Tác giả: Pierre Nguyễn
September 28, 2026
Đoạn tuyệt, tuyệt giao và những cách từ chối
Không phải mọi rời bỏ đều là một cuộc chia tay có nước mắt. Có những rời bỏ là hành vi cắt đứt. Đoạn tuyệt viết 斷絕. Đoạn là cắt. Tuyệt là đứt sạch, hết hẳn. Đoạn tuyệt với một người, một quá khứ, một thói quen, một hệ tư tưởng là không chỉ đi xa mà cắt sợi dây nối mình với điều ấy. Nó có ý chí. Nó có phán quyết. Đôi khi nó có cả giận dữ.
Ta thường nói đoạn tuyệt với quá khứ, đoạn tuyệt với gia đình, đoạn tuyệt với một nếp sống. Giới từ với đặt đối tượng của sự cắt đứt ở phía bên kia. Ta cũng có thể nói một cuộc đoạn tuyệt. Khi ấy hành vi được danh từ hóa, thành một biến cố trong đời sống. Từ bỏ khác với đoạn tuyệt ở điểm này. Ta từ bỏ thuốc lá, từ bỏ chức vụ, từ bỏ một giấc mơ. Từ bỏ tập trung vào cái bị để lại. Đoạn tuyệt tập trung vào quan hệ bị cắt. Một người có thể từ bỏ một chức vụ mà không đoạn tuyệt với đời sống chính trị. Một người có thể đoạn tuyệt với một gia đình mà không hề từ bỏ ký ức về họ.
Tuyệt giao viết 絕交. Nó hẹp hơn đoạn tuyệt. Tuyệt giao nói đặc biệt về quan hệ giao du giữa người với người, giữa nhóm với nhóm, giữa quốc gia với quốc gia. Một người tuyệt giao với bạn cũ. Hai nước tuyệt giao. Trong chữ giao có sự qua lại. Tuyệt giao là chấm dứt sự qua lại ấy.
Khước từ, từ khước, cự tuyệt và tạ tuyệt lại đi về phía từ chối. Khước từ ngày nay thông dụng hơn từ khước, dù hai chữ khá gần nhau. Cự tuyệt mạnh hơn, trực tiếp hơn, thường hàm ý không muốn thương lượng. Tạ tuyệt nhã hơn, giữ lễ hơn. Một người tạ tuyệt lời mời không có nghĩa người ấy đoạn tuyệt với người mời. Một người cự tuyệt một đề nghị vẫn có thể để cửa mở cho một cuộc nói chuyện khác. Nhưng đoạn tuyệt là xé bỏ cả mối liên hệ. Trong văn chương, chọn sai chữ sẽ đổi cả lịch sử của nhân vật.
Một người giã từ người yêu có thể vẫn yêu. Một người từ biệt người yêu có thể lên đường vì hoàn cảnh. Một người tạ tuyệt lời cầu hôn chỉ đang từ chối một đề nghị. Một người đoạn tuyệt với người yêu đã đưa ra một bản án cho mối quan hệ. Một người tuyệt giao với bạn cũ đã đóng cánh cửa qua lại. Những khác biệt ấy nhỏ trên mặt chữ nhưng lớn trong đời sống.
Buông bỏ, từ bỏ và sự tự do khó khăn
Tiếng Việt hiện đại rất hay dùng buông bỏ. Chữ này đi cùng ngôn ngữ tâm lý, chữa lành, tự giúp mình, đôi khi đi cùng những diễn giải phổ thông về Phật giáo. Buông bỏ gợi hình ảnh bàn tay mở ra. Không nắm chặt nữa. Không níu một điều đã làm mình đau. Người ta buông bỏ oán hận, buông bỏ mặc cảm, buông bỏ một tình yêu không thể cứu.
Nhưng buông bỏ không phải lúc nào cũng là sự sáng suốt. Có khi nó là mỹ từ che nỗi bất lực. Một người buông bỏ vì đã không còn sức giữ. Một người từ bỏ giấc mơ vì hoàn cảnh không cho phép. Một người đầu hàng vì không còn đường sống. Không thể chỉ nhìn chữ rồi phán đoán phẩm chất đạo đức của hành động. Phải nhìn toàn bộ hoàn cảnh.
Từ bỏ có thể là đau đớn nhưng cũng có thể là tự do. Từ bỏ một đặc quyền để giữ lương tâm. Từ bỏ một ảo tưởng để nhìn thẳng vào sự thật. Từ bỏ quyền lực để sống phần đời còn lại theo ý mình. Những hành vi ấy không hề là thất bại. Cái đáng hỏi không phải là có từ bỏ hay không. Cái đáng hỏi là từ bỏ cái gì, vì sao và sau đó con người giữ lại điều gì.
Bên cạnh buông bỏ và từ bỏ còn có buông xuôi, bỏ cuộc, đầu hàng, bỏ dở, ruồng bỏ, hắt hủi, phủi tay. Buông xuôi là thôi chống đỡ. Bỏ cuộc là dừng tham dự một cuộc tranh đấu hay cạnh tranh. Đầu hàng là chịu thua trước một lực lượng mạnh hơn. Bỏ dở là không làm đến cùng. Ruồng bỏ và hắt hủi thường đi cùng sự phũ phàng đối với người yếu thế. Phủi tay là rũ trách nhiệm. Gom tất cả vào một nhóm buông dứt sẽ làm mất những sắc thái đạo đức và tâm lý rất khác nhau.
Chữ đi qua đời sống
Từ những chữ đã đi qua, có thể nhìn thấy một điều căn bản. Tiếng Việt không có những hàng rào cứng giữa Hán-Việt và tiếng Việt. Một chữ Hán có thể đã trở nên gần gũi như lời nói hằng ngày. Một tiếng Việt có thể đứng cạnh chữ Hán mà vẫn tạo thành một câu đẹp. Không nên dùng nguồn gốc để cấm đoán sự sống của chữ.
Từ biệt có thể đi với con người, nơi chốn, thời gian, tuổi thơ, cuộc đời. Giã từ cũng vậy. Sự khác nhau chủ yếu nằm ở giọng điệu và tư thế. Cáo biệt giữ lễ. Tạ từ đáp lễ rồi lui. Từ biệt nói lời chia tay. Giã từ nghiêng về hồi ức. Tiễn biệt là con mắt của người ở lại. Ly biệt là cảnh bị chia xa. Vĩnh biệt là sự không còn gặp lại. Đoạn tuyệt là lưỡi dao cắt quan hệ. Tạ tuyệt là lời từ chối có khuôn phép.
Chữ không chỉ để gọi tên sự việc. Chữ đặt con người vào quan hệ với sự việc. Nói giã từ, ta vẫn để lại một vùng ấm trong ký ức. Nói đoạn tuyệt, ta tuyên bố cắt. Nói vĩnh biệt, ta nhận ra mình đã đến chỗ không thể làm lại. Nói tạ từ, ta vẫn giữ nếp đáp ân trước lúc quay lưng.
Có lẽ lời chia tay nhiều hơn lời gặp gỡ vì gặp gỡ chỉ cần mở cửa. Chia tay phải gọi tên cả quãng đường đã đi qua. Mỗi chữ là một cách con người học lấy một dáng đứng trước điều không thể giữ mãi. Và chính ở phút phải rời đi, ngôn ngữ mới cho ta biết trái tim mình muốn khép lại, muốn cắt đứt, muốn biết ơn, hay vẫn còn muốn ngoái nhìn.
Gợi ý tư liệu tra cứu gồm Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, các kho từ điển Hán-Nôm và văn bản quốc ngữ cổ.
PHỤ LỤC LẠI CHỮ
Tôi không thể từ bỏ chữ.
Không phải thứ chữ nằm ngay ngắn trong quyển từ điển dày, có họ, có tên, có nghĩa thứ nhất, nghĩa thứ hai, có dấu chấm hết sau mỗi định nghĩa. Tôi nói đến những chữ long đong ngoài đường phố. Chữ ở đầu môi người bán hàng. Chữ đi dép lê, ăn cơm bụi, đội nắng Sài Gòn. Chữ không được mời vào phòng khách của văn chương đài các, nhưng nghe kỹ thì trong nó có cả một thành phố.
Chẳng hạn ba láp.
Nghe ba láp, người ngoài Bắc có thể chỉ thấy một tiếng lạ tai. Người Sài Gòn cũ nghe nó lại thấy một cái nhướng mày, một tiếng cười nửa miệng, thấy một người đang nói dai, nói bừa, nói không đầu không đũa, nghe phát mệt mà chưa chắc đã giận. Ba láp không hoàn toàn là nói nhảm. Nói nhảm có thể là lời vô nghĩa. Ba láp còn có cái điệu. Nó là một thứ nói dai, nói lăng nhăng, nói đến nỗi câu chuyện bị kéo dài như sợi dây thun đã cũ, kéo mãi không đứt mà cũng không còn dùng được vào việc gì.
Ba xàm ba láp thì đông đúc hơn. Một chữ chưa đủ, phải kéo thêm một chữ khác đến làm bạn. Tiếng Nam Bộ có cái thú ấy. Không nói sai, mà sai bét bèng beng. Không nói lăng nhăng, mà cà chớn cà cháo. Không chỉ nhảm, mà bá láp bá xàm. Cái chữ sau đôi khi không có nghĩa tách bạch, nhưng nó làm cho chữ trước nở ra, rung lên, có nhịp, có hứng. Như người nói không chỉ muốn phán một điều là sai, còn muốn phán nó theo một lối có duyên.
Trong một cuộc góp nhặt tiếng Sài Gòn xưa, Nguyễn Cao Trường đã nhắc đến kiểu nói điệp âm ấy. Bá láp bá xàm, cà chớn cà cháo, sai bét bèng beng. Những tiếng đi đôi không chỉ làm câu nói dài hơn. Chúng tạo ra một nhịp miệng. Đọc trên giấy đã thấy vui, nhưng phải nghe người Nam nói mới thấy hết. Cái hay nằm trong độ kéo của hơi, độ liếc của mắt, cái nhấn đúng vào cuối câu. Có khi một tiếng ghét kéo dài lại là thương. Có khi “cha già dịch” nghe như mắng mà hóa ra là một cách vuốt ve. Chữ không có thân xác, nhưng giọng nói cho chữ một thân xác.
Tôi quý tiếng Nam Bộ ở chỗ ấy. Nó không sợ bình dân. Nó không sợ những tiếng bị kẻ học chữ chê là thô. Nó không đánh bóng cái nghèo của mình để xin được vào một cuộc hội nghị ngôn ngữ. Nó cứ sống. Sống ở bến xe, ở quán cà phê, ở chợ, trên ghe, trong cải lương, trong những câu nói nửa đùa nửa thật. Một thứ tiếng đã sống thì không cần giấy chứng nhận lịch sự.
Ba láp có nguồn gốc nào. Câu hỏi nghe nhỏ, nhưng đi sâu vào sẽ thấy chữ cũng có những cuộc phiêu lưu như con người.
Giả thuyết được nói nhiều nhất đưa ba láp về tiếng Pháp palabre. Trong tiếng Pháp, palabre là cuộc nói chuyện dài dòng, tốn lời, không đi đến một kết quả nào cho ra hồn. Nghĩa ấy khít với ba láp. Về âm, con đường từ palabre sang ba láp cũng không phải chuyện không thể có. Tiếng Việt thời thuộc địa đã nhận không ít tiếng Pháp, rồi nắn chúng theo cái miệng Việt Nam. Âm đầu p trong nhiều tiếng vay mượn cũ có thể chuyển thành b. Pâté thành ba tê. Pardessus thành ba đờ xuy. Palabre thành ba láp. Nghe cũng có lý.
Nhưng trong nghề khảo chữ, có lý chưa đủ. Một chữ giống một chữ khác về âm và nghĩa chưa chắc đã là con ruột của nó. Những người dè dặt với giả thuyết Pháp nhắc đến một điều đáng chú ý. Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của, in vào cuối thế kỷ mười chín, đã ghi nhận bá láp. Những cuốn từ điển và tư liệu xưa còn cho thấy một họ tiếng nói liên quan như nói láp, nói dáp, nói láo. Từ đó có ý kiến cho ba láp có thể thuộc một lớp từ Việt cũ hơn, hay ít ra không dễ dàng quy về một từ Pháp ít thông dụng.
Lại có giả thuyết nối ba láp với tiếng Pāli palāpa, chỉ lời phù phiếm, chuyện tầm phào. Về nghĩa, sự gần gũi thật khó làm ngơ. Về âm, cũng có sự tương ứng khiến người ta phải để mắt. Nhưng giữa hai bờ âm thanh và nghĩa ấy còn một con sông rộng. Từ Pāli đã đi vào tiếng Việt bằng con đường nào, qua cộng đồng nào, vào thời điểm nào, đã biến âm ra sao. Nếu chưa chỉ được lộ trình ấy, ta chỉ mới có một phỏng đoán thú vị, chưa có một kết luận.
Tôi thích thái độ dè dặt ấy. Không phải vì khảo ngữ cần nói mập mờ để khỏi chịu trách nhiệm. Trái lại, dè dặt là sự ngay thẳng của người làm chữ. Có những từ nguyên đã rõ như cái cầu bê tông. Có những từ nguyên chỉ là chiếc cầu khỉ, bước lên phải thử từng nhịp. Ba láp hiện còn thuộc loại chiếc cầu khỉ ấy. Ta biết nó ở đây. Ta biết nó mang nghĩa gì. Ta biết nó có một đời sống đầy sức sống trong khẩu ngữ Nam Bộ. Còn nó đã từ đâu mà tới, chuyện ấy nên để ngỏ bằng sự trân trọng.
Nhưng nguồn gốc có ngã ngũ hay chưa cũng không làm ba láp bớt hay đi một chút nào. Người ta không yêu một chữ chỉ vì nó có giấy khai sinh sạch sẽ. Người ta yêu chữ vì nó làm được việc. Ba láp làm được việc của nó rất gọn. Chỉ cần nghe ai thao thao bất tuyệt về một chuyện không đâu, ta nói “thôi, ba láp vừa thôi” là câu chuyện đã bị cắt một nhát rất Nam Bộ. Không cần gọi họ là người phát ngôn thiếu căn cứ. Không cần mở cuộc họp báo. Một tiếng ba láp đủ cho cả bản án, mà bản án lại có nụ cười.
Chữ từ bỏ cũng làm tôi nghĩ ngợi.
Từ bỏ là một tổ hợp không cùng gốc. Từ trong từ bỏ là chữ 辭, có nghĩa rời, thôi, từ khước. Bỏ là tiếng Việt rất đời. Bỏ chợ, bỏ nhà, bỏ học, bỏ bữa, bỏ của chạy lấy người, bỏ qua, bỏ quên, bỏ mặc. Một chữ Hán-Việt đi với một tiếng Việt, hai bên không hỏi nhau hộ khẩu, vậy mà sống với nhau lâu đến nỗi ai nghe cũng thấy tự nhiên.
Đó là một bằng chứng nhỏ cho thấy tiếng Việt không chịu sống trong những cái ngăn quá sạch. Người ta có thể nói từ bỏ danh vọng, từ bỏ chức quyền, từ bỏ thói quen, từ bỏ một giấc mơ. Nhưng cũng có thể nói bỏ về, bỏ đi, bỏ ngang, bỏ xứ, bỏ mạng, bỏ cuộc. Từ bỏ nghe có suy nghĩ hơn. Nó có vẻ như đã được cân nhắc. Bỏ thì nhanh hơn, gần thân xác hơn, đôi khi nghe thấy cả tiếng chân. Một người từ bỏ quê hương có thể đã mang trong lòng một bi kịch. Một người bỏ quê nghe như đã xách túi đi trong một buổi chiều không kịp nói với ai.
Tôi không thể từ bỏ chữ cũng theo cái nghĩa ấy. Không thể lìa khỏi chữ. Không thể bỏ mặc chữ. Không thể nhìn thấy một chữ bị nói sai, dùng cạn, hiểu vội, rồi quay mặt đi như không có chuyện gì. Không phải vì tôi muốn giữ tiếng Việt trong tủ kính. Ngôn ngữ mà nhốt trong tủ kính thì chỉ còn là đồ trưng bày. Tôi muốn chữ được sống, được đi, được va chạm, được bồi đắp bởi đời thường. Nhưng sống không có nghĩa là bị dùng quấy. Chữ càng bình dân càng cần được nghe cho kỹ.
Một thành phố mất đi nhiều thứ trước khi nó biết mình đã mất. Mất một rạp chiếu bóng. Mất một tên đường. Mất quán cà phê có cái ghế mây cũ. Mất tiếng rao. Sau cùng mới đến mất tiếng nói. Đến lúc những tiếng như hén, nghen, hổng, biểu, bển, hổm rày, cà rề, xạo ke, bá láp bá xàm chỉ còn nằm trong một danh mục sưu tầm, người ta sẽ biết một phần hơi thở của thành phố đã trở thành đồ cổ.
Nhưng chữ không chết dễ thế. Chữ biết luồn lách. Nó trốn trong một câu đùa. Nó sống trong một bài hát. Nó bất thần hiện ra trong lời một bà già gọi cháu. Nó đi qua phim ảnh, dù phim hôm nay đôi khi quên mất cách người Sài Gòn xưa nói. Một bộ phim đặt bối cảnh cũ mà nhân vật nói toàn thứ tiếng thời nay sẽ giống một căn nhà Nam Kỳ có mặt tiền cổ nhưng bên trong lại treo đèn nê ông nhấp nháy. Không sai hẳn, nhưng nghe có cái gì chỏi.
Chữ ba trong ba láp cũng đáng ngờ vực theo một cách thú vị. Nó không còn là số đếm. Trong khẩu ngữ Nam Bộ, ba thường xuất hiện như một tiếng đệm có sức làm nghĩa. Ba xạo, ba trợn, ba lơn, ba que, ba phải, ba hoa, ba vạ. Không phải mọi tiếng ấy đều cùng một nguồn gốc. Có tiếng có thể từ tiếng Pháp, có tiếng có thể thuần Việt, có tiếng đã mờ hẳn lai lịch. Nhưng khi đứng đầu, âm ba tạo ra một vùng nghĩa mông lung. Nó làm câu nói mang vẻ lăng nhăng, bừa bãi, cường điệu, không đáng tin, không được việc.
Ba láp vì vậy không chỉ là lời nói nhảm. Nó là một thứ nhảm có bè bạn, có đà, có tiếng vang. Người Nam không cần giảng dài về một câu chuyện vô bổ. Chỉ cần phẩy tay, nói “ba láp ba xàm” là đủ. Cái ba ở đây giống một vốc bụi tung lên trên sự việc. Sự việc còn đó, nhưng đã bị phủ một lớp không nghiêm chỉnh.
Vì vậy tôi lại chữ.
Lại không phải để quay về và đóng cửa. Lại để nghe. Lại để nhặt. Lại để biết trong cái tiếng bị người ta gọi là ba láp có một lịch sử của miệng nói, một phong vị của đất, một nhịp điệu của người Nam Bộ. Lại để nhận ra từ bỏ không chỉ là bỏ một vật. Nó là một cách con người cắt nghĩa với điều mình phải rời xa.
Và lại để thú thật một điều. Tôi có thể từ bỏ nhiều thứ. Một chuyến đi. Một căn nhà. Một giấc mơ quá xa. Nhưng với chữ, nhất là những chữ đã mang giọng nói của một miền đất, tôi không thể từ bỏ.
Tôi chỉ có thể trao chúng lại.
Và tôi còn tản bộ vào một vùng, thật thà mà trang nghiêm, đầu của biết bao những kỷ niệm quá yêu quý. Áo bà ba, trong nhà ngoài phố. Năm 1954, người mới vào Nam thấy một cô Ba mặc áo bà ba nút ốc, tóc chải dầu dừa, thoảng mùi bông lài và khói bếp. Họ không biết Penang hay Baba-Nyonya. Họ chỉ biết cô Ba ấy thuộc về miền đất này. Rồi cái áo mang tên cô.
Nhân cái chữ ba mông lung của ba láp, ba xạo, ba trợn, tôi lại nhìn thấy áo bà ba trong bức tranh chợ cũ. Trước mắt là một mái chợ, một bếp lửa nhỏ, một ấm nước, mấy cái ghế thấp, rổ rau, chiếc xe đạp, những người đàn ông đàn bà đi qua đi lại. Có người mặc áo bà ba. Thế là chữ ba lại hiện lên, không phải trong sách, không phải ở cuối một dòng từ điển, mà ở giữa chợ, giữa khói bếp và tiếng người.
Nhưng bà ba ở đây không thuộc họ ba ấy.
Ba trong ba láp, ba xạo, ba trợn là thứ âm đầu rất Nam Bộ. Nó không còn làm công việc của con số. Nó lẫn lộn, xô đẩy, làm cho nghĩa phía sau có thêm vẻ ba hoa, bừa bộn, không được việc, không đáng tin hoặc hơi đáng cười. Ba láp ba xàm là cả một đám bụi khẩu ngữ tung lên câu chuyện. Ba xạo là một cái nhướng mày. Ba trợn là một dáng người, một nết người, có cái gì vừa ngông vừa chỏi.
XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP




