Thùy Dương/RFI
28/5/2026
(Ảnh
minh họa)
Khu
vực ven biển ở Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam. AFP - NHAC NGUYEN
Ngày 26/07 hàng năm được
UNESCO chọn làm Ngày Quốc tế Bảo tồn Hệ sinh thái Rừng ngập mặn, kể từ năm
2015, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của rừng ngập mặn
và khuyến khích việc bảo vệ chúng. Tại Việt Nam, một trong những nước phải chịu
nhiều tác động biến đổi khí hậu, nước biển không ngừng dâng cao, rừng ngập mặn
là một tuyến phòng thủ tự nhiên không thể thiếu trước những tác động khắc nghiệt
của tự nhiên.
Không chỉ đóng vai trò bảo
vệ bờ biển, hệ sinh thái đặc biệt này còn là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật,
góp phần vào sinh kế của người dân ven biển. Tuy nhiên, áp lực từ đô thị hóa,
nuôi trồng thủy sản đã khiến diện tích rừng ngập mặn suy giảm đáng kể.
Để hiểu rõ hơn về thực trạng,
thách thức về bảo tồn rừng ngập mặn ở Việt Nam, RFI tiếng Việt đã có cuộc trao
đổi với tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên
nhiên của Đại học Cần Thơ.
RFI :
Báo chí Việt Nam thường gọi rừng ngập mặn là bức tường xanh, lá chắn sinh thái
… Tiến sĩ có thể giải thích cho thính giả - độc giả của đài RFI tiếng Việt được
biết rừng ngập mặn là gì, có những nét đặc biệt về sinh thái như thế nào ?
TS. Lê Anh Tuấn :
Rừng ngập mặn là những cánh rừng phát triển ở những khu đất đang bị ngập do nước
mặn, đặc biệt là nước từ biển. Rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn, là một lá
chắn để bảo vệ vùng bờ biển và tạo ra một hệ sinh thái rất độc đáo cho các khu
vực xung quanh, đồng thời là một nguồn phát triển sinh kế cho người dân, cũng
như ổn định bờ biển của Việt Nam.
Ở Việt Nam thì rừng ngập
mặn tập trung nhiều nhất là ở vùng bán đảo Cà Mau, ở đồng bằng sông Cửu Long.
Vào khoảng năm 1953-1954, diện tích rừng rất lớn, khoảng hơn 71.300 ha. Nhưng tới
năm 1992 thì diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp rất nhiều, chỉ còn khoảng
33.000 ha.
Một lý do là chiến tranh
Việt Nam trước năm 1975, cùng với việc sử dụng chất diệt cỏ nên diện tích rừng
ngập mặn bị thu hẹp. Rồi người ta sử dụng rừng ngập mặn để khai thác gỗ hoặc là
chế biến than củi làm chất đốt. Rừng ngập mặn cũng bị người ta chuyển sang sản
xuất nuôi trồng thủy sản, như là nuôi tôm hay nuôi cua. Khi sản xuất được mở rộng
thì rừng ngập mặn bị thu hẹp lại.
Nhưng mà sau đó thì người
ta nhận thấy rằng rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn trong hệ sinh thái và đồng
thời bảo vệ vùng bờ biển nên có nhiều chương trình để phục hồi rừng ngập mặn, đặc
biệt là từ những năm 1995 trở đi, song song với chương trình gọi là phục hồi rừng
trên toàn quốc và kèm theo đó là chương trình mà trồng rừng 5 triệu ha rừng nữa.
Đây là một nỗ lực rất lớn để phục hồi lại rừng ngập mặn.
Đồng thời cũng có rất nhiều
chương trình tài trợ cho việc bảo vệ rừng ngập mặn và khôi phục lại những hệ
sinh thái ở vùng ngập rừng ngập mặn, đặc biệt là các vùng ven biển đồng bằng
Sông Cửu Long, một số vùng ở Cần Giờ của Sài Gòn, một số vùng miền Trung như là
vùng đầm phá Tam Giang hoặc là một số vùng ven biển ở phía Bắc thì rừng gặp mặn
bắt đầu khôi phục dần dần và bây giờ thì diện tích rừng thì khoảng trên dưới 50
triệu ha.
Tuy nhiên cũng có rất nhiều
thách thức, do biến đổi khí hậu chẳng hạn, hoặc là do sự phát triển của dân số
và sản xuất, nên diện tích rừng ngập mặn vẫn không được nhiều như mong muốn. Và
đặc biệt, do nước biển dâng và thiên tai, nên rừng ngập mặn ở vùng bán đảo Cà
Mau đang có khuynh hướng bị thu hẹp, bị xói lở rất mạnh ở mũi Cà Mau bên phía
biển đông. Nhưng một phần phù sa lại đắp cho vùng biển phía tây, nên rừng ngập
mặn đang có khuynh hướng phát triển về phía tây, trong khi phía đông thì bị thu
hẹp lại.
RFI :
Vai trò của rừng ngập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu là gì ?
TS. Lê Anh Tuấn :
Thứ nhất, rừng ngập mặn có sinh khối rất lớn. Các cây rừng ngập mặn, ví dụ như
là cây mắm, cây đước, cây bần, phát triển mạnh, tạo ra một sinh khối rất lớn và
dày đặc. Các rừng này sẽ hấp thụ lượng carbon (CO2) và đồng thời nhả ra oxy cho
khu vực.
Đồng thời rừng ngập mặn
có vai trò che chắn sự tàn phá của sóng biển hay sự tàn phá của những trận bão
nhiệt đới, để bảo vệ sản xuất và đời sống của người dân ở bên trong. Rừng ngập
mặn cũng là nơi trú ngụ của rất nhiều loài chim, cá, và những loài chim cá này
tạo ra một cảnh quan, một sự đa dạng sinh học cho khu vực.
RFI :
Với vai trò của rừng gập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu như vậy, có thể
hiểu là Việt Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, rất cần rừng ngập
mặn. Vậy ngoài tác dụng về chống biến đổi khí hậu thì rừng ngập mặn còn có vai
trò gì đối với sinh kế của người dân Việt Nam ?
TS.Lê Anh Tuấn :
Rừng ngập mặn là nơi trú ngụ của rất nhiều loại thủy sản, như các loại tôm,
cua, sò, ốc khác nhau. Người dân có thể dựa vào rừng ngập mặn để nuôi tôm, rồi
nuôi cua hay là nuôi sò, nuôi ốc, hoặc là người ta có thể tạo ra những sản phẩm
phụ như là cây gỗ hay là tạo ra hoạt động du lịch, du lịch sinh thái ở những
vùng như vậy. Đó là một cơ sở để tạo ra sinh kế của cộng đồng và thêm nguồn thu
cho cho chính quyền địa phương ở đó.
RFI : Ở
nhiều nước trên thế giới thì rừng ngập mặn bị tàn phá vì nhiều lý do. Tình hình
tại Việt Nam, như tiến sĩ đã phân tích, diện tích rừng ngập mặn cũng đã giảm, về
lịch sử thì có thể nói là do chiến tranh Việt Nam từ những năm trước 1975. Sau
này thì có thể nói đến hai yếu tố, thứ nhất là biến đổi khí hậu, thứ hai là hoạt
động của con người cũng đã góp phần là tàn phá, thu hẹp cái rừng ngập mặn. Vậy
còn về chất lượng rừng ngập mặn hiện nay thì ra sao ?
TS. Lê Anh Tuấn :
Tôi cho rằng vùng rừng ngập mặn mà được khôi phục và bảo tồn thì chất lượng sẽ
tốt hơn rất là nhiều. Ví dụ như ngày xưa là rừng ngập mặn ở Cần Giờ ở khu vực
Sài Gòn bị tàn phá rất nhiều. Nhưng bây giờ rừng này đã phục hồi và có rất nhiều
loài chim muông và thú, hay cá tụ về. Vùng bản đảo Cà Mau người ta cũng ghi nhận
như vậy.
Tuy nhiên, do sự giằng co
giữa con người và thiên nhiên, biến đổi khí hậu, hoặc do sự quản lý lỏng lẻo,
người ta có thể đi vào trong một khu rừng ngập mặn, chặt phá trộm hoặc là lén
lút mở rộng diện tích nuôi tôm. Về mặt pháp luật, họ bị ngăn cấm rất nhiều,
nhưng mà vấn đề là quản lý của chính quyền địa phương ở mỗi khu vực thì khác
nhau, nơi làm tốt thì có thể rừng ngập mặn phát triển nhiều và đóng vai trò
khôi phục lại hệ sinh thái và bảo vệ cái bờ biển khu vực đó.
Còn những nơi quản lý lỏng
lẻo, để cho người dân vô chặt phá, hoặc ở những vùng chịu những tác động của
sóng biển bị xói lở hay là do những yếu tố thiên tai khác thì rừng ngập mặn
đang thu hẹp. Nhìn trên bản đồ, chúng ta thấy rằng sự thu hẹp hay là mở rộng rừng
ngập mặn không đồng đều ở các vùng khác nhau của Việt Nam.
RFI :
Thưa tiến sĩ Lê Anh Tuấn, ông là chuyên gia về môi trường và tài nguyên thiên
nhiên, theo ông đâu là những khó khăn, những thách thức trong thời gian tới đây
để bảo vệ, khôi phục rừng ngập mặn tại Việt Nam mà vẫn bảo đảm được sinh kế cho
người dân ?
TS.Lê Anh Tuấn :
Một trong những thách thức để bảo vệ rừng ngập mặn là chúng ta phải nhận diện lại
những mối đe dọa đến diện tích rừng ngập mặn.
Thí dụ như là sạt lở bờ
biển, sự suy giảm phù sa của sông Cửu Long khi ra biển, bởi vì rừng ngập mặn là
một bãi bồi nhận phù sa đổ ra ngoài biển. Và những phù sa này hiện nay đang có
khuynh hướng giảm đi, do sự hình thành của các đập thủy điện ở thượng nguồn
sông Mê Kông. Đồng thời tình trạng khai thác cát bừa bãi ở vùng thượng nguồn
làm cho lượng phù sa đi đến vùng bờ biển cũng ít đi. Và khi phù sa ít đi thì
không còn bồi đắp lại mũi Cà Mau nữa. Điều này vừa có yếu tố con người, vừa có
yếu tố tự nhiên.
Thứ hai, vấn đề là quản
lý và khôi phục lại những cánh rừng ngập mặn. Nếu chúng ta có rất nhiều biện
pháp mà quản lý cách chặt chẽ thì chúng ta có thể giữ được những rừng ngập mặn
đó để phát triển. Còn nếu chúng ta lơi lỏng trong quản lý, để cho một số người
khai thác bất hợp pháp lấy củi hoặc mở rộng diện tích canh tác thì lúc đó rừng
ngập mặn sẽ bị đe dọa. Tôi nghĩ rằng là đây là một biện pháp rất tổng hợp, tuy
nhiên diện tích mà chúng ta cần phải bảo vệ và duy trì quá lớn so với sức của
con người ở mỗi địa phương. Thế nên, cần phải có một sự phối hợp mạnh mẽ giữa
chính quyền địa phương với các cơ quan quản lý rừng, với các nhà khoa học, đồng
thời phải nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ và nhận diện sự bền vững
của rừng ngập mặn.
Nếu chúng ta biết cách bảo
vệ thì rừng ngập mặn sẽ tiếp tục phục vụ lại chính con người chúng ta, mà chúng
ta cũng có thể dừng rừng ngập mặn để hạn chế những tác động tiêu cực của biến đổi
khí hậu.
RFI :
Theo ông, mô hình phục hồi rừng ngập mặn nào của Việt Nam hiện nay đang được
đánh giá là hiệu quả ?
TS. Lê Anh Tuấn :
Tôi nghĩ một mô hình tốt là phải có sự phối hợp giữa chính quyền và người dân
trong cộng đồng. Cụ thể là ở một số nơi, chính quyền đã giao một số khu rừng ngập
mặn cho người dân quản lý và bảo vệ. Người ta có thể sử dụng diện tích mặt nước
để nuôi tôm, nuôi cua để khai thác và đồng thời người ta có thể phát triển được
du lịch cộng đồng tại chỗ, để tăng thêm thu nhập khi mà người dân phải cùng với
chính phủ bảo vệ rừng ngập mặn.
RFI :
Việt Nam có được các tổ chức quốc tế, các hiệp hội bảo vệ môi trường - sinh
thái hỗ trợ trong các chương trình phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn hay không ?
TS. Lê Anh Tuấn :
Theo tôi biết là có rất nhiều chương trình để phục hồi rừng ngập mặn, như là
chương trình của chính phủ Đức, hay là chương trình để thành lập vườn quốc gia
mũi Cà Mau, hoặc là một số tổ chức phi chính phủ khác tài trợ cho những chương
trình trồng rừng ngập ngập mặn và khuyến khích giới trẻ Việt Nam tham gia bảo vệ
rừng ngập mặn đó, cùng nhau có những chiến dịch trồng lại những rừng ngập mặn.
Cũng có một số chương
trình của chính phủ Pháp để phục hồi lại một số rừng ngập mặn, nhưng mà các
chương trình đó thì không kéo dài và nguồn kinh phí thì không có nhiều như là một
số tổ chức khác của Đức chẳng hạn.
RFI :
Giữa việc khôi phục diện tích, mở rộng diện tích rừng ngập mặn và việc cải thiện
nâng cao chất lượng của rừng ngập mặn, thì theo ý kiến đánh giá của tiến sĩ,điều
nào là quan trọng hơn đối với Việt Nam để có thể chống biến đổi khí hậu ?
TS. Lê Anh Tuấn :
Tôi nghĩ rằng hiện nay chúng ta phải có một cái giải pháp tương đối tổng hợp.
Chúng ta cũng đừng dựa vào một giải pháp duy nhất nào đó.
Thứ nhất là về chính
sách, phải tiếp tục duy trì ngân sách để phát triển rừng ngập mặn. Thứ hai là
phải có sự tham gia của các nhà khoa học, sử dụng những công công cụ hiện đại để
chúng ta quản lý rừng ngập mặn tốt hơn. Ví dụ như dùng viễn thám hay là dùng
máy bay không người lái để tuần tiễu, tìm cách phát hiện ra những nơi nào rừng
ngập mặn đang bị tàn phá hay là xâm hại, hoặc sử dụng những biện pháp, kể cả những
biện pháp đơn giản, như trồng rừng lại bằng sức người, theo từng nhóm nhỏ, trồng
lại rừng ở những bãi bồi, những chỗ mà rừng ngập mặn bị mất đi hoặc là chúng ta
có thể tìm ra những biện pháp hỗ trợ người dân không xâm phạm rừng ngập mặn,
nhưng vẫn có thể có được những sinh kế ở trên cái đất rừng ngập mặn đó.
Ví dụ như là người ta có
thể giành lại một khoảng 20-25 hay là 30% diện tích mặt nước ở trong rừng ngập
mặn để người ta nuôi tôm, cua hoặc là các sản vật khác chẳng hạn, mà không làm ảnh
hưởng tới rừng ngập mặn. Và trong khi nuôi trồng như vậy thì người ta cũng có
biện pháp bảo vệ rừng ngập mặn, phát hiện ra những người lạ xâm lấn vào trong
khu rừng đó, đồng thời có thể cảnh báo cho chính quyền khi mà rừng ngập mặn gặp
những mối đe dọa khác, ví dụ như sạt lở hay là ô nhiễm do hoạt động sản xuất
khác. Ví dụ người sản xuất công nghiệp xả thải không qua xử lý thì có thể ảnh
hưởng tới rừng ngập mặn. Như vậy, chính người được giao rừng sẽ là người cùng với
chính quyền bảo vệ lại rừng ngập mặn.
Và tôi nghĩ rằng cũng nên
có những chương trình bền bỉ để giúp cho cộng đồng hay là các bạn trẻ hiểu rõ
vai trò của rừng ngập mặn, để cùng nhau bảo vệ. Chúng ta không nên nghĩ rừng chỉ
là rừng mà rừng còn có nhiều tác dụng về nguồn nước, về khí hậu, về đất đai và
hệ sinh thái, có rất nhiều lợi ích trong đó.
RFI
Tiếng Việt chân thành cảm ơn tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên khoa Môi trường và
Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ, đã tham gia chương trình hôm nay.
Thùy Dương
SOURCE: https://www.baoquocdan.org/2026/05/rung-ngap-man-va-nhung-thach-thuc-ve.html