Sunday, July 3, 2022

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, KHAI THÁC CÁT CÓ NGHĨA LÀ MẤT NHÀ VÀ CỦA CẢI

 (In the Mekong Delta, sand mining means lost homes and fortunes)

Dinh Tuyen – Bình Yên Đông lược dịch

Mekong Eye – 23 June 2022


Khi bờ sông sụt lún và đổ nhào, nhà của Tran Van Bi sụp đổ xuống sông ở Đồng bắng sông Cửu Long của Việt Nam (ĐBSCL) 4 năm trước.  Tất cả mọi thứ mà gia đình ông tích lũy trong 32 năm đã ra di trong nháy mắt.

“Váo lúc đó, khi tôi nghe tiếng kêu la, tội chạy lại, chỉ thấy mái nhà tôi chìm xuống dòng nước chảy xiết,” Bi, 60 tuổi, căn nhà cũ của ông ở cạnh sông Vàm Nao trong xả Mỹ Hội Đông, tỉnh An Giang, nói.

“Tôi chạy để kiếm vợ và các con của tôi và rồi như mất trí, tôi không biết phải làm gì.”

May mắn thay, các thành viên của gia đình ông an toàn.

Sông đã nuốt tổng cộng 14 nhà ngày đó.  Sự sụt lún buộc 106 gia đình khác phải dời cư.

Bi cáo buộc việc khai thác cát trong vùng cho sự mất nhà của ông.  Xem và nghe các máy hút cát nhai không ngừng qua đáy sông gần nhà đã trở thành một phần quen thuộc của cuộc sống của ông.

Nhìn lại, ông thấy rõ các dấu hiệu của một thảm kịch sắp xảy ra ở đó một thời gian.  Các bãi bùn ở gần đã biến mất và dòng nước chảy qua nhà ông gia tăng lớn lao.

Từ nhiều năm, ĐBSCL đã thống khổ vì sạt lở bờ sông và bờ biển lan tràn do sự sụt giảm lượng phù sa lơ lững và cát trong các thủy đạo.

Các chuyển viên cáo buộc các đập ở thượng lưu, ngăn chận phù sa, cũng như khai thác cát quá mức dọc theo sông Mekong, nhất là ở Cambodia và Việt Nam.

Điều nầy có nghĩa là ĐBSCL, hình thành bởi phù sa trên 6.000 năm quả thật đang tan rã.

Trên 600 hectares đất ven sông và ven biển bị mất mỗi năm trong đồng bằng vì sạt lở, theo Le Anh Tuan, phó giảng sư ở Viện Nghiên cứu Thay đổi Khí Hậu (DRAGON Institute Mekong) ở Đại học Cần Thơ.

Ong cảnh báo “thiệt hại không thể đảo ngược” nếu khai thác cát trong vùng không được giới hạn.

Trả một cái giá cao

Trong thập niên qua, các tỉnh ĐBSCL như An Giang, Đồng Tháp, Cần thơ, Vĩnh Long và Sóc Trăng đã cấp giấy phép để khai thác 114 triệu tấn cát dự trữ.  Điều nầy tương đương gần 7 tấn cho mỗi đầu người sống ở đó.

Con số thật sự được nghĩ cao hơn nhiều vì khai thác cát trái phép vẫn phổ biến.

Tuy nhiên, hầu hết cư dân chưa bao giời đến gần cát nầy, hay đồng tiền mà nó mang lại.  Thay vào đó, các gia đình đo đạc khai thác cát trong việc mất nhà và của cải.




Thống kê chánh thức cho thấy giữa năm 2018 và 2020, 1.808 nhà ở ĐBSCL chìm xuống sông hay biển vì sạt lở.  Điều đó tương đương với 5 làng hoàn toàn bị xóa sạch, với thiệt hại trên 200 tỉ VND (8,6 triệu USD).

Các gia đình sống trong vùng nơi cát được hút nhiều nhất và cũng rủi ro nhất để trở thành vô gia cư.  An Giang và Đồng Tháp là 2 tỉnh hút cát nhiều nhất trong vùng, ở mức 5,3 triệu và 5,5 triệu m3 mỗi năm.

Không ngạc nhiên, các tỉnh nầy cũng dẫn đầu trong con số nhà bị đe dọa bởi sụt lún và cần được di dời – 5.300 trong tỉnh An Giang và 6.400 trong tỉnh Đồng Tháp.

Đuổi những người khai thác cát đi

Mặc dù tiếng mưa rào trên sông Hậu, tiếng gầm của máy hút cát thì không thể nhầm, xáo trộn sự yên ổn của khúc sông giáp ranh với tỉnh Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ.

Gần bờ hơn, các máy hút cát khác đang hút cát,  Khung cảnh không ngưng dọng – mỗi lần cần trục khổng lồ vươn ra và thả cái gàu lớn vào sông, khung cảnh khi nó chạm nước giống như mìn nổ.

Động cơ của máy xúc cát gầm rú, phun khói đen và gàu cát được kéo lên khỏi nước.  Rồi gàu được di chuyển chậm sang một bên cho đến khi nó thả hết cát vào các tàu chứa hay xà lan đậu bên cạnh.

Ngay sau khi xà lan đầy cát, tài công kéo neo và chạy đi.  Lập tức, một xà lan khác lấy chỗ.  Cung quanh vùng khai thác cát, hàng chục xà lan khác đang neo, chờ đến phiên.

 

Người dân trên đảo Sơn đã dựng đê tre để giữ cát khỏi bị hút đi.

[Ảnh: Dinh Tuyen/Thanh Niên]

 

Cách đó khoảng 100 m là cồn Sơn, một đảo nhỏ giữa sông Hậu ở huyện Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.  Người dân địa phương đã dựng một hàng tre để làm một bức tường, hay đê, trong nỗ lực ngăn cồn của họ biến mất vào sông và bảo vệ ao cá của họ.

 

Phan Thi Kim Ngan, 57 tuổi, chỉ những dấu hiệu của sạt lở trên cồn Sơn.

[Ảnh: Dinh Tuyen/Thanh Nien]

 

Cỉ vài các vết nứt trên đê, Phan Kim Ngan, một nông dân trồng chôm chôm 57 tuồi, nói sụt lún khiến nhiều nơi của đê bị vỡ.

“Mọi người trên cồn chống việc khai thác cát vì nó gây sạt lở, nhưng không có gì thay đổi,” Ngan nói.  “Cần Tho không cho phép khai thác cát nữa, Vĩnh Long vẫn còn cho 3-4 máy xúc cát hoạt động, và họ đã dùng máy bơm lớn thả xuống đáy sông để hút cát.”

Cư dân giận dữ trên cồn Sơn có nhiều lúc dùng thuyến của họ để đuổi các máy xúc cát.

“Người dân không muốn vi phạm luật, nhưng họ tức giận quá nên họ phải chạy ra và đuổi những người khai thác cát đi,” Pham Hai Dào, nông dân 65 tuổi sống trên cồn Sơn, nói.

Ông đã phải di chuyển nhà 5 lần vì sạt lở và đã mất 2/3 đất canh tác.  “ Người dân ở đây không sợ,” ông nói.

 

Một tàu của người khai thác cát chụp trong huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

[Ảnh: Dinh Tuyen/Thanh Nien]

 XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

BẮT ĐẦU NGHIÊN CỨU THÍCH ỨNG MEKONG

(Mekong adaptation study kicks off)

Ry Sochan – Bình Yên Đông lược dịch

The Phnom Penh Post – 29 June 2022

 

Không ảnh của sông Mekong trong tỉnh Kratie năm 2018. [Ảnh: MRC]

 

Ùy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) phát động một nghiên cứu hỗn hợp vào ngày 29 tháng 6 với Trung tâm Hợp tác Nguồn Nước Lancang-Mekong về cách để thích ứng với điều kiện thủy học thay đổi trong lưu vực Lancang-Mekong giữa lúc phát triển nhanh chóng và khí hậu thay đổi.

Nghiên cứu hỗn hợp, có tựa đề “Những Lề lối Thay đổi của Điều kiện Thủy học của Lưu vực Lancang-Mekong và các Chiến lược Thích ứng” sẽ được thực hiện trong 2 giai đoạn.

Giai đoạn thứ 1st bắt đầu trong năm nay và được dự trù đưa ra những đề nghị có thể hành động.  Giai đoạn 2nd trong 2023-2024, sẽ được thực hiện với sự phối hợp của Kế hoạch Chiến lược MRC 2021-2025.

Nghiên cứu hỗn hợp được phát động ở diễn đàn các bên liên hệ khu vực thứ 12th do MRC tổ chức ở thủ đô Bangkok của Thái Lan, nơi chủ đề trung tâm là làm thế nào để cải thiện việc chia sẻ tin tức và phối hợp các hoạt động của đập để cung cấp lợi ích thêm và tối thiểu hóa bất cứ ảnh hưởng đến các cộng đồng ở hạ lưu.

Diễn đàn nhằm để đề cập đến thay đổi khí hậu cấp bách và thách thức môi trường trong lưu vực sông Mekong và để cho thấy tiến bộ của nghiên cứu về thay đổi lề lối của điều kiện thủy học của lưu vực sông Lancang-Mekong đối với chiến lược thích ứng.

Từ năm 2009, khi Mekong ghi nhận dòng chảy thấp chưa từng thấy vì hạn hán và các hoạt động thủy học ở thượng lưu, Văn phòng MRC và Trung tâm Hợp tác Nguồn Nước Lancang-Mekong, có trụ sở ở Beijing (Bắc Kinh), đã đồng ý cộng tác để cải thiện việc chia sẻ tin tức và các hoạt động hỗn hợp để hỗ trợ 6 quốc gia Mekong, với cả 2 ký kết MoU để quản lý tốt hơn thượng hạ lưu Mekong.

“MRC và Hợp tác Mekong-Lancang (MLC) gồm có Trung Hoa đang nghiên cứu hỗn hợp về thay đổi chế độ dòng chảy của lưu vực sông Lancang-Mekong sẽ góp phần để thực hiện chiến lược thủy điện khả chấp,” CEO của Văn phòng MRC Anoulak Kittihoun nói ở diễn đàn.

Ông nói nghiên cứu rất cần trong một thời đại khi các quan điểm phân tán giữa các bên liên hệ về điều kiện của sông và các nguyên nhân của thay đổi đối với sông đã trở nên rõ ràng.

Hao Zhao, tổng thư ký của Trung tâm Hợp tác Nguồn Nước Lancang-Mekong, nói ở diễn đàn qua hội nghị trên mạng rằng các đề nghị của Beijing được chấp nhận trong tháng 12 năm 2021 công nhận rằng các quốc gia MLC đang đối mặt với những thách thức chẳng hạn như gia tăng nhu cầu nguồn nước, lũ lụt xảy ra thường xuyên, hạn hán, suy thoái hệ sinh thái ở dưới nước, ô nhiễm gia tăng và những bất định khác của thay đổi khí hậu.

Nghiên cứu hỗn hợp sẽ không đơn thuần vì lý do kỹ thuật, nhưng cũng để chia sẻ dữ kiện khí tượng và thủy học, mô hình và kiến thức khác vì chia sẻ tin tức rất cấp bách cho sự thành công của nghiên cứu và quản lý sông, ông nói.

“Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng bằng cách phát động nghiên cứu hỗn hợp ở diễn đàn quan trọng nầy được tổ chức bởi Văn phòng MRC, các nhà làm chánh sách, các nhà nghiên cứu, các nhà ngoại giao và xã hội dân sự có thể cùng đến để hợp tác.

“Chúng tôi có thể khuyến khích phối hợp và hợp tác trên khắp lưu vực sông và hành động hài hóa để đối phó với lũ lụt, hạn hán và những ảnh hưởng tai hại khác do thay đổi khí hậu và hoạt động của con người gây ra để giải quyết các vấn đề chung liên quan đến nước,” Hao Zhao nói.

Ông nói ông tin tưởng mạnh mẽ rằng các kết quả tuyệt vời sẽ được thực hiện trong nhiều lãnh vực hợp tác, nhất là về chia sẻ tin tức, một nghiên cứu hỗn hợp và tối hậu một hệ thống quản lý nguồn nước kết hợp để phát triển khả chấp lưu vực.

.

RA NGOÀI BIÊN GIỚI: CHU KỲ NƯỚC CỦA TRÁI ĐẤT ĐANG BỊ BẼ CONG SẮP GÃY

(Beyond boundaries: Earth’s water cycle is being bent to breaking point)

Petro Kotzé – Bình Yên Đông lược dịch

Mongabay – 21 June 2022

 

Nông dân chăm sóc đất nông nghiệp của họ ở Uzbekistan. [Ảnh: Petro Kotzé]

 

·               Chu kỳ thủy học là một tiến trình căn bản tự nhiên để giữ cho hệ thống điều hành của Trái đất nguyên vẹn.  Nhân loại và nền văn minh đang lệ thuộc mật thiết với chu kỳ nước, nhưng chúng ta đã lạm dụng nó một cách lớn lao và  hủy hoại, để thích ứng với nhu cầu của chúng ta.

·               Chúng ta chưa biết đầy đủ những hệ quả toàn cầu của những điều chỉnh của con người đối với chu kỳ nước.  Chúng ta biết những thay đổi như thế có thể đưa đến sự chuyển dịch khổng lồ của các hệ thống Trái đất, đe dọa đời sống hiện hữu.  Các nhà nghiên cứu đang thắc mắc nơi và làm thế nào chúng có thể được đo đạc để xác định nếu chu kỳ nước đang bị đẩy đến điểm gãy.

·               Nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng những điều chỉnh các khía cạnh của chu kỳ nước nay đang làm cho hệ thống Trái đất bất ổn ở qui mô mà nền văn minh hiện đại có thể chưa từng đối mặt.  Nó đang xảy ra trong các sự kiện thời tiết cực đoan và thay đổi khí hậu từ từ lâu dài.

·               Không có các giải pháp đơn giản và dễ dàng.  Để làm tăng cơ hội còn lại của chúng ta trong “không gian sinh sống an toàn”, chúng ta cần đảo ngược thiệt hại đến chu kỳ thủy học toàn cầu với những phát minh đại qui mô, gồm có giảm việc sử dụng nước, và đảo ngược việc phá rừng, suy thoái đất, sạt lở đất, ô nhiễm không khí và thay đổi khí hậu.

Nước có vẻ đơn giản một cách đánh lừa và lấy dễ dàng mà không biết ơn.  Nó không có màu, mùi vị và là một trong những hợp chất hóa học nhiều nhất trên Trái đất.  Được tái chế không ngừng qua sinh quyển trong nhiều dạng khác nhau, nó là nền tảng để giữ cho hệ thống điều hành của hành tinh của chúng ta nguyên vẹn, và đã làm thế từ hàng triệu năm.

Nước là sự sống.  Đại dương của Trái đất là nơi sự sống có lẽ bắt đầu, và nước ngọt rất cần thiết để cây cối và thú vật tồn tại và phát triển.  Nó là nền tảng của tất cả việc phát triển của nhân loại.  Nhưng khi thế giới của thế kỷ 21st phi ở phía trước, chúng ta phung phí chu kỳ nước ở mức chưa từng thấy và qui mô để đáp ứng nhu cầu gia tăng chưa từng thấy của một dân số đang bùng nổ.

Vào năm 2030, chúng ta sẽ xây đủ đập để thay đổi 93% sông trên thế giới.  Các ước tính khác nhau, nhưng chúng ta đã dùng khoảng 90% nước ngọt của hành tinh để trồng lương thực của chúng ta.  Trên ½ của chúng ta nay sống trong các thành phố, nhưng vào năm 2050 một tiên đoán 68% của gần 8 tỉ người trên thế giới sẽ sống trong các vùng đô thị.  Lối sống đô thị đó sẽ đòi hỏi những số lượng nước vô cùng to lớn – bơm, lọc và truyền ống những khoảng cách lớn.  Nhân loại cũng ngăn chận nhiều nước mưa thấm xuống đất, giảm tầng nước ngầm, vì chúng ta trải lên nhiều vùng rộng lớn với bê tông và nhựa không thấm nước.

Nhưng những thay đổi dễ trông thấy nầy chỉ là đỉnh ai cũng biết của tảng băng.  Các nhà nghiên cứu đang soi ánh sáng mới trên những thay đổi nhanh chóng của con người đối với chu kỳ nước, nhiều thay đổi xảy ra trong các tiến trình phần lớn không thấy.  Trong thời Địa chất Hiện đại (Anthropocene) – tên không chánh thức của đơn vị thời gian địa chất chịu ảnh hưởng của con người hiện nay – chúng ta đã đẩy một trong những hệ thống nền tảng và căn bản nhất của Trái đất, chu kỳ thủy học, đến điểm gãy.

Vấn đề là, chúng ta chưa biết lúc nào ngưỡng nầy có thể đạt đến, hay cái hậu quả chính xác là gì.  Các nhà khoa học đang tìm các câu trả lời kiên quyết.

Nước chảy qua Copenhagen, Denmark.  

 Khi vùng đô thị trên Trái đất mở rộng, cũng như áp lực dân số đối với nguồn nước ngọt 

và chu kỳ nước. [Ảnh: Petro Kotzé]

 

Chu kỳ nước sơ đẳng

Chu kỳ thủy học được thúc đẩy bởi mặt trời và dòng chảy qua sự hít vào và thở ra không ngừng của nước trong các trạng thái khác nhau, khi nó được trao đổi giữa khí quyển và hành tinh.  Dung dịch nước từ đại dương, hồ và sông dâng lên qua bốc hơi để vào bầu trời, từ dạng hơi nước, một khí nhà kiếng quan trọng, giống như carbon dioxide, giúp cách ly hành tinh để duy trì nhiệt độ “vừa đúng” để duy trì đời sống mà chúng ta biết.

Hơi nước trong khí quyển đoạn thay đổi thành dung dịch, rơi xuống đất thành mưa.  Rồi nó chảy như nước chảy tràn trên khắp khung cảnh, và cái không trở lại vùng nước, được giữ trong đất, được tiêu thụ bởi cây cối và thải ra qua thoát hơi như hơi nước trong bầu trời.  Một số lượng lớn nước ngọt cũng bị nhốt trong băng hà và băng trên đỉnh núi.

Trong chu kỳ nầy, có tác động qua lại phức tạp liên tục giữa cái các nhà khoa học gọi là nước xanh và xanh lá cây.  Nước xanh gồm có sông, hồ, hồ chứa nước nhân tạo, và dự trữ nước ngầm tái tạo.  Nước xanh lá cây được định nghĩa là mưa trên mặt đất, bốc hơi và độ ẩm của đất.

Chia nước mưa thành nước xanh và xanh lá cây. 

[Ảnh: Geertsma et al. (2009)/Baseline Review for the Pilot Programme in Kenya, 

Green Water Credits Report 8, ISRIC-World Soil Information, Wageningen)

 

Chức năng đầy đủ của chu kỳ thủy học, với nguồn cung cấp cân bằng và dòng chảy của nước xanh và xanh lá cây, rất cần thiết cho các hệ sinh thái trên mặt đất và ở dưới nước, việc sản xuất và tính có sẵn của lương thực con người, và an ninh năng lượng của chúng ta.

Nó cũng kiểm soát thời tiết và ảnh hưởng khí hậu của Trái đất.  Nhiệt độ của khí quyển, thí dụ, tùy thuộc vào sự bốc hơi và đông đặc.  Đó là vì khi nước bốc hơi, nó hấp thu năng lượng và làm mát môi trường địa phương, và khi nó đông lại, nó thải năng lượng và làm ấm thế giới.  Trong suốt thởi kỳ dịa chất Holocene, một chu kỳ nước tương đối ổn định giúp duy trì nhiệt độ cân bằng và điều kiện có thể hỗ trợ nền văn minh.

Tuy nhiên, trong thời kỳ Anthropocene, hoạt động của con người đã ảnh hưởng chu kỳ nước, khí hậu và hệ sinh thái.  Một, khi CO2 do con người sản xuất thêm và methane tích tụ trong khí quyển, thêm năng lượng mặt trời được giữ bởi hành tình, gây hâm nóng toàn cầu.  Và khi không khí nóng hơn, khí quyển có thể giữ số lượng hơi nước lớn hơn.  Đó là điều xấu vì hơi nước tự nó là một khí nhà kiếng mạnh mẽ, gia tăng hâm nóng lớn lao.

 

Chu kỳ nước của Trái đất. [Ảnh: USGS]

 XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Sunday, June 26, 2022

GIỚI THIỆU MỘT KẾ HOẠCH KHU VỰC MỚI CHO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

 (Introducing a new regional plan for the Mekong Delta)

Royal HaskoningDHV – Bình Yên Đông lược dịch

NextBlue – June 21, 2022


Vùng cực nam của Việt Nam – Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – là một vùng chiến lược cao.  Nó là nơi cư trú của 17 triệu người, chứa một phần lớn cửa sông Mekong, với bờ biển dài trên 700 km từ biên giới Cambodia đến khu đô thị lớn nhất nước, thành phố Hồ Chí Minh.  ĐBSCL, được biết như ‘vựa lúa’ của Việt Nam, là một trong những vùng được canh tác rộng rãi và trù phú nhất ở Á Châu.

Từ năm 2019, Royal HaskoningDHV cầm đầu việc phát triển Kế hoạch Kết hợp Khu vực ĐBSCL (Mekong Delta Integrated Regional Plan (MDIRP)) cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư ở Việt Nam.  Được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới, MDRIP là kế hoạch đầu tiên như thế được soạn thảo dưới Luật Quy hoạch 2017 bao gồm một cơ chế để cải thiện việc phối hợp quy hoạch tỉnh và thành phần ở cấp khu vực.

Thúc đẩy sức chịu đựng cho ĐBSCL. [Ảnh: Royal HaskoningDHV]

Quy hoạch cho ĐBSCL rất phức tạp.  Vùng rất phì nhiêu và là nơi sản xuất và xuất cảng lúa, trái cây, cá và các sản phẩm nuôi cá lớn nhất khu vực, nhưng GDP cho mỗi đầu người thấp hơn trung bình của quốc gia.  Các chánh sách an ninh lương thực cho lúa gạo đã đóng góp vào sự tự tin của quốc gia nhưng giới hạn việc sản xuất hoa màu có giá trị cao hơn và hạn chế lợi tức tiềm tàng của nông dân.

Ảnh hưởng đang gia tăng từ thay đổi khí hậu và các đập ở thượng lưu gây ra bất định gia tăng.  Điều nầy được phản ánh trong việc di cư ra khỏi khu vực, nhất là các nhóm trẻ tuổi năng động.  Di chuyển từ vùng nông thôn được châm ngòi thêm bởi mức giáo dục thấp, mất cân bằng trong lương bổng địa phương và sự quyến rũ của vùng đô thị với cơ hội công ăn việc làm.

Mặc dù có những chiều hướng nầy, khu vực có tiềm năng lớn lao để cải thiện tư thế kinh tế vì vị trí chiến lược của nó ở Đông Nam Á.  Trong khi đó, thành công nông nghiệp đến với cái giá của môi trường, với ô nhiễm các đường nước và bơm nước ngầm rộng rãi gây sụt lún đất.

Nó cũng là vùng có ít rừng nguyên sinh bao phủ; những nơi còn lại, nhất là rừng đước, đang bị áp lực từ sạt lở bờ biển và nới rộng nuôi cá.  Các vấn đề khác gồm có xả rác bừa bãi và thi hành quy định yếu kém, thí dụ, khai thác cát trái phép làm sạt lở bờ sông và giảm phù sa.

Đối mặt với đe dọa kép của mực nước biển dâng và nước mặn xâm nhập, gần 50% khu vực có thể nằm dưới mặt biển vào năm 2050.

Đồng bằng sông Cửu Long. [Ảnh: Rowan Heuvel]

 

Trong bối cảnh nầy, thiết lập một chiến lược đến năm 2030 – với tầm nhìn đến năm 2050 – với tất cả các bên liên hệ then chốt, là một thách thức lớn lao.  Giữa 13 tỉnh và nhiều bộ khác nhau, có nhiều quyết định, kế hoạch, và dự án tiềm tàng phải cứu xét.

Qua Luật Quy hoạch 2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm hướng dẫn và phối hợp với các bộ khác và các bên liên hệ then chốt trong việc soạn thảo MDIRP.  Hôi đồng Phối hợp Khu vực ĐBSCL, cầm đầu bởi một Phó Thủ tướng vừa được thiết lập, cho thấy ý định của chánh phủ và giúp tăng cường phối hợp tổ chức trong khu vực.

MDIRP cũng được soạn trong khuôn khổ của Nghị quyết 120 (2017) đề nghị “chủ dộng sống chung với lũ và nước lợ hay nước mặn” và yêu cầu rằng thích ứng thay đổi khí hậu chú trọng đến cải thiện sinh kế và giảm nghèo.  Nghị quyết nhấn mạnh đến khái niệm ‘khả năng sống’ và làm thế nào điều đó được thực hiện bởi các dự án đóng góp vào việc phát triển khả chấp dài hạn và tăng trưởng tốt hơn theo 3 trụ cột – kinh tế, xã hội và môi trường – cũng như tăng cường sức chịu đựng khí hậu trong ĐBSCL.

Chiến lược cốt lõi của MDIRP chú trọng đến ‘quản lý thách thức’ và ‘tạo nên giá trị’.  Nó nhằm để bảo vệ người dân, cải thiện sinh kế, khuyến khích việc phát triển khu vực cân bằng hơn và cải thiện môi trường.  Tầm nhìn tổng quát là “thịnh vượng và giàu có của các cộng đồng, cùng nhau biến những thách thức thành cơ hội, sử dụng và bảo vệ tài nguyên của ĐBSCL”.

Chiến lược dựa trên tiền đề đơn giản và được công nhận rộng rãi là nông nghiệp là thành phần có ưu thế nhất trong khu vực, và rằng hầu hết đất canh tác hiện không được dùng hết so với tiềm năng cho hoa màu có giá trị cao hơn.

Bốn thành phần kết hợp của chiến lược là:

1. Nông nghiệp

Khuyến khích và hỗ trợ việc sản xuất số lượng lớn hơn hoa màu có phẩm chất và trị gíá cao hơn dựa trên sự thích hợp của đất và nước, bằng cách giảm bớt giới hạn sử dụng đất, cung cấp thêm hỗ trợ cho nông dân và khuyến khích cải thiện lề lối canh tác;

2. Trung tâm kỹ nghệ nông nghiệp

Để thu thập và hợp nhất các sản phẩm nông nghiệp và thủy sản ở địa phương và trên căn bản phân vùng, và để cộng thêm giá trị, qua việc phát triển các trung tâm chế biến, thích hợp nhất ở các trung tâm tỉnh cùng với các dịch vụ và các kỹ nghệ khác;

3. Giao thông

Cải thiện từng giai đoạn đường sá, giao thông thủy nội địa (IWT) và cảng, cũng như yểm trợ khu vực, để hỗ trợ các trung tâm chế biến và để cải thiện tính tiếp cận chung bên trong khu vực để sinh lợi cho các thành phần; và

4. Quản lý nước

Bảo vệ vùng nước ngọt cốt lõi và vùng ven biển, cải thiện phẩm chất nước (nhất là nông nghiệp và nuôi cá), thay đổi khí hậu và thích ứng và quản lý rủi ro thiên tai.

Một chiếc thuyền trên sông Mekong. [Ảnh: Claudette Bleijenberg]

Các thành phần khác chẳng hạn như du lịch sẽ được lợi từ việc cải thiện tính tiếp cận, khuyến khích thêm du khách đến khu vực để ở lâu.  Với những điều kiện thuận lợi, nó cũng được dự đoán rằng việc sản xuất điện, nhất là qua năng lượng tái tạo chẳng hạn như gió ngoài biển và mặt trời, sẽ trở nên những nguồn lợi tức và công ăn việc làm quan trọng cho nhiều tỉnh.  Trong phần phía đông của khu vực, cũng có tiềm năng để phát triển những loại kỹ nghệ khác, chẳng hạn như vải sợi và điện tử, vì ở gần thành phố Hồ Chí Minh và tiếp cận với đất rẻ hơn.

Sự cần thiết để thích ứng rất cấp bách vì áp lực gia tăng và thịnh vượng của khu vực bị đe dọa.  Là môt kết hợp toàn bộ, MDIRP sẽ thiết lập “các cộng đồng thịnh vượng và giàu có, cùng nhau biến thách thức thành cơ hội, sử dụng và bảo vệ tài nguyên của ĐBSCL”.

CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU LÓT ĐƯỜNG ĐỂ CỨU ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

 (Researchers lay out a path to saving the Mekong Delta)

Aalto University – Bính Yên Đông lược dịch

Physics.org – May 6, 2022

 

Như bất cứ đồng bằng sông nào, Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có thể tồn tại nếu nó nhận được đầy đủ nguồn phù sa từ thượng lưu và dòng nước để trải phù sa đó trên khắp mặt của đồng bằng. [Ảnh: Marko Keskinen]

 

Gần 20 triệu người sống trong Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ở Đông Nam Á (ĐNA), cũng là nguồn của 7-10% lúa được mua bán quốc tế.  Nhưng ĐBSCL sẽ gần hoàn toàn nằm dưới nước vào cuối thế kỷ nếu các lề lối quản lý nước trong khu vực không thay đổi.  Để tránh tình huống nầy phải có hành động phối hợp đáng kể từ tất cả 6 quốc gia trong lưu vực Mekong, một nhóm nghiên cứu đa ngành quốc tế lập luận trong nhận định được công bố hôm nay trên tạp chí Science.

“Rất khó để tìm hiểu rằng một hình dạng đất có khích thước của Netherlands (Hòa Lan) và với dân số tương tự có thể biến mất vào cuối thế kỷ,” tác giả cầm đầu Giảng sư Matt Kondolf từ Đại học California, Berkerley, nói.  Nhưng ĐBSCL đặc biệt dễ tổn thương với mực nước biển dâng, vì hầu hết đồng bằng thấp hơn 2 m trên mặt nước biển.

Hầu hết ĐBSCL ở Việt Nam, và chánh phủ Việt Nam đã có những biện pháp để bảo vệ nó.  Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng tất cả các quốc gia trong lưu vực sông Mekong phải có hành động nhanh chóng và dứt khoát để ngăn ngừa tai họa.

“Như bất cứ đồng bằng sông nào, ĐBSCL chỉ có thể tồn tại nếu nó nhận được đủ nguồn phù sa từ thượng lưu vực và dòng nước để trải phù sa đó trên khắp mặt của đồng bằng,” Phó Giảng sư Matti Kummu của Đại học Aalto, đồng tác giả của bài viết, ghi nhận.  Nguồn phù sa bảo đảm rằng đất xây đấp ít nhất nhanh như nước biển dâng.

“Đói năng lượng tái tạo, các quốc gia trong lưu vực phát triển đập thủy điện, ngăn chận phù sa, với ít quan tâm đến ảnh hưởng qui mô hệ thống.  Số ít phù sa đến hạ lưu Mekong có thể được khai thác để đáp ứng nhu cầu của thành phần bất động sản đang phát triển trong vùng, đòi hỏi một số lượng cát lớn để xây cất và cải tại đất,” đồng tác giả Tiến sĩ Rafael Schmitt của Đại học Standford nói.

Một yếu tố quan trọng khác trong số phận của đồng bằng là làm thế nào nguồn nước được quản lý.  Đê và các lòng lạch đã được xây để kiểm soát ngập lụt, bảo vệ thâm canh cao trong vùng, nhưng điều nầy cũng ngăn chận phù sa màu mỡ đến đồng ruộng.  Vấn đề được kết hợp bởi việc sử dụng thái quá nước ngầm, gây sụt lún làm mặt của đồng bằng thấp hơn vài cm mỗi năm.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến 6 biện pháp gia tăng đáng kể đời sống của ĐBSCL:

1.                  Tránh các đập thủy điện bằng cách thay thế các dự án được dự trù bằng các trang trại gió và mặt trời nếu có thể được và nếu không, xây các đập mới một cách chiến lược để giảm ảnh hưởng của chúng ở hạ lưu;

2.                  Thiết kế và/hay tân trang các đập thủy điện để giúp phù sa đi qua nhiều hơn;

3.                  Dẹp từ từ việc khai thác cát đáy sông và kiểm soát chặt chẽ tất cả việc khai thác cát, trong khi giảm nhu cầu cát Mekong qua vật liệu xây cất khả chấp và tái chế;

4.                  Tái lượng định thâm canh nông nghiệp ở ĐBSCL cho tính khả chấp;

5.                  Duy trì nối kết của các đồng lụt của đồng bằng bằng hạ tầng cơ sở nước; và

6.                  Đầu tư vào các giải pháp tự nhiên để bảo vệ bờ biển đại qui mô dọc theo bờ biển của đồng bằng.

Mặc dù có ít tranh chấp trong cộng đồng khoa học về hiệu quả của những biện pháp nầy, nhất là nếu được thực hiện trong các chướng ngại hòa hợp quan trọng.

“Một số biện pháp sẽ xung đột với quyền lợi của một số thành phần, trong khi các biện pháp khác đòi hỏi hợp tác chặt chẽ hơn giữa các quốc gia trong khu vực.  Mặc dù không dễ dàng, hợp tác xuyên thành phần và khu vực và ý chí chánh trị sẽ cần đến để thực hiện các biện pháp được đề nghị,” Phó Giảng sư Marko Keskinen của Đại học Aalto, đồng tác giả của bài viết, nói.

Thực hiện các biện pháp sẽ đòi hỏi sự tham gia của các chánh phủ quốc gia và các diễn viên quốc tế, cũng như các diễn viên mới, gồm có thành phần tư nhân và xã hội dân sự.  Nhưng cùng nhau có thể cứu đồng bằng khỏi chết chìm.

“Một ĐBSCL sẽ giàu có ngoài thế kỷ nầy có thể được – nhưng nó sẽ đòi hỏi hành động nhanh chóng và hòa hợp trong một lưu vực được trả lời bằng cạnh tranh, thay vì hợp tác, giữa các quốc gia duyên hà,” Giảng sư Kondolf kết luận.