Sunday, January 16, 2022

PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN VÀ MẤT THỦY SẢN TRONG LƯU VỰC SÔNG MEKONG

 (Hydropower Development and the Loss of Fisheries in the Mekong River Basin)

Ian Campbell and Chirs Barlow – Bình Yên Đông lược dịch

Frontiers in Environmental Science – 19 October 2020

 

Đập Xayaburi trên sông Mekong ở Lào. [Ảnh: Nationthailand]

 

PHẦN GIỚI THIỆU

Mặc dù hệ thống sông Mekong hỗ trợ cho sự đa dạng khác thường của các chủng loại nước ngọt và thủy sản đáng kể trên toàn cầu (Hortle, 2009a), việc phát triển thủy điện trong lưu vực cũng tiến hành nhanh chóng (Geheb, 2018), với cứu xét ít ỏi được dành cho tài nguyên sinh học bị mất (Intralawan et al., 2018).  Trong phần nhận định nầy, chúng tôi phác họa các vấn đề quản lý then chốt và những hậu quả môi trường phát sinh từ quỹ đạo phát triển thủy điện hiện nay trong lưu vực Mekong.  Có những vấn đề môi trướng khác đang đối đầu với người dân trong lưu vực Mekong cũng ảnh hưởng đến sông, kể cả thay đổi khí hậu, nhưng ít nhất trong một vài thập niên sắp tới, ảnh hưởng của đập đã và đang được xây cất được dự đoán vượt quá ảnh hưởng của thay đổi khí hậu (Lauri et al., 2012; Ngo et al., 2016).

 

ĐẶC TÍNH CỦA HỆ THỐNG MEKONG

Mekong là một trong những sông đáng kể trên toàn cầu (Campbell, 2009a).  Nó quan trọng vì có một dân số lớn sống trong lưu vực và lệ thuộc vào sông để sinh sống trực tiếp (như thủy sản, thủy vận, và cung cấp nước) và gián tiếp (như nhịp lũ hàng năm giúp cho việc canh tác, mầu mỡ của đất, các giá trị văn hóa).  Nó hỗ trợ cho sự đa dạng đáng kể của cá (Valbo-Jorgensen et al., 2009), và các loài ốc nước ngọt.  Sông Mekong là một trong 20 sông lớn nhất trên thế giới về lưu lượng.  Nó bắt nguồn từ Himalayas, và chảy qua 6 quốc gia trong một vùng nhạy cảm chánh trị.

Tổng số chủng loại cá sống trong hệ thống Mekong chắc không bao giờ được biết.  Các chủng loại mới đang được khám phá, cách phân loại đang được tái xét, và các ước tính số chủng loại thay đổi tùy theo việc bao gồm hay bỏ qua các loại cá ở cửa sông.  Hortle (2009b) ước tính có ít nhất 850 loại cá nước ngọt trong Mekong.  Gần đây hơn, Kho Dữ kiện các Loại cá của Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) liệt kê 1.144 chủng loại, kể cả các khách biển và cá ở cửa sông, trong sông (MRC, 2020).  Điều nầy làm cho Mekong chỉ đứng sau Amazon vì có nhiều loại cá hiện diện.  Bao gồm trong động vật đó là một vài chủng loại có sức thu hút khác thường chẳng hạn như các loại cá tra khổng lồ, cá chép và cá đuối (Hogan et al., 2004; Valbo-Jorgensen et al., 2009).  Ngoài cá, Mekong được biết có ít nhất 285 loại ốc nước ngọt (Attwood, 2009), chiếm trên 7% chủng loại ốc nước ngọt được biết trên toàn cầu (Strong et al., 2008), cũng như các chủng loại ở dưới nước thu hút sự chú ý khác (như cá heo nước ngọt).

Hệ sinh thái sông đã hỗ trợ điều được tin là thủy sản sông lớn nhất trên thế giới.  Thủy sản được ước tính sản xuất khoảng 2 triệu tấn/năm (Hortle, 2007; Hortle and Bamrungrach, 2015) với trị giá hàng năm 11 tỉ USD (Nam et al., 2015).  Thu hoạch cá hàng năm tương đương với 17% số thu hoạch thủy sản nội địa toàn cầu hàng năm là 12 triệu tấn, và 2,4% số thu hoạch cá biển trên toàn cầu khoảng 84 triệu tấn (FAO, 2020).

Thủy sản chẳng hạn như thủy sản Mekong khó để mô tả về tầm quan trọng kinh tế, và thường bị trị giá thấp hơn (Neiland and Béné et al., 2007).  Hầu hết được thu hoạch bởi ngư dân chuyên nghiệp, tiêu thụ hầu hết số cá họ đánh được.  Khi cá được mua bán, một phần qua việc đổi chác trực tiếp với người dân địa phương và một phần qua hàng ngàn chợ nhỏ ở địa phương (Coates et al., 2003).  Do đó, mặc dù thủy sản biển lớn được thực hiện phần lớn bởi các thuyền đánh cá lớn điều hành qua một số tương đối nhỏ cảng đánh cá đủ tiện nghi, cho phép ghi nhận và định lượng số cá đánh được tương đối dễ dàng, Mekong phần lớn là thủy sản thủ công.  Phạm vi đầy đủ và tầm quan trọng của thủy sản chỉ trở nên rõ ràng như là kết quả của những khảo sát và phân tích rộng rãi do MRC thực hiện từ năm 1995 (như Hortle, 2007; Hortle and Bamrungrach, 2015) và phân tích tổng hợp dữ kiện tiêu thụ cá cho thấy “thu hoạch ẩn” của thủy sản nội địa toàn cầu (Fluet-Chouinard et al., 2018).

 

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐẬP THỦY ĐIỆN ĐỐI VỚI MEKONG

Các ảnh hưởng quan trọng của đập, gồm có đập thủy điện, đối với hệ sinh thái sông đã được biết rõ từ nhiều thập niên (Petts, 1984; Nilsson an Berggren, 2000; World Commission of Dams, 2000; Anderson et al., 2015).  Nói chung, hai loại ảnh hưởng quan trọng nhất phát sinh từ việc đập có tác dụng như một chướng ngại cho sự di chuyển của phù sa và các động vật ở dưới nước chẳng hạn như cá và loài giáp xác, và sư thay đổi của dòng chảy ở hạ lưu.  Tuy nhiên, đập cũng có thể ảnh hưởng đến phẩm chất nước và, qua ngập lụt, loại bỏ nơi cư trú có nước chảy.

Trong một sông lớn như Mekong, mang một lượng phù sa lớn lao, việc ngăn chận phù sa có 2 hậu quả quan trọng (Kondolf et al., 2014).  Thứ nhất, sụt giảm trong nguồn phù sa ở hạ lưu có hậu quả nghiêm trọng cho các hệ thống ở hạ lưu có thể lệ thuộc vào nguồn cung cấp đó.  Nó có thể bao gồm các hệ thống ven sông và đồng lụt nhận một phần nguồn cung cấp chất dinh dưỡng từ bùn lắng đọng, và các hệ thống đồng bằng có thể thay đổi từ hệ thống bồi lấp sang sạt lở khi nguồn cung cấp phù sa bị giảm hay loại trừ hoàn toàn.  Bên trong hệ thống Mekong, nếu toàn thể các đập đề nghị được xây cất ở các vị trí được đề nghị, lượng phù sa được chuyển đến đồng bằng hiện nay được ước tính giảm 96% (Kondolf et al., 2014).  Điều nầy sẽ gây gia tăng sạt lở và làm giảm diện tích của đồng bằng (Schmitt et al., 2017).

Hậu quả của đập như một chướng ngại cho cá và đời sống ở dưới nước tùy thuộc một phần vào mức độ mà các chủng loại hiện nay qua việc di chuyển cưỡng bách.  Lo ngại về đập như chướng ngại cho cá đầu tiên trở nên đáng chú ý liên quan đến thủy sản cá hồi ở Bắc Mỹ khi con số cá hồi đi ngược sông để đẻ bị hủy hoại khi các đường di chuyển của chúng bị đập ngăn chận (Fergusion et al., 2011; Brown et al., 2013).  Tương tự, trong Mekong, được biết rằng nhiều chủng loại phải di chuyển đường dài hàng năm như một phần của chu kỳ sinh đẻ của chúng, vì thế tiềm năng để đập làm xáo trộn thủy sản rất cao (Hall and Kshatriya, 2009).

Cũng cần lưu ý rằng đập các tác dụng như một chướng ngại đối với việc di chuyển về phía thượng lẫn hạ lưu.  Di chuyển về phía thượng lưu bị ngăn chận vì các sinh vật chẳng hạn như cá không thể đi qua cửa xả hay qua các turbines của nhà máy điện vì vận tốc của dòng nước quá cao.  Di chuyển về phía hạ lưu bị hỏng vì cá con bị trôi, và cả cá lớn, không thể tìm đường qua nước đứng của hồ để xác định lối ra (Pelicice et al., 2015).  Hơn nữa, cá lớn và cá con cố gắng đi qua hạ tầng cơ sở thủy điện có độ tử vong cao vì lực cắt, va chạm với cánh của turbines, và chấn thương áp suất hay thay đổi của áp suất khí (Algera et al., 2020).

Đường đi thứ nhì mà đập có thể ảnh hưởng các hệ sinh thái sông là thay đổi dòng chảy ở hạ lưu (Petts, 1984).  Mặc dù các đập thủy điện đơn dụng không chuyển nước ra khỏi sông, dòng chảy bị thay đổi với nước thường được giữ lại trong mùa mưa và xả ra trong màu khô – vì thế dòng chảy trong mùa mưa giảm và tăng trong mùa khô.  Cả hai hình thức nầy đã xảy ra ở hạ lưu Mekong (Hecht et al., 2018; Eyler et al., 2020).  Nhiều chủng loại cá và động vật không xương sống trong sông có chu kỳ sống đồng bộ với chế độ chảy của sông.  Thí dụ, trứng và cá con (không thể bơi hay bơi kém) của nhiều chủng loại hiện diện trong lúc nước thấp khi chúng ít bị cuốn trôi xuống hạ lưu, vì thế chu kỳ đời sống và việc bổ sung con số bị ảnh hưởng tai hại khi dòng chảy trong mùa khô tăng (Campbell, 2009b).

Thứ ba, đập có thể thay đổi các đặc tính vật lý và hóa học của nước ở hạ lưu (Petts, 1984).  Nước được xả từ đáy đập có thể lạnh hơn hay có nồng độ oxygen hòa tan thấp hơn nước sông bình thường.  Ngoài ra, việc giữ nước của đập, với nước trong và ấm chảy chậm hay đứng, có thể có tác dụng như một lồng nuôi rong để được xả xuống hạ lưu.

Ảnh hưởng cuối cùng là mất nơi cư trú, xảy ra khi một khúc sông bị ngập và được thay thế bởi nước đứng của việc giữ nước.  Trong trường hợp của hệ thống Mekong, một số lớn đập đã được xây dựng, và thêm nhiều đập nữa đang được xây hay dự trù (Greater Mekong Dams Obsevatory, 2020; Hình 1).  Hầu hết các hệ thống thủy điện được đề nghị là “chuỗi đập” trong đó hồ chứa nước của mỗi đập gần như đi đến chân đập kế tiếp, loại trừ toàn thể nơi cư trú sông.  Các chuỗi đập đang xây cất trên dòng chánh ở Lào PDR, thí dụ, sẽ loại trừ khoảng 40% nơi cư trú sông ở Lào, khoảng 25% nơi cư trú trên dòng chánh ở hạ lưu Trung Hoa.  Một chuỗi đập tương tự hiện đang được xây cất loại trừ hầu hết nơi cư trú trên dòng chánh ở Trung Hoa (Wei et al., 2017), và các chuỗi đập cũng làm ngập các nơi cư trú của Nam Ou, phụ lưu lớn nhất ở Lào PDR, và nhiều phụ lưu khác.  Mất nơi cư trú không thôi đe dọa nhiều chủng loại sông trong hệ thống.

Các hồ chứa nước sẽ hỗ trợ số cá và các chủng loại ở dưới nước khác, nhưng thành phần chủng loại sẽ bị thay đổi, và kích thước của thủy sản sẽ bị giảm.  Trong khi các hồ chứa nước mới thành lập thường có thủy sản phong phú trong vài năm đầu từ chất dinh dưỡng dư thừa từ cây cối mục nát, thủy sản giảm cố định mức sản xuất thấp hơn thủy sản sông mà chúng thay thế (Jackson and Marmulla, 2001).

 

Hình 1.  Vị trí đập thủy điện trên dòng chánh sông Mekong và trên Nam Ou. 

Dữ kiện chiều cao đập của Greater Mekong Dams Obsevatory.

 

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

DÒNG SÔNG CHIA CẮT VÀ KẾT HỢP

 (A river that splits and unites)

WWF-Asia Pacific Exposure

WWF – December 28, 2021

 


 Nơi đông bắc Thái Lan tiếp giáp với trung Lào, dòng sông đi qua khung cảnh, tạo thành biên giới của mỗi quốc gia.  Mặc dù tạo nên một chướng ngại vật chất giữa 2 quốc gia, nước của Mekong từ lâu đã kết hợp người dân ở 2 bên bờ, là nguồn lương thực, giao thông, và lợi tức cho trên 50 triệu người trong khu vực.

Trên một phía, làng Had Hae trong tỉnh Nakhon Phanom, Thái Lan, 3 ngư dân ngồi dưới một lều gỗ nhỏ, nhìn qua mặt nước đến các láng giềng của họ.

“Khi chúng tôi đi đánh cá, chúng tôi thường gặp người Lào,” một người trong số họ, Phairat Sarasit, chỉ vào những chiếc thuyền cũ kỹ ở phía bên kia sông và nói.  “Hầu hết là bạn của chúng tôi.”

 

 

Giống như ông, Sport Samart và Wanu Nieamwijit, cũng đánh cá bên cạnh các đồng nghiệp Lào trên khúc sông nầy.  Ngang qua sông, họ đi thăm nhau – người Thái sẽ đi qua Lào để giải trí, và người Lào đi qua sông để mua thức ăn và các thứ hàng hóa khác.

Trong một ngày làm việc, ngư dân ở 2 phía nhảy lên thuyển và thả lưới, dài khoảng 650 feet và sâu khoảng 6,5 feet.  Các lưới thường đi về phía hạ lưu khoảng 1,5 miles trong khoảng 1 tiếng đồng hồ trước khi được ngư dân kéo lên và trở về thượng lưu với số cá đánh được trong ngày.

Nhưng chỉ có một dòng sông để chia sẻ giữa 2 quốc gia, các ngư dân cần phải nghĩ ra cách để chia tài nguyên cần thiết nầy.  Qua thời gian, họ phát triển một mối liên hệ làm việc đặc biệt, giống như công nhân của các công ty khác nhau cùng có chung văn phòng.  Mỗi sáng họ gặp nhau – có lúc trên bờ sông lầy lội của sông, lúc khác ở giữa sông – và rút thăm để ấn định ai sẽ đánh cá trước trong ngày.

Từ đó trở đi, một hệ thống xếp hàng được hiểu qua đó người Thái và Lào thay phiên nhau để thả lưới.  Khi một thuyền bên 1 phía bắt đầu đi xuống hạ lưu, thuyền kia nghỉ ngơi, chờ trong những thuyền được trang bị đầy đủ với nệm, điện, TV, bình trà và nồi nấu cơm.  Sau 20 phút, họ đi theo với lưới của họ.

Trước khi bắt đầu mỗi mùa đánh cá, ngư dân cần dọn dẹp đáy sông để ngăn ngừa các nhánh cây nhỏ, phù sa và rác vướng vào lưới và gây thiệt hại.  Góp vào khoảng 500-1.000 baht Thái, hay 150.000-300.000 kip Lào, mỗi người trong số họ chia phần chi phí quản lý.

 


Nhưng mọi thứ không luôn luôn xảy ra như được đồng ý.  Khi Lào phát triển thêm, đường đất biến thành đường bê tông và các chòi gỗ biến thành nhà.  Lối đánh cá cũng thay đổi, gia tăng căng thẳng giữa 2 quốc gia, và thay đổi động lực của sông.

“Quy định của họ không giống với quy định của chúng tội,” Wanu nói về những hướng dẫn đánh cá của cộng đồng.

Khi con số thuyền gắn máy gia tăng, số cá bắt đầu giảm.  Cá hồng, từng có rất nhiều, đã không còn thấy trên 1 thập niên.  Tương tự, cá tra dầu Mekong, một loại nổi tiếng của khu vực, đã biến mất khoảng 7 năm trước.

“Thường thường, chúng tôi đánh được 45 ponds cá [mỗi chuyến],” ông nói tiếp.  “Nay, ngay 10 pounds cũng khó.”

Ki Mahavong, một ngư dân trong tỉnh Savannakhet, cũng đối mặt với cùng vấn đề, mất cả ngày mà không đánh được con cá nào.  Ông tin rằng đó là do con số ngư dân càng ngày càng tăng, họ đánh cá để bán thay vì chỉ để nuôi gia đình.  Khi cạnh tranh gia tăng, nhiều người dùng dụng cụ và lề lối hủy hoại chẳng hạn như châm điện, bẫy với ô nhỏ và thuốc nổ.

 


©


Ngư dân biết họ cần phải bảo vệ nơi sinh đẻ của cá và bảo tồn số cá trước khi không còn gì để cứu.  Vì thế trong năm 2019, dân làng dọc theo bờ sông Mekong ở phía Thái và Lào đã đặt các phao để đánh dấu vùng bảo vệ cá mới để phục hồi.  Với sự trợ giúp của WWF, họ tổ chức các buổi thảo luận cộng đồng xuyên biên giới và dựng các bảng cho thấy việc hạn chế đánh cá để mọi người để ý khi sử dụng tài nguyên của sông.

“Không ai vi phạm các quy định,  Nếu họ vi phạm, chúng tôi cho họ 3 cảnh báo,” Sport nói, “nhưng chưa bao giờ đạt đến 3 cảnh báo vì cảnh báo đầu tiên đã quá đủ để làm cho người ta thay đổi thái độ.”

Dự án Thủy sản Thái-Lào nhằm mục đích bảo tồn các chủng loại ở dưới nước trong Mekong bằng cách phát triển các kế hoạch quản lý cho 10 làng ở Lào và 14 ở Thái Lan, mỗi làng có khu bảo tồn của mình.  Để giảm áp lực đối với hệ sinh thái tự nhiên, dự án cũng tìm cách để cải thiện sinh kế và lợi tức cho dân làng, cũng như tăng cường việc thi hành luật pháp và hiểu biết tốt hơn luật lệ đánh cá của giới chức và thủy sản địa phương.

Bên cạnh việc bảo tồn số cá, người dân địa phương như Ly Vongoudom và nhóm của ông cũng tuần tra sông mỗi ngày để chận đứng bất cứ hoạt động đánh cá trái phép mà họ bắt gặp, cũng như cho những thủ phạm biết về luật đánh cá.

“Rất khó để chia sông,” Sport nói.  “Sau rốt, chúng tôi là baan pee muang nong (quốc gia anh em).”

Monday, January 10, 2022

QUAN ĐIỂM | CẦN LƯU Ý THÊM VỚI ĐA DẠNG SINH HỌC NƯỚC NGỌT

 

(Perspective | More Attention Needed on Freshwater Biodiversity)

 

Stefan Lovgren – Bình Yên Đông lược dịch

Circle of Blue – December 16, 2021

 


Tàu bè rẽ nước ở Đồng bằng sông Cửu Long, gần Cần Thơ, Việt Nam.  Là nơi cư trú của khoảng 65 triệu người trong 4 quốc gia, hạ lưu Mekong cũng được đánh giá cao vì tính đa dạng của các chủng loại ở dưới nước.

Các chủng loại nước ngọt đang chết dần và giảm tính phong phú.  Nhưng việc tài trợ bảo tồn tập trung vào đất liền và đại dương.

Trong những năm gần đây, tôi đã viết về các vấn đề nước ngọt toàn cầu, với sự chú trọng đặc biệt đến sông Mekong ở Đông Nam Á (ĐNA).  Là một người đến với lãnh vực nghiên cứu nầy tương đối gần đây, tôi giật mình và bối rối vì tính đa dạng nước ngọt ít khi được đặt ưu tiên.

Trong các bài viết của tôi, tôi thường tổng hợp tầm quan trọng (và sự suy thoái) của các sông, hồ và đất ngập nước của chúng ta – và cá sống trong đó – vào một vài câu mở đầu:

·         Mặc dù nước ngọt chỉ chiếm dưới 1% nước chảy trên Trái đất, nó là nơi cư trú của 10% của tất cả các chủng loại được biết, gồm có 1/3 của tất cả động vật có xương sống.

·         Có nhiều loại cá nước ngọt – 18.075 và chưa hết – hơn các loại cá sống ở biển và đại dương.

·         Những dân số nước ngọt trên khắp thế giới đã giảm trung bình 84% trong 50 năm qua, gấp đôi mức của các hệ sinh thái đất hay biển.

·         Gần 1/3 chủng loại cá nước ngọt nay bị đe dọa tuyệt chủng.

 

Mặc dù sụt giảm chưa từng thấy và đang diễn ra, nghiên cứu và bảo tồn liên quan đến các hệ sinh thái nước ngọt nhận rất ít quan tâm hơn các lãnh vực đất và biển.  Một phúc trình gần đây về tài trợ môi trường của 127 hiệp hội Âu Châu cho thấy công tác nước ngọt nhận được dưới 2% của 745 triệu € (873 triệu USD) trong các trợ cấp môi trường được cấp trong năm 2018.  Công tác nước ngọt đứng thứ 2nd từ dưới lên trong số 13 chủ đề được dùng để phân phối trợ cấp.

Là một ký giả, tôi đã thắc mắc tại sao các vấn đề nước ngọt thường bị bỏ qua như thế.  Nó vô lý.  Sau rốt, nước ngọt là căn bản của sư sống trên Trái đất.  Hầu hết tất cả chúng ta sống trong các lưu vực sông.  Tôi đã nói chuyện với nhiều người khôn ngoan về sự tách rời nầy, nhưng cho đến nay tôi chỉ tìm được vài câu trả lời vừa ý.

 

Điều rõ ràng là, nếu các nhà hoạch định chánh sách hành động đối với các hệ sinh thái nước ngọt, các nhà khoa học và bảo tồn cần phải phối hợp để đưa ra một thông điệp mạnh mẽ hơn.  Tin vui là chúng ta đang thấy nhiều dấu hiệu đang xảy ra.  Vào ngày 1 tháng 12, thí dụ, các nhà nghiên cứu từ 88 tổ chức khoa học trên thế giới, được cầm đầu bởi Viện Sinh thái Nước ngọt và Thủy sản Nội địa Leibniz (IGB) ở Berlin, công bố một đề nghị trong tạp chí Ecology Letters cho một nghị trình nghiên cứu toàn cầu mới để cải thiện việc nghiên cứu đa dạng sinh học nước ngọt.

 

Nghị trình liệt kê 15 ưu tiên cần thiết, được chia thành 5 loại gồm có hạ tầng cơ sở dữ kiện, theo dõi, sinh thái, quản lý và sinh thái xã hội.  Các tác giả kêu gọi cộng tác nhiều hơn giữa các nhà nghiên cứu, sử dụng kỹ thuật tốt hơn, và bao gồm kiến thức của người bản xứ về các hệ thống nước ngọt, cũng như liên lạc với các nhà khoa học công dân.  Trên hết, Sonja Jähnig, một nhà sinh thái ở dưới nước của IGB, nói: “hồ, sông, ao và đất ngập nước phải được các nhà hoạch định chánh sách và các tổ chức tài trợ công nhận thẳng thừng là nơi cư trú và hệ sinh thái quan trọng với quyền hạn của chúng, và trong việc quản lý và các chương trình phục hồi.”

 

Điểm sau là điểm quan trọng để bảo vệ sông, từ lâu đã được xem như một phần của việc bảo vệ đất.  Bảo vệ đất và anh sẽ bảo vệ sông chảy qua nó, ý nghĩ có từ lâu, mặc dù bằng chứng rỏ ràng cho thấy rằng đường lối như thế thường không có tác dụng.  Chúng ta biết rằng sông cần được sự bảo vệ của nó, và chúng ta cũng biết chúng ta sẽ cần một đường lối nhiều tầng nếu chúng ta muốn giữ cho sông lành mạnh và chảy tự do.  Không có một giải pháp kỳ diệu và đơn giản.

 

Nghị trình mới đi theo một bài viết khoa học quan trọng được công bố trên BioScience hồi năm ngoái, trong đó, các nhà khoa học của World Wildlife Fund (WWF), IUCN, Conservation International, và các tổ chức khác phác họa Kế hoạch Phục hồi Khẩn cấp có 6 điểm để đảo ngược mất mát đa dạng sinh học nước ngọt.  Bài viết đó nhấn mạnh một danh sách dài cho các hành động ưu tiên, chẳng hạn như cải thiện phẩm chất nước, phục hồi nơi cư trú cần thiết, quản lý việc khai thác các tài nguyên của hệ sinh thái nước ngọt, kiểm soát các chủng loại ngoại lai, và phục hồi sự nối kết sông.

 

Những sáng kiến nầy được thiết kế đặc biệt để nâng cao và củng cố các chỉ số và mục tiêu nước ngọt cho Hiệp ước Đa dạng Sinh học và các Mục tiêu Phát triển Khả chấp.  Các khoa học gia nhấn mạnh tầm quan trọng của các thỏa thuận đa dạng sinh học toàn cầu mới quan tâm nhiều đến việc bảo vệ và phục hồi các sông, hồ và đất ngập nước trên thế giới cũng như rừng và đại dương.

 

Trong lúc đó, là một ký giả, tôi sẽ tiếp tục chia sẻ những câu chuyện nước ngọt và cá vẫn không được báo cáo một cách đáng thương.  Tôi đặc biệt muốn đưa ra những câu chuyện của lạc quan và giải pháp.  Tôi biết chúng ở đó.  Năm ngoái, tôi đã tường trình một số, từ việc phá đập và bảo vệ pháp lý cho sông đến chiến dịch để biến sông Vjosa ở Albania thành công viên sông hoang dã đầu tiên.

 

Đầu tháng nầy, tôi ở Cambodia nơi tôi đi thăm hồ Tonle Sap, hồ lớn nhất ở ĐNA và nền thủy sản nội địa lớn nhất thế giới.  Trong 3 năm qua, mực nước trong Tonle Sap đã xuống đến mức thấp kỷ lục, và thủy sản đã tụt dốc.  Để đáp ứng, một số cộng đồng ở hồ đã quyết định thiết lập các khu bảo tồn nơi việc thu hoạch cá bị cấm.

 

Tính cho đến nay, những dấu hiệu có vẻ hứa hẹn.

 

Stefan Lovgren viết về các vấn đề cá và nước ngọt cho National Geographics và các tạp chí khác.  Ông làm việc với dự án nghiên cứu “Wonders of the Mekong” được USAID tài trợ, và đồng tác giả với Zeb Hogan của quyển sách sắp phát hành “Chasing Giants: The Search for the World’s Largest Freshwater Fish (Đuổi theo Cá Khổng lồ: Đi tìm Cá Nước ngọt Lớn nhất Thế giới).”