hiện các giải pháp dựa trên thiên nhiên.

Thay vì thuần hóa Mekong với bê tông và lòng lạch hóa những chướng ngại, sông phải phục hồi hành trình của chính mình qua việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Thí dụ, rừng đước và đầm lầy có thể có tác dụng như những miếng xốp, thu hút nước và làm giảm ảnh hưởng của sóng biển lên bờ biển.

“Phục hồi và bảo vệ những nơi cư trú thiên nhiên nầy có thể giúp giảm nhẹ lũ lụt, cải thiện phẩm chất nước, và nâng cao đa dạng sinh học,” Văn phòng MRC nói với DW,

Nghị quyết 120 mới của Việt Nam, dành để chuyển sang chịu đựng khí hậu, cung cấp hy vọng.  Nó cho thấy rằng có quan tâm gia tăng ở cấp chánh sách trong việc xác nhận các giải pháp dựa vào thiên nhiên như những thay thế khả thi cho nhiều hạ tầng cơ sở hiện đại hơn.

Lắng nghe người địa phương

Mặc dù người dân sống dọc theo sông chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các dự án phát triển Mekong, MRC cũng xem họ thuộc hạng có kiến thức nhất và quan trọng nhất trong việc thúc đẩy những giải pháp thay thế và những dường lối trong khu vực.

Một thí dụ cụ thề của việc làm thế nào để các tổ chức cộng đồng có thể nói cho Mekong và thúc đẩy các chánh sách để đáp ứng với người dân địa phương là Nhóm Bảo tồn Chiang Khong (CKCG) ở bắc Thái Lan.

Trên Mekong chảy qua Lào.

Trong năm 2020, sau gần 20 năm vận động, nhóm thành công trong việc ngăn chận các kỹ sư Trung Hoa phá nổ các ghềnh đá trong sông dọc theo biên giới Thái-Lào để cho phép các tàu chở hàng lớn của Trung Hoa đi xa thêm xuống hạ lưu.

Đó là lần đầu tiên chánh phủ Thái ngưng một dự án xuyên biên giới vì nguy hại môi trường tiềm tàng của nó.

“Chúng ta cần chấp nhận kiến thức truyền thống.  Điều nầy sẽ mang lại kết quả trong việc bảo tồn năng lượng, một quan điểm hệ thống, và một chánh sách tập trung vào sinh thái thay vì con người và những hành động khai thác,” Noparat Lamun của CKCG nói với DW.

Cùng với tổ chức Trường Mekong, Lamun và nhóm của ông rút kiến thức của địa phương và trao đổi với các nhà nghiên cứu.  Cộng đồng tăng không ngừng của họ đang huấn luyện người địa phương và những nhà môi trường trẻ làm cách nào để bảo vệ tốt nhất nguồn nước của họ và châm ngòi cho việc tham gia của cư dân trên khắp Mekong và xa hơn.

“Sông không lành mạnh hiện nay, nhưng cũng chưa chết.” Weathrby nói.

“Có quá nhiều năng lượng không những trong không gian thành phần tư nhân mà còn giữa giới trẻ trong những quốc gia nầy thật sự thúc đẩy cho việc chuyển đổi, và rằng nó phấn khởi và hứa hẹn.”

Wednesday, June 12, 2024

DIỄN ĐÀN NƯỚC Ở BALI THẢO LUẬN VIỆC QUẢN LÝ MEKONG

(Bali water forum discusses managing the Mekong)

Paritta Wangkiat – Bình Yên Đông lược dịch

Mekong Eye – 27 May 2024

 

Các phái đoàn quốc gia tập trung ở Phiên họp Bộ trưởng trong lúc giải thích việc Chấp nhận Tuyên cáo của Bộ trưởng và Nhận xét Kết thúc như một phần của Diễn đàn Nước Thế giới lần thứ 10th ở Nusa Dua, Bali, Indonesia. [Ảnh: Walidi Septiawan]

 

Những thách thức vẫn còn khi những vấn đề xuyên biên giới dọc theo sông Mekong được nghiên cứu kỹ lưỡng ở Diễn đàn Nước Thế giới

BALI, INDONESIA – Tại Diễn đàn Nước Thế giới ở Bali tuần trước, khu vực Mekong được làm nổi bật như một mô hình của hợp tác nước xuyên biên giới thành công.  Tuy nhiên, các cộng đồng ở địa phương nhấn mạnh rằng thực hiện hợp tác có ý nghĩa trên tất cả mọi cấp vẫn là một thách thức đang diễn ra.

Anoulak Kittikhoun, CEO của văn phòng Ủy hội Sông Mekong (MRC), tham gia tích cực trong các thảo luận nhóm khác nhau của Diễn đàn Nước Thế giới lần thứ 10th để chia sẻ những bài học từ khu vực của ông.

“Mekong được xếp hạng là một sông lớn trên thế giới, vì thế nhiều bên có quan tâm từ khắp nơi trên thế giới chú ý đến cái chúng tôi đang làm trong Mekong và làm thế nào MRC hỗ trợ các quốc gia thành viên để hợp tác,” Anoulak nói ở diễn đàn.

“Chúng tôi chia sẻ những bài học trong nhiều nhóm khác nhau, không chỉ tử văn phòng MRC mà còn từ những đại diện quốc gia MRC, như sự tham gia của các bên liên hệ, kỹ thuật theo dõi sông, tiên đoán, hợp tác trong việc chia sẻ dữ kiện và thi hành những thủ tục.”

Được tổ chức mỗi 3 năm, Diễn đàn Nước Thế giới 2024 được cầm đầu bởi World Water Council (Hội đồng Nước Thế giới) và chánh phủ Indonesia, tập họp 50.000 tham dự viên từ trên 160 quốc gia.

Trong hơn 1 tuàn lễ, những buổi thảo luận nhóm có chủ đề và những buổi họp kín và mở về những thách thức và giải pháp nước được tổ chức ở nhiều cấp bởi các bộ trưởng, các viên chức chánh phủ, những người cho, giới học thuật và thành phần tư nhân, mặc dù sự hiện diện nhỏ của những nhóm xã hội dân sự và cộng đồng vì phí vào cửa cao.

Kỹ thuật và các giải pháp nước được trưng bày ở triển lãm với hạ tầng cơ sở màu xám, những kiến trúc kỹ thuật truyền thống như đập và kinh đào được trình bày rất nhiều, cùng với kỹ thuật khác như nông nghiệp thông minh, một cặp số để quản lý nước, và những hệ thống cảnh báo sớm.

 

Một phái đoàn trò chuyện với nhân viên khi thăm viếng một quầy trưng bày ở Diễn đàn Nước Thế giới thứ 10th ở Trung tâm Hội nghị Bali Nusa Dua ở Indonesia.

[Ảnh: Muhammad Adimaia]

 

Tổng thống Indonesia Joko Widodo chào đón CEO của Tesla và SpaceX Elon Musk trong lễ khai mạc Diễn đàn Nước Thế giới lần thứ 10th 2024 ở Bali, được tổ chức từ 18 đến 25 tháng 5. [Ảnh: Maulana Surya]

 

Mặc dù bị chỉ trích vì thúc đẩy của doanh nghiệp, với CEO của SpaceX Elon Musk đọc diễn văn khai mạc trong khi trên 110 thỏa thuận dự án nước được đồng ý hay thảo luận, diễn đàn đã thực hiện cam kết của mình để giải quyết nhiều vấn đề khí hậu và nước vô cùng quan trọng.

Trong số những vấn đề nầy là cai quản nước xuyên biên giới, được làm nổi bật trong nhiều buổi thảo luận nhóm được tham dự bởi các đại diện của MRC và các viên chức chánh phủ từ Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam.

 XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

CÁC ĐẬP THỦY DIỆN MEKONG CÓ XANH THẬT SỰ?

  

(Are Mekong hydro dams truly green?)

Kongpob Areerat – Bình Yên Đông lược dịch

Mekong Eye – 3 June 2024

 

Đập Pak Mun hoạt động trên phụ lưu Mekong, sông Mun, trong tỉnh Ubon Ratchathani ở đông bắc Thái Lan.  Từ khi hoàn tất trong năm 1994, đập được nối với sự sụt giảm các loại cá trong sông, là một phụ lưu của sông Mekong.

[Ảnh: Visarut Sankham]

 

Sông Mekong trở nên một mục tiêu chánh của các đập thủy điện nhằm phục vụ cho cố gắng của chánh phủ để giảm phóng thích

Kế hoạch Năng lượng Quốc gia (NEP) của Thái Lan – một bản vẽ phác họa chiến lược năng lượng của nước nầy từ 2023 đến 2037, đã được ca ngợi vì những mục tiêu gia tăng sử dụng năng lượng tái tạo sạch ở Thái Lan.

Kế hoạch nói rằng vào năm 2050, ½ điện tiêu thụ phải là năng lượng tái tạo và sạch – quang điện, gió, sinh khối, điện nguyên tử nhỏ, và các đập thủy điện.

Cần phải lưu ý rằng một phần lớn năng lượng tái tạo đến từ các đập thủy điện, hầu hết được xây trên sông Mekong trong lãnh thổ của Lào PDR.

Cơ quan Phát Điện Thái Lan (EGAT) đã ký những thỏa thuận với Lào để mua 10.500 MW điện từ các đập thủy điện được xây ở Lào – gồm có 1.285 MW [12.850 MW?] từ các đập Xayaburi, Don Sahong, Luang Prabang, Pak Beng và Pak Lay.  Những kế hoạch nầy được đồng đầu tư bởi các nhà đầu tư Thái.

Về phần doanh nghiệp năng lượng, sông Mekong đã trở thành một điểm nóng của các nhà đầu tư để xây đập thủy điện và bán cho các chánh phủ đang cố gắng làm giảm phóng thích.  Thí dụ, Thái Lan đã đầu tư vào những đập quan trọng và bán điện cho EGAT.

Kỹ nghệ đập thủy điện có sự bắt buộc hợp đồng đặc thù.  Thí dụ, các đập thủy điện bán điện cho EGAT sẽ ký cái gọi là hợp đồng ‘Lấy hay Trả” – một hợp đồng bảo đảm giá cả để thu hút các nhà đầu tư đặt những số tiền lớn để xây những dự án hạ tầng cơ sở công cộng lớn.

Mặc dù Thái Lan đang có thặng dư điện 30%, EGAT phải mua tất cả năng lượng được sản xuất từ những kế hoạch nầy, kể cả điện không sử dụng.

Rồi EGAT chuyển giao chi phí mua năng lượng vào hóa đợn điện hàng tháng dưới hình thúc của “FT” (Thuế Nhiên liệu).  Điều đó giải thích tại sao các đập thủy điện là một đầu tư có lợi.

Mặc dù làm ra điện từ dòng nước có vẻ thân thiện, các nhà làm chánh sach phần lớn gạt ra ngoài lề những vấn đề chẳng hạn như những ảnh hưởng xã hội và môi trường.  Tranh luận như thế rất quan trọng vì thế giới đang đối mặt với những vấn đề môi trường cũng như cạnh tranh tài nguyên thiên nhiên.

Về mặt phóng thích carbon, khí methane từ các đập thủy điện thường bị bỏ quên.  Methane là một khí nhà kiếng.  Nó có thể ít được biết đến, nhưng nó mạnh hơn carbon dioxide (CO2) 80 lần.  Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), từ cuộc Cách mạng Kỹ nghệ, nó đã đóng góp khoảng 30% hâm nóng toàn cầu.

Một nghiên cứu học thuật “Hồ chứa CO2 và phóng thích CH4 và ảnh hưởng khí hậu của chúng trong thời kỳ 1900-2060”, được thực hiện bởi Sara Mercier-Blais, một phụ tá nghiên cứu ở Université du Québec à Montreal (UQAM), nói rằng 1 tỉ tấn CO2 tương đương vào khí quyển, phần lớn ở trong dạng methane từ các hồ chứa nước – một số là những hồ chứa nước sau đập lớn.

Methane được sản xuất trong phù sa nước ngọt qua việc phân hủy chất hữu cơ giàu carbon của vi khuẩn trong điều kiện yếm khí, thịnh hành trong môi trường như các đầm lầy nhiệt đới, vũng than bùn, và đất ngậm nước trong các hồ chứa cũng như đồng lúa và trại nuôi bò sữa.

Methane phóng thích từ các hồ chứa nước (thủy điện hay mục đích khác) chiếm 5,2% methane do con người phống thích trong năm 2020.

Mặc dù thế, Mercier-Blais cảnh báo rằng một số hồ chứa nước mới được mong đợi được xây trong khí hậu ấm hơn trong tương lai có tiềm năng phóng thích methane cao hơn, tùy theo vị trí.

Nhiều chánh phủ đã cố gắng để giảm phóng thích methane trên qui mô toàn cầu.  Vì thế, khoảng 150 quốc gia đã cam kết trong Global Methane Pledge (Lời hứa Methane Toàn cầu), nhằm làm giảm phóng thích methane từ hoạt động của con người 30% của mức 2020 vào năm 2030.

Cần phải nói rằng phái đoàn của chánh phủ Thái cũng tham dự COP ở Glasgow đã không tham gia vào Lời hứa Methane Toàn cầu.

Các kế hoạch đập thủy điện lớn, chẳng hạn như đập lớn nhất trên thế giới, đập Tam Hiệp (Three Gorges) ở Trung Hoa, đã bị chỉ trích vì ảnh hưởng xã hội và môi trường mà nó gây ra.  Hàng ngàn cộng đồng bị nhổ bật gốc cho việc xây cất đập Tam Hiêp.

Gần hơn trong tâm trí của chúng ta là đập Pak Mun được xây 3 thập niên trước trên sông Mun trong tỉnh Ubon Ratchathani.

Được xây và điều hành bởi EGAT, những lợi ích của đập thủy điện 136 MW bị lu mờ bởi ảnh hưởng sinh thái và xã hội kéo dài mà nó gây ra.

Mặc dù đập thủy điện sản xuất một số điện nhỏ chỉ trong mùa mưa khi nước trong sông Mun đủ nhiều để chạy turbine, các cộng đồng phải dời chỗ ở.  Nền thủy sản tự do ở địa phương được thay thế bởi những trại nuôi cá thương mại sau khi kiến trúc đập được xây.

Các đập được xây trên các sông xuyên biên giới rất quan trọng như Mekong cũng đối mặt với những chỉ trích tương tự.

Ủy hội Sông Mekong (MRC) đã cảnh báo rằng các đập được dự trù trên dòng chánh có thể làm mất 1 triệu tấn một năm số cá Mekong đánh được.

MRC cũng tiên đoán rằng dòng chảy của phù sa và chất dinh dưỡng đến Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam (ĐBSCL) có thể giảm gần 100%, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế canh tác của Việt Nam dựa vào phù sa sông giàu chất dinh dưỡng được mang xuống hạ lưu.

ĐBSCL sản xuất khoảng 50% số lúa của Việt Nam và chiếm khoảng 30% GDP của quốc gia.

Các dự án thủy điện của Trung Hoa ở thượng lưu và những dự án hiên nay trên các phụ lưu Mekong ở Lào đã thay đổi nhịp lũ hàng năm của Mekong.

Trong tháng 4, Vientiane trải qua vài giờ bị cúp điện sau khi nước Mekong khô cạn.  Thay đổi thình lình trong mực nước được liên kết với việc giữ nước của các đập ở thượng lưu để sản xuất điện.

Ở hạ lưu, sự thay đổi mực nước trong sông Mekong, đã ảnh hưởng đến sự nới rộng hàng năm của hồ Tonle Sap và làm giảm lớn lao số cá đánh được trong hồ Tonle Sap ở Cambodia.  Thay đổi trong dòng chảy cũng làm tăng sạt lở bờ sông.

Đánh giá Ảnh hưởng Xã hội được thực hiện trong năm 2010 cho dự án Xayaburi, với tham vấn của MRC, cho thấy rằng khoảng 4.000 gia đình sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.

Tuy nhiên, NGO môi trường quốc tế International Rivers (Sông ngòi Quốc tế) đã thách thức rằng ảnh hưởng thật sự có thể lớn hơn nhiều, ảnh hưởng đến 200.000 người.

Câu hỏi là làm thế nào các quốc gia Mekong hay các cộng đồng đo đạc ảnh hưởng thật sự của các dự án đập.

Bất cứ dự án được đề nghị trên hạ lưu Mekong phải được đưa đến bàn thảo luận giữa các chánh phủ của 4 quốc gia – Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam – đã ký kết Thỏa ước Mekong trong năm 1995 và thành lập MRC.  Họ không thể phủ quyết các dự án mà chỉ nêu lên những lo ngại về ảnh hưởng tiêu cực xuyên biên giới.

Hãy nhìn nghiên cứu ảnh hưởng môi trường cho đập Pak Lay.  Trong diễn đàn khu vực đầu tiên về các dự án đập được tổ chức ở Vientiane trong tháng 9 năm 2018, Save the Mekong (Cứu Mekong) – một liên minh các tổ chức xã hội dân sự trong khu vực Mekong – cho diễn đàn thấy rằng ít nhất 90% của chương Điều kiện Xã hội Căn bản của phúc trình đập Pak Lay được chép lại từ phúc trình của đập Pak Beng đang xây cất.

Lối thực hành nầy khiến cho phúc trình không thích hợp để cứu xét dự án.

Đập Luang Prabang, cũng đang được xây cất, chỉ cách thành phố Luang Prang 25 km về phía thượng lưu – một khu Di sản Thế giới của UNESCO và là cố đô của Lào,  Điều nầy gây lo ngại đặc biệt.  Những nhà phê bình cũng cảnh báo về ảnh hưởng của động dất vì đập nằm [ở gần đường nứt địa chất].

Một quyết định về dự án năng lượng đang thách thức, nhất là khi các yếu tố môi trường chẳng hạn như giảm phóng thích và ảnh hưởng sinh thái và xã hội.  Sau rốt, chánh sách năng lượng là một vấn đề phức tạp.  Các nhà làm chánh sách không thể lấy một quyết định trao đổi đơn giản dựa trên sự đứng vững tài chánh.

Chúng ta phải liên tục hỏi các nhà làm chánh sách của chúng ta và tự hỏi: Sự chọn lựa nầy có thật sự tốt cho môi trường? Có sự lựa chọn tốt hơn mà không đòi hỏi chúng ta phải đánh đổi giữa năng lượng và ảnh hưởng sinh thái và xã hội?

 

Sunday, June 2, 2024

MEKONG VÀ SALWEEN SẼ TRẢ GIÁ CHO VIỆC CHUYỂN ĐỔI NĂNG LƯỢNG CỦA TRUNG HOA?

(Will the Mekong and Salween pay the price of China’s energy transition?)

Carolyn Cowan – Bình Yên Đông lược dịch

Mongabay – 22 May 2024

 

Nông dân trong các quốc gia ở hạ lưu dùng những hình thức nông nghiệp truyền thống dựa vào chất dinh dưỡng từ những chu kỳ lũ lụt tự nhiên của Mekong và Salween.

[Ảnh: Demetza Stokes]

 

·                    Nhiều đề nghị của một số phóng thích khí nhà kiếng lớn nhất trên thế giới để chuyển thành phần năng lượng của họ ra khỏi nhiên liệu hóa thạch và tiến tới năng lượng tái tạo nói chung được ca ngợi bởi cộng đồng khoa học là đi đúng hướng

·                    Tuy nhiên, mặc dù công nhận việc chuyển đổi năng lượng là cần thiết, các chuyên viên năng lượng lưu ý các nhà làm sách sách cũng cứu xét những hậu quả sinh thái và xã hội không có chủ ý của việc gia tăng hạ tầng cơ sở tái tạo, chẳng hạn như đập thủy điện đại qui mô và các nông trại gió và mặt trời.

·                    Một nghiên cứu mới cho thấy các kế hoạch của Trung Hoa để phi carbon hóa thành phần năng lượng của họ vào năm 2060 có thể có những ảnh hưởng không có chủ ý nhưng tai hại đối với đất canh tác ở địa phương và các lưu vực sông xuyên biên giới, đáng kể là Mekong và Salween

·                    Các tác giả nói rằng những chiến lược để giảm nhu cầu điện kết hợp với việc gia tăng đầu tư vào những kỹ thuật năng lượng mới xuất hiện có thể ngăn chận sự cần thiết bành trướng thêm thủy điện ở thượng lưu của những sông quan trọng nầy, vì thế giảm bớt những ảnh hưởng lớn lao và nhanh chóng ở hạ lưu.

Thành phần năng lượng là nguồn lớn nhất duy nhất của việc phóng thích khí nhà kiếng của con người, khuyến khích nhiều kế hoạch của thế giới để chuyển thành phần ra khỏi nhiên liệu hóa thạch và tiến đến năng lượng tái tạo.  Mặc dù những kế hoạch phi carbon hóa của một số của những quốc gia hàng đầu trên thế giới thường được hoan nghênh, các chuyên viên năng lượng nói những nhà lấy quyết định phải thận trọng trong khi thiết kế các chiến lược phi carbon hóa để cứu xét đầy đủ những hậu quả sinh thái và xã hội không có chủ ý của sự gia tăng nhanh chóng hạ tầng cơ sở tái tạo.

“Nếu chúng ta nghĩ đến bất cứ thay đổi kỹ thuật quan trong nào, chúng luôn luôn có cái giá và những hậu quả không có chủ ý,” Stefano Galelli, một phó giảng sư kỹ thuật môi trường của Đại học Cornell ở Hoa Kỳ, nói.  “Chúng ta nhận thức và giải quyết sớm chừng nào thí việc chuyển đổi năng lượng sẽ khả chấp và công bằng chửng đó.  Chúng ta phải làm đúng.”

Trong một nghiên cứu mới được công bố trên Communications Earth & Environment, Galelli và đồng nghiệp của ông từ Trung Hoa và Hoa Kỳ lượng định làm thế nào các kế hoạch của Trung Hoa để phi carbon hóa thành phần năng lượng của họ vào năm 2060 có thể có những ảnh hưởng không có chủ ý nhưng nghiêm trọng đối với đất canh tác địa phương và các lưu vực sông xuyên biên giới, đáng kể là Mekong và Salween.  Các nhà nghiên cứu cũng cứu xét làm thế nào những giải pháp thay thế và kỹ thuật mới có thể giúp tối thiểu hóa những ảnh hưởng tệ hại nhất.

“Phi carbon hóa cần thiết, chúng ta phải thực hiện,” Galelli nói với Mongabay.  “Nhưng chúng ta phải nghĩ đến những trao đổi với môi trường hiện nay, thay vì sau nầy.  Phải hiểu cái có thể đến trong 4 năm tới có thể cho chúng ta một chỉ dấu của những đường lối ít có ảnh hưởng nhất và cho chúng ta cơ hội để đi đến thành công.”

 

Đập Jinghong (Cảnh Hồng) 1.750 MW được xây trên Lancang (sông Mekong ở Trung Hoa). [Ảnh: International Rivers]

 

Những thủy lộ vô cùng quan trọng

Là nền móng cho một trong những nền thủy sản nội địa lớn nhất trên thế giới và duy trì những hệ sinh thái đặc thù và các chủng loại nước ngọt không thể tìm thấy ở nơi khác trên hành tinh, sông Mekong hành trình từ Trung Hoa qua 5 quốc gia Đông Nam Á (ĐNA).  Tuy nhiên, việc phát triển thủy điện bùng nổ trong 2 thập niên qua trên khắp lưu vực sông đã thay đổi nhịp lũ theo mùa vô cùng quan trọng đã thúc đẩy thủy sản và năng suất nông nghiệp của khu vực.

Tính đến giữa tháng 5 năm 2024, có 745 đập trên dòng chánh và các phụ lưu trong lưu vực Mekong, theo Mekong Dam Monitor (MDM) (Theo dõi Đập Mekong) được điều hành bởi tâm Stimson ở Washington DC.  Trong số những đập nầy, 209 để sản xuất thủy điện, với những đập khác dùng cho thủy nông, cung cấp nước đô thị, và ngừa lụt. Đã bị bao quanh bởi những căng thẳng địa chánh trị do đập thúc đẩy, việc ngăn thêm đập đại qui mô trên thượng lưu Mekong ở Trung Hoa sẽ không tránh khỏi những vấn đề kết hợp dọc theo hệ thống sông đã chật vật.

Trong khi đó, việc ngăn đập khúc sông Salween ở Trung Hoa, một trong những hệ thống sông chảy tự do cuối cùng ở ĐNA, có thể gây nguy hiểm tương tự cho những tiến trình duy trì đời sống ở khúc sông hạ lưu chảy qua Myanmar.  Nông dân trong quốc gia bị xung đột xé nát dùng những hình thức nông nghiệp truyền thống dựa trên chu kỳ lũ lụt tự nhiên để mang phù sa xuống hạ lưu, bao phủ đất ven sông với chất dinh dưỡng để bón cho hoa màu của họ.  Các cộng đồng ở Myanmar đã thấy những ý định liên tục của nhà nước để ngăn đập Salween.

 

Salween uốn khúc qua núi đá vôi trong bang Karen của Myanmar qua thủ phủ Hpa-An trên đường đến vịnh Bengal, 

[Ảnh: Demelza Stokes]

 PLEASE CLICK "READ MORE" TO READ 

China-Funded Canal Project Strains Cambodia-Vietnam Ties (English & VNese)

Phnom Penh claims that the Funan Techno Canal will give it greater economic autonomy, but Hanoi is concerned about the project’s environmental and security implications.

By Huynh Tam Sang

May 17, 2024

A fishing boat moves past floating houses in Cai Be, a town in the Mekong Delta in southern Vietnam.

Credit: Photo 65456456 © Luca Roggero | Dreamstime.com

Although not officially acknowledged, the Funan Techno Canal, a strategic infrastructure project designed to connect the Mekong River to the Cambodian coast, is causing friction between both Vietnamese and Cambodian authorities and academics in the lead-up to the anticipated ground-breaking later this year. Vietnamese newspapers and social media networks have been captivated by this contentious project. Some Vietnamese observers have even called for the halt of the project that they deem risky and opaque.

Concerns have also lingered among Vietnamese scholars and netizens regarding the canal’s potential environmental impacts, and, even more seriously, China’s possible military use of the canal. The China Road and Bridge Corporation, a major Chinese state-owned enterprise, will oversee this grand project under a build-operate-transfer scheme, intensifying speculations about the murky relationship between Phnom Penh and Beijing.

The Vietnamese government has repeatedly requested more information from Cambodia and consultations among Mekong stakeholders, including the Mekong River Commission, to mitigate the potential ecological impacts of the canal project on the Mekong River basin. In a meeting with Cambodian Deputy Prime Minister Neth Savoeun last week, Vietnamese Prime Minister Pham Minh Chinh articulated a desire to work closely with Cambodia and other Mekong nations to navigate the Mekong River toward harmonious interests and long-term prosperity.

Vietnam has “asked Cambodia to collaborate” on the project, stated Doan Khac Viet, deputy spokesperson of the Ministry of Foreign Affairs, during a press briefing last month. Le Thi Thu Hang, another Ministry spokesperson, subsequently took a softer line, noting that Vietnam was “highly interested” in the project and “respected the legitimate interests of Cambodia” in line with the 1995 Mekong Agreement. Hang also reiterated Vietnam’s support for Cambodia’s achievements and praised the “fine neighborliness, traditional friendship, comprehensive cooperation” that has characterized the bilateral relationship, presumably to allay Phnom Penh’s probable ire over Hanoi’s persistent expressions of concerns.

But Phnom Penh has been unwavering in its intention to move forward with the 180-kilometer canal. According to Cambodia’s Deputy Prime Minister Sun Chanthol, the project will create economic zones and bring benefits to the country in the areas of trade, tourism, urban planning, and construction, with very little negative impact. He added that the “canal will not be used for any foreign military, as it is against the Cambodian Constitution.” Cambodian newspapers communicated the government’s intent to build the canal by underlining the Cambodian authorities’ “unshakable commitment” to the project “despite objections from Vietnam and several outside parties.”

Cambodia has good grounds to maintain its resolve on its strategic project. With the Funan Techo Canal, the country hopes to reduce transportation costs instead of relying on the current route through Vietnamese ports, mitigate the cost of shipping containers from Phnom Penh to the sea, boost agricultural and aquacultural development, and create jobs for 10,000 Cambodian workers. Because of its small size, limited resources, and vulnerable location, Cambodia must find ways to increase its room for maneuver while seeking diplomatic backing and financial aid from regional powers, particularly China.

Central to Cambodia’s ambition and resolute stance is Prime Minister Hun Manet’s vision of increasing the country’s agency amid intensifying great power rivalry and strategic uncertainties. Last year, during his first overseas tour as prime minister, Hun Manet visited China, where he and Chinese President Xi Jinping vowed to reinforce their commitments towards “deepening China-Cambodia comprehensive strategic partnership of cooperation and achieving high-quality and sustainable common development.” Close personal and state-to-state ties have evolved into the lauded “unbreakable” “ironclad friendship” between the two countries. This is particularly true given that former Prime Minister Hun Sen, the father of Hun Manet, is widely known for his staunch support of Cambodia-China relations.

Still, Hun Manet’s diplomatic outreach has extended beyond China. In December of last year, Hun Manet and his Japanese counterpart Kishida Fumio agreed to deepen security ties and signed seven memoranda of understanding on investment, trade, and other issues. On Manet’s European tour in January, Cambodia and France upgraded their bilateral relationship to a strategic partnership, and leaders from both sides underscored the need to double down on bilateral investment and trade. But Cambodia’s recent strides in mending ties with the United States is the most significant accomplishment. Despite long-standing concerns about Cambodia’s poor record of human rights and corruption, Washington has been more open to expanding investments in the country in the hopes of fostering fruitful collaboration on conservation, education, health, and other socio-cultural fields.

Hun Manet’s successes on this front have contrasted starkly with his father’s administration. Hun Sen, who handed the reins of power to Hun Manet in August last year, had trouble getting closer to the U.S., due to entrenched American perceptions of Hun Sen’s authoritarian style and U.S. concerns about democratic backsliding, political oppression, media censorship, and concerns about the presence of the Chinese military at Cambodia’s Ream Naval Base. Though bilateral trade between the two nations increased steadily, and the U.S. was a significant export market for Cambodia, diplomatic ties stayed stagnant due to the profound mutual distrust between Hun Sen and the U.S. government.

Cambodia’s recent diplomatic initiatives, particularly its creeping rapprochement with Western partners, are indicators of the incumbent administration’s efforts to enhance its agency. Though China remains a crucial partner of Cambodia and it might take years to boost Phnom Penh’s profile in the eyes of Western powers, Cambodia under Hun Manet has sought to diversify its friendships beyond China-centric economic ties and reduce the kingdom’s over-reliance on any one country. For a small state like Cambodia, a good strategy lies in tangible efforts to maintain its strategic autonomy through omnidirectional engagement with great and middle powers. The adjustment of the foreign-policy posture by Hun Manet’s government portrays Cambodia’s desire to secure the strategic space conducive to its development.

As for the Funan Techno Canal, the Cambodian government has remained resolute in its resolve to proceed with the planned project, without delay or negotiation with Vietnam. The canal project presents an opportunity for Cambodia’s young leader to establish himself as a steadfast advocate for the country’s national interests and to shore up his authority. At his swearing-in ceremony in August 2023, Hun Manet pledged to speed up development and enhance Cambodians’ livelihoods. The canal project is expected to bolster Cambodia’s self-reliance, drive its economic and social progress, and help the country reach its goals of becoming an upper-middle-income country by 2030 and a high-income country by 2050.

More than 17.4 million Vietnamese call the Mekong Delta, the nation’s primary granary, home, and so Vietnam has every reason to be worried about the canal’s possible impacts. The success of the canal operation depends on the stakeholders’ ability to communicate constructively and use reasonable calculations and well-formulated measures in their planning. However, Vietnam’s persistent appeals have failed to make Cambodia think twice about the Funan Techo Canal. Hence, both Vietnamese officials and ecological experts should be prepared with expert-led strategies and practical solutions to better cope with the environmental and ecological impacts that may result from the project. Given the apparent deadlock between the two Southeast Asian nations over the canal issue, the adage “God helps those who help themselves” certainly applies in this case.

Once considered allies in the resistance war against the United States, Cambodia and Vietnam have framed their ties with the mantra “good neighborliness, traditional friendship, comprehensive cooperation, and long-term stability.” But Cambodia and Vietnam are now grappling with the harsh realities of pragmatic politics, which has put this traditional relationship under strain and situated them on opposite sides of the canal issue. With Cambodia backed by China, and unwilling to back down, it is unlikely that the two countries can find common ground on a project that is infused with nationalistic importance.

SOURCE:

https://thediplomat.com/2024/05/china-funded-canal-project-strains-cambodia-vietnam-ties/

 

DỰ ÁN KINH ĐÀO ĐƯỢC TRUNG HOA TÀI TRỢ GÂY CĂNG THẲNG CHO NHỮNG RÀNG BUỘC CAMBODIA-VIỆT NAM

(China-Funded Canal Project Strains Cambodia-Vietnam Ties)

Huynh Tam Sang- Bình Yên Đông lược dịch

The Diplomat – May 17, 2024

 

Một thuyền đánh cá đi qua những nhà nổi ở Đồng bằng sông Cửu Long ở miền nam Việt Nam. [Ảnh: Luca Roggero]


Phnom Penh tuyên bố rằng kinh đào Funan Techo sẽ cho Cambodia quyền tự trị kinh tế lớn hơn, nhưng Hà Nội lo ngại về những hệ quả môi trường và an ninh của dự án.

Mặc dù không công nhận chánh thức, kinh Funan Techo, một dự án hạ tầng cơ sở chiến lược được thiết kế để nối sông Mekong với bờ biển Cambodia, đang gây căng thẳng giữa chánh quyền và giới học thuật của Việt Nam và Cambodia trước khi được khởi công dự trù vào cuối năm nay.  Báo chí và hệ thống truyền thông xã hội của Việt Nam đã bị thu hút bởi dự án hay cãi nhau nầy.  Một số quan sát viên Việt Nam đã kêu gọi ngưng dự án mà họ cho là rủi ro và mờ ám.

Nhiều lo ngại cũng kéo dài trong nhiều học giả và công dân mạng Việt Nam về những ảnh hưởng môi trường tiềm tàng của kinh, và nghiêm trọng hơn, khả năng sử dụng quân sự của Trung Hoa.  Tổ hợp Vành đai và Con đường của Trung Hoa, một doanh nghiệp quốc doanh quan trọng của Trung Hoa, sẽ giám sát dự án lớn lao nầy dưới dạng xây-điều hành-chyển giao (BOT), tăng cường những suy đoán về mối liên hệ tối tăm giữa Phnom Penh và Beijing (Bắc Kinh).

Chánh phủ Việt Nam đã liên tục yêu cầu thêm tin tức từ phía Cambodia và tham vấn giữa các bên liên hệ Mekong, kể cả Ủy hội Sông Mekong (MRC), để giảm nhẹ những ảnh hưởng sinh thái tiềm tàng của dự án kinh đào đối với lưu vực sông Mekong.  Trong một phiên họp với Phó Thủ tướng Cambodia Neth Savoeun hồi tuần trước, Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã nói rõ sự mong muốn để cộng tác chặt chẽ với Cambodia và các quốc gia Mekong khác để đưa sông Mekong đến những quyền lợi hài hòa và thịnh vượng lâu dài.

Việt Nam đã “yêu cầu Cambodia cộng tác” về dự án, Đoàn Khắc Việt, phụ tá phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao, cho biết trong một cuộc họp báo trong tháng trước.  Lê Thị Thu Hằng, một phát ngôn viên Ngoại giao khác, sau đó đã dịu giọng hơn, lưu ý rằng Việt Nam “rất quan tâm” đến dự án và “tôn trọng quyền lợi tối hậu của Cambodia” phù hợp với Thỏa ước Mekong 1995.  Hằng cũng nhắc lại sự ủng hộ của Việt Nam đối với những thành tích của Cambodia và ca ngợi “tình láng giềng, tình hữu nghị truyền thống, và việc hợp tác toàn diện cao quý” là đặc tính của mối liên hệ song phương, đoán chừng để làm dịu đi sự giận dữ có thể có của Phnom Penh đối với những bày tỏ lo ngại kéo dài của Hà Nội.

Nhưng Phnom Penh đã không nao núng trong ý định của mình để tiến hành kinh đào dài 180 km.  Theo Phó Thủ tướng Cambodia Sun Chanthol, dự án sẽ tạo nên những vùng kinh tế và mang lợi ích cho quốc gia trong các lãnh vực mậu dịch, du lịch, quy hoạch đô thị, và xây cất, với rất ít ảnh hưởng tiêu cực.  Ông nói thêm rằng “kinh sẽ không được dùng cho bất cứ quân đội ngoại quốc nào, vì nó đi ngược lại Hiến pháp Cambodia.”  Báo chí Cambodia thông tin ý định đào kinh của chánh phủ bằng cách nhấn mạnh đến “cam kết khong lay chuyển” của chánh quyền Cambodia đối với dự án “mặc dù có những chống đối từ Việt Nam và một vài phía bên ngoài.”

Cambodia có nền tảng tốt để duy trì việc giải quyết dự án chiến lược của mình.  Với kinh Funan Techo, quốc gia hy vọng sẽ giảm chi phí vận chuyển thay vì lệ thuộc vào con đường hiện nay qua các cảng của Việt Nam, giảm nhẹ chi phí chở các thùng hàng từ Phnom Penh đến biển, nâng cao việc phát triển nông nghiệp và canh tác ở dưới nước, và tạo công ăn việc làm cho 10.000 công nhân Cambodia.  Vì kích thước nhỏ, tài nguyên hạn chế, và vị trí dễ tổn thương của mình, Cambodia phải tìm cách để gia tăng không gian xoay sở trong khi tìm hậu thuẫn ngoại giao và trợ giúp tài chánh từ những cường quốc khu vực, nhất là Trung Hoa

Trọng tâm của tham vọng và thái độ cương quyết của Cambodia là tầm nhìn của Thủ tướng Hun Manet trong việc gia tăng sức mạnh của quốc gia giữa sự kình địch và những bấp bênh chiến lược mạnh hơn của siêu cường.  Năm ngoái, trong chuyến công du đầu tiên trong chức vụ thủ tướng, Hun Manet thăm viếng Trung Hoa, nơi ông và Chủ tịch Xi Jinping (Tập Cận Bình) thề tăng cường cam kết để “đào sâu đối tác chiến lược toàn diện Trung Hoa-Cambodia để hợp tác và thực hiện phát triển chung phẩm chất cao và khả chấp.”  Những ràng buộc cá nhân và nhà nước-nhà nước chặt chẽ đã tiến hóa thành “tình hữu nghị cứng rắn” “không thể bẻ gãy” được ca ngợi của 2 quốc gia.  Điều nầy đặc biệt đúng vì cựu Thủ tướng Hun Sen, cha của Hun Manet, được biết rộng rãi vì sự ủng hộ chắc chắn mối liên hệ Cambodia-Trung Hoa của ông.

Nhưng, với xa ngoại giao của Hun Manet đã vượt ra ngoài Trung Hoa.  Trong tháng 12 năm rồi, Hun Manet và đối tác Nhật Bản Kishida Fumio đồng ý đào sâu những ràng buộc an ninh và ký 7 biên bản ghi nhớ về đầu tư, mậu dịch và những lãnh vực khác.  Trong chuyến đi Âu Châu của Manet trong tháng 1, Cambodia và Pháp nâng cấp mối liên hệ song phương đến đối tác chiến lược, và các lãnh đạo của 2 phía nhấn mạnh đến sự cần thiết để tăng cường cam kết về đầu tư và mậu dịch song phương.  Nhưng những nỗ lực gần đây của Cambodia để cải thiện những ràng buộc với Hoa Kỳ là một thành tựu đáng kể.  Mặc dù có những lo ngại lâu đời về thành tích về nhân quyền và tham nhũng kém, Washington đã rộng mở hơn để nới rộng dầu tư vào quốc gia với hy vọng khuyến khích sự cộng tác có hiệu quả về bảo tồn, giáo dục, y tế, và những lãnh vực văn hóa-xã hội khác.

Thành công của Hun Manet về mặt nầy ngược lại rõ rệt với nội các của cha ông.  Hun Sen, người đã giao quyền cho Hun Manet trong tháng 8 năm ngoái, có vấn đề trong việc đến gần hơn với Hoa Kỳ, vì nhận thức cố thủ của Mỹ về kiểu toàn trị của Hun Sen và những lo ngại của Hoa Kỳ về sự tụt lùi dân chủ, đàn áp chánh trị, kiểm duyệt truyền thông, và những lo ngại về sự hiện điện của quân đội Trung Hoa ở Căn cứ Hải quân Ream của Cambodia.  Mặc dù mậu dịch song phương giữa 2 quốc gia gia tăng đều đặn, và Hoa Kỳ là một thị trường xuất cảng đáng kể của Cambodia, những ràng buộc ngoại giao vẫn đứng im vì sự bất tin cậy hỗ tương sâu đậm giữa Hun Sen và chánh phủ Hoa Kỳ.

Những sáng kiến ngoại giao gần đây của Cambodia, nhất là việc tiến gần chậm chạp với các đối tác Tây phương, là những chỉ dấu của những nỗ lực của nội các đương nhiệm để nâng cao sức mạnh của quốc gia.  Mặc dù Trung Hoa vẫn là một đối tác vô cùng quan trọng của Cambodia và có thể mất nhiều năm để nâng cao hình ảnh của Cambodia trong mắt của các cường quốc Tây phương, Cambodia dưới quyền của Hun Manet đã tìm cách để đa dạng hóa tình hữu nghị ra ngoài những ràng buộc kinh tế tập trung vào Trung Hoa và giảm sự quá lệ thuộc của vương quốc vào bất cứ một quốc gia nào.  Đối với một quốc gia nhỏ như Cambodia, một chiến lược tốt nằm trong những nỗ lực xác thực để duy trì tự trị chiến lược qua việc tham gia trong mọi chiều hướng với các cường quốc lớn và trung bình.  Việc điều chỉnh cử chỉ chánh sách ngoại giao của chánh phủ Hun Manet mô tả sinh động lòng mong muốn của Cambodia để bảo đảm không gian chiến lược có lợi cho việc phát triển.

Đối với kinh đào Funan Techo, chánh phủ Cambodia vẫn quyết tâm trong việc tiến hành dự án đã được dự trù mà không có trì hoãn hay thương thảo với Việt Nam.  Dự án kinh đào tạo một cơ hội cho lãnh đạo trẻ của Cambodia để tự thiết lập mình như một người vận động trước sau như một cho quyền lợi của quốc gia và để nâng cao thẩm quyền của ông.  Trong buổi lễ nhậm chức trong tháng 8 năm 2023, Hun Manet hứa đẩy mạnh phát triển và nâng cao cuộc sống của người Cambodia.  Dự án kinh đào được mong đợi sẽ giúp cho Cambodia tự tin, thúc đẩy nền kinh tế và tiến bộ xã hội, và giúp cho quốc gia đạt được những mục tiêu để trở thành một quốc gia có thu nhập trên trung bình vào năm 2030 và một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2050.

Trên 17,4 triệu người Việt Nam ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vựa lúa chánh của Việt Nam, và vì thế Việt Nam có đủ lý do để lo ngại về những ảnh hưởng có thể có của kinh đáo.  Sự thành công của việc điều hành kinh tùy thuộc vào khả năng của các bên liên hệ để liên lạc xây dựng và dùng những tính toán hợp lý và những biện pháp được trình bày chính xác trong việc quy hoạch của họ.  Tuy nhiên, những yêu cầu kéo dài của Việt Nam không làm cho Cambodia cứu xét kỷ lưỡng về kinh đào Funan Techo.  Vì thế, cả các giới chức và chuyên viên sinh thái của Việt Nam nên chuẩn bị với những chiến lược và giải pháp thực tiễn do chuyên viên cầm đầu để đối phó tốt hơn với những ảnh hưởng sinh thái và môi trường mà dự án có thể mang lại.  Với sự bế tắc rõ ràng giữa 2 quốc gia Đông Nam Á đối với vấn đề kinh đào, châm ngôn “Trời giúp những ai tự giúp mình” chắn chắn áp dụng cho trường hợp nầy. [Lời người dịch: Việt Nam nên bắt đầu ngay một chương trình thu thập dữ kiện về sinh thái, môi trường, và thủy học của sông Mekong trong lãnh thổ Việt Nam và kéo dài một thời gian sau khi kinh đào được vận hành để có đủ bằng chứng, nếu có, để chứng minh ảnh hưởng của kinh đào đối với ĐBSCL.]

Từng được xem là đồng minh trong cuộc chiến chống lại Hoa Kỳ, Cambodia và Việt Nam đã đóng khuôn sự ràng buộc của họ với khẩu hiệu “láng giềng tốt, tình hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn điện, và ổn định dâu dài.”  Nhưng Cambodia và Việt Nam nay đang đấu đá với nhau với những thực tế ác nghiệt của chính trị thực dụng, đã đặt mối liên hệ truyền thống nầy trong sự căng thẳng và đặt mình về phía đối nghịch trong vấn đề kinh đào.  Với Cambodia được Trung Hoa hậu thuẫn, và không muốn thụt lùi, có lẽ 2 quốc gia không thể tìm được ý kiến chung về một dự án được rót vào với tầm quan trọng quốc gia.