Wednesday, September 30, 2026

Trao mùa trao chữ (Tác giả: Pierre Nguyễn) - Kỳ 1


Tác giả: Pierre Nguyễn

September 28, 2026

 


Đoạn tuyệt, tuyệt giao và những cách từ chối

Không phải mọi rời bỏ đều là một cuộc chia tay có nước mắt. Có những rời bỏ là hành vi cắt đứt. Đoạn tuyệt viết 斷絕. Đoạn là cắt. Tuyệt là đứt sạch, hết hẳn. Đoạn tuyệt với một người, một quá khứ, một thói quen, một hệ tư tưởng là không chỉ đi xa mà cắt sợi dây nối mình với điều ấy. Nó có ý chí. Nó có phán quyết. Đôi khi nó có cả giận dữ.

Ta thường nói đoạn tuyệt với quá khứ, đoạn tuyệt với gia đình, đoạn tuyệt với một nếp sống. Giới từ với đặt đối tượng của sự cắt đứt ở phía bên kia. Ta cũng có thể nói một cuộc đoạn tuyệt. Khi ấy hành vi được danh từ hóa, thành một biến cố trong đời sống. Từ bỏ khác với đoạn tuyệt ở điểm này. Ta từ bỏ thuốc lá, từ bỏ chức vụ, từ bỏ một giấc mơ. Từ bỏ tập trung vào cái bị để lại. Đoạn tuyệt tập trung vào quan hệ bị cắt. Một người có thể từ bỏ một chức vụ mà không đoạn tuyệt với đời sống chính trị. Một người có thể đoạn tuyệt với một gia đình mà không hề từ bỏ ký ức về họ.

Tuyệt giao viết 絕交. Nó hẹp hơn đoạn tuyệt. Tuyệt giao nói đặc biệt về quan hệ giao du giữa người với người, giữa nhóm với nhóm, giữa quốc gia với quốc gia. Một người tuyệt giao với bạn cũ. Hai nước tuyệt giao. Trong chữ giao có sự qua lại. Tuyệt giao là chấm dứt sự qua lại ấy.

Khước từ, từ khước, cự tuyệt và tạ tuyệt lại đi về phía từ chối. Khước từ ngày nay thông dụng hơn từ khước, dù hai chữ khá gần nhau. Cự tuyệt mạnh hơn, trực tiếp hơn, thường hàm ý không muốn thương lượng. Tạ tuyệt nhã hơn, giữ lễ hơn. Một người tạ tuyệt lời mời không có nghĩa người ấy đoạn tuyệt với người mời. Một người cự tuyệt một đề nghị vẫn có thể để cửa mở cho một cuộc nói chuyện khác. Nhưng đoạn tuyệt là xé bỏ cả mối liên hệ. Trong văn chương, chọn sai chữ sẽ đổi cả lịch sử của nhân vật.

Một người giã từ người yêu có thể vẫn yêu. Một người từ biệt người yêu có thể lên đường vì hoàn cảnh. Một người tạ tuyệt lời cầu hôn chỉ đang từ chối một đề nghị. Một người đoạn tuyệt với người yêu đã đưa ra một bản án cho mối quan hệ. Một người tuyệt giao với bạn cũ đã đóng cánh cửa qua lại. Những khác biệt ấy nhỏ trên mặt chữ nhưng lớn trong đời sống.

Buông bỏ, từ bỏ và sự tự do khó khăn

Tiếng Việt hiện đại rất hay dùng buông bỏ. Chữ này đi cùng ngôn ngữ tâm lý, chữa lành, tự giúp mình, đôi khi đi cùng những diễn giải phổ thông về Phật giáo. Buông bỏ gợi hình ảnh bàn tay mở ra. Không nắm chặt nữa. Không níu một điều đã làm mình đau. Người ta buông bỏ oán hận, buông bỏ mặc cảm, buông bỏ một tình yêu không thể cứu.

Nhưng buông bỏ không phải lúc nào cũng là sự sáng suốt. Có khi nó là mỹ từ che nỗi bất lực. Một người buông bỏ vì đã không còn sức giữ. Một người từ bỏ giấc mơ vì hoàn cảnh không cho phép. Một người đầu hàng vì không còn đường sống. Không thể chỉ nhìn chữ rồi phán đoán phẩm chất đạo đức của hành động. Phải nhìn toàn bộ hoàn cảnh.

Từ bỏ có thể là đau đớn nhưng cũng có thể là tự do. Từ bỏ một đặc quyền để giữ lương tâm. Từ bỏ một ảo tưởng để nhìn thẳng vào sự thật. Từ bỏ quyền lực để sống phần đời còn lại theo ý mình. Những hành vi ấy không hề là thất bại. Cái đáng hỏi không phải là có từ bỏ hay không. Cái đáng hỏi là từ bỏ cái gì, vì sao và sau đó con người giữ lại điều gì.

Bên cạnh buông bỏ và từ bỏ còn có buông xuôi, bỏ cuộc, đầu hàng, bỏ dở, ruồng bỏ, hắt hủi, phủi tay. Buông xuôi là thôi chống đỡ. Bỏ cuộc là dừng tham dự một cuộc tranh đấu hay cạnh tranh. Đầu hàng là chịu thua trước một lực lượng mạnh hơn. Bỏ dở là không làm đến cùng. Ruồng bỏ và hắt hủi thường đi cùng sự phũ phàng đối với người yếu thế. Phủi tay là rũ trách nhiệm. Gom tất cả vào một nhóm buông dứt sẽ làm mất những sắc thái đạo đức và tâm lý rất khác nhau.

Chữ đi qua đời sống

Từ những chữ đã đi qua, có thể nhìn thấy một điều căn bản. Tiếng Việt không có những hàng rào cứng giữa Hán-Việt và tiếng Việt. Một chữ Hán có thể đã trở nên gần gũi như lời nói hằng ngày. Một tiếng Việt có thể đứng cạnh chữ Hán mà vẫn tạo thành một câu đẹp. Không nên dùng nguồn gốc để cấm đoán sự sống của chữ.

Từ biệt có thể đi với con người, nơi chốn, thời gian, tuổi thơ, cuộc đời. Giã từ cũng vậy. Sự khác nhau chủ yếu nằm ở giọng điệu và tư thế. Cáo biệt giữ lễ. Tạ từ đáp lễ rồi lui. Từ biệt nói lời chia tay. Giã từ nghiêng về hồi ức. Tiễn biệt là con mắt của người ở lại. Ly biệt là cảnh bị chia xa. Vĩnh biệt là sự không còn gặp lại. Đoạn tuyệt là lưỡi dao cắt quan hệ. Tạ tuyệt là lời từ chối có khuôn phép.

Chữ không chỉ để gọi tên sự việc. Chữ đặt con người vào quan hệ với sự việc. Nói giã từ, ta vẫn để lại một vùng ấm trong ký ức. Nói đoạn tuyệt, ta tuyên bố cắt. Nói vĩnh biệt, ta nhận ra mình đã đến chỗ không thể làm lại. Nói tạ từ, ta vẫn giữ nếp đáp ân trước lúc quay lưng.

Có lẽ lời chia tay nhiều hơn lời gặp gỡ vì gặp gỡ chỉ cần mở cửa. Chia tay phải gọi tên cả quãng đường đã đi qua. Mỗi chữ là một cách con người học lấy một dáng đứng trước điều không thể giữ mãi. Và chính ở phút phải rời đi, ngôn ngữ mới cho ta biết trái tim mình muốn khép lại, muốn cắt đứt, muốn biết ơn, hay vẫn còn muốn ngoái nhìn.

Gợi ý tư liệu tra cứu gồm Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, các kho từ điển Hán-Nôm và văn bản quốc ngữ cổ.

PHỤ LỤC LẠI CHỮ

Tôi không thể từ bỏ chữ.

Không phải thứ chữ nằm ngay ngắn trong quyển từ điển dày, có họ, có tên, có nghĩa thứ nhất, nghĩa thứ hai, có dấu chấm hết sau mỗi định nghĩa. Tôi nói đến những chữ long đong ngoài đường phố. Chữ ở đầu môi người bán hàng. Chữ đi dép lê, ăn cơm bụi, đội nắng Sài Gòn. Chữ không được mời vào phòng khách của văn chương đài các, nhưng nghe kỹ thì trong nó có cả một thành phố.

Chẳng hạn ba láp.

Nghe ba láp, người ngoài Bắc có thể chỉ thấy một tiếng lạ tai. Người Sài Gòn cũ nghe nó lại thấy một cái nhướng mày, một tiếng cười nửa miệng, thấy một người đang nói dai, nói bừa, nói không đầu không đũa, nghe phát mệt mà chưa chắc đã giận. Ba láp không hoàn toàn là nói nhảm. Nói nhảm có thể là lời vô nghĩa. Ba láp còn có cái điệu. Nó là một thứ nói dai, nói lăng nhăng, nói đến nỗi câu chuyện bị kéo dài như sợi dây thun đã cũ, kéo mãi không đứt mà cũng không còn dùng được vào việc gì.

Ba xàm ba láp thì đông đúc hơn. Một chữ chưa đủ, phải kéo thêm một chữ khác đến làm bạn. Tiếng Nam Bộ có cái thú ấy. Không nói sai, mà sai bét bèng beng. Không nói lăng nhăng, mà cà chớn cà cháo. Không chỉ nhảm, mà bá láp bá xàm. Cái chữ sau đôi khi không có nghĩa tách bạch, nhưng nó làm cho chữ trước nở ra, rung lên, có nhịp, có hứng. Như người nói không chỉ muốn phán một điều là sai, còn muốn phán nó theo một lối có duyên.

Trong một cuộc góp nhặt tiếng Sài Gòn xưa, Nguyễn Cao Trường đã nhắc đến kiểu nói điệp âm ấy. Bá láp bá xàm, cà chớn cà cháo, sai bét bèng beng. Những tiếng đi đôi không chỉ làm câu nói dài hơn. Chúng tạo ra một nhịp miệng. Đọc trên giấy đã thấy vui, nhưng phải nghe người Nam nói mới thấy hết. Cái hay nằm trong độ kéo của hơi, độ liếc của mắt, cái nhấn đúng vào cuối câu. Có khi một tiếng ghét kéo dài lại là thương. Có khi “cha già dịch” nghe như mắng mà hóa ra là một cách vuốt ve. Chữ không có thân xác, nhưng giọng nói cho chữ một thân xác.

Tôi quý tiếng Nam Bộ ở chỗ ấy. Nó không sợ bình dân. Nó không sợ những tiếng bị kẻ học chữ chê là thô. Nó không đánh bóng cái nghèo của mình để xin được vào một cuộc hội nghị ngôn ngữ. Nó cứ sống. Sống ở bến xe, ở quán cà phê, ở chợ, trên ghe, trong cải lương, trong những câu nói nửa đùa nửa thật. Một thứ tiếng đã sống thì không cần giấy chứng nhận lịch sự.

Ba láp có nguồn gốc nào. Câu hỏi nghe nhỏ, nhưng đi sâu vào sẽ thấy chữ cũng có những cuộc phiêu lưu như con người.

Giả thuyết được nói nhiều nhất đưa ba láp về tiếng Pháp palabre. Trong tiếng Pháp, palabre là cuộc nói chuyện dài dòng, tốn lời, không đi đến một kết quả nào cho ra hồn. Nghĩa ấy khít với ba láp. Về âm, con đường từ palabre sang ba láp cũng không phải chuyện không thể có. Tiếng Việt thời thuộc địa đã nhận không ít tiếng Pháp, rồi nắn chúng theo cái miệng Việt Nam. Âm đầu p trong nhiều tiếng vay mượn cũ có thể chuyển thành b. Pâté thành ba tê. Pardessus thành ba đờ xuy. Palabre thành ba láp. Nghe cũng có lý.

Nhưng trong nghề khảo chữ, có lý chưa đủ. Một chữ giống một chữ khác về âm và nghĩa chưa chắc đã là con ruột của nó. Những người dè dặt với giả thuyết Pháp nhắc đến một điều đáng chú ý. Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của, in vào cuối thế kỷ mười chín, đã ghi nhận bá láp. Những cuốn từ điển và tư liệu xưa còn cho thấy một họ tiếng nói liên quan như nói láp, nói dáp, nói láo. Từ đó có ý kiến cho ba láp có thể thuộc một lớp từ Việt cũ hơn, hay ít ra không dễ dàng quy về một từ Pháp ít thông dụng.

Lại có giả thuyết nối ba láp với tiếng Pāli palāpa, chỉ lời phù phiếm, chuyện tầm phào. Về nghĩa, sự gần gũi thật khó làm ngơ. Về âm, cũng có sự tương ứng khiến người ta phải để mắt. Nhưng giữa hai bờ âm thanh và nghĩa ấy còn một con sông rộng. Từ Pāli đã đi vào tiếng Việt bằng con đường nào, qua cộng đồng nào, vào thời điểm nào, đã biến âm ra sao. Nếu chưa chỉ được lộ trình ấy, ta chỉ mới có một phỏng đoán thú vị, chưa có một kết luận.

Tôi thích thái độ dè dặt ấy. Không phải vì khảo ngữ cần nói mập mờ để khỏi chịu trách nhiệm. Trái lại, dè dặt là sự ngay thẳng của người làm chữ. Có những từ nguyên đã rõ như cái cầu bê tông. Có những từ nguyên chỉ là chiếc cầu khỉ, bước lên phải thử từng nhịp. Ba láp hiện còn thuộc loại chiếc cầu khỉ ấy. Ta biết nó ở đây. Ta biết nó mang nghĩa gì. Ta biết nó có một đời sống đầy sức sống trong khẩu ngữ Nam Bộ. Còn nó đã từ đâu mà tới, chuyện ấy nên để ngỏ bằng sự trân trọng.

Nhưng nguồn gốc có ngã ngũ hay chưa cũng không làm ba láp bớt hay đi một chút nào. Người ta không yêu một chữ chỉ vì nó có giấy khai sinh sạch sẽ. Người ta yêu chữ vì nó làm được việc. Ba láp làm được việc của nó rất gọn. Chỉ cần nghe ai thao thao bất tuyệt về một chuyện không đâu, ta nói “thôi, ba láp vừa thôi” là câu chuyện đã bị cắt một nhát rất Nam Bộ. Không cần gọi họ là người phát ngôn thiếu căn cứ. Không cần mở cuộc họp báo. Một tiếng ba láp đủ cho cả bản án, mà bản án lại có nụ cười.

Chữ từ bỏ cũng làm tôi nghĩ ngợi.

Từ bỏ là một tổ hợp không cùng gốc. Từ trong từ bỏ là chữ 辭, có nghĩa rời, thôi, từ khước. Bỏ là tiếng Việt rất đời. Bỏ chợ, bỏ nhà, bỏ học, bỏ bữa, bỏ của chạy lấy người, bỏ qua, bỏ quên, bỏ mặc. Một chữ Hán-Việt đi với một tiếng Việt, hai bên không hỏi nhau hộ khẩu, vậy mà sống với nhau lâu đến nỗi ai nghe cũng thấy tự nhiên.

Đó là một bằng chứng nhỏ cho thấy tiếng Việt không chịu sống trong những cái ngăn quá sạch. Người ta có thể nói từ bỏ danh vọng, từ bỏ chức quyền, từ bỏ thói quen, từ bỏ một giấc mơ. Nhưng cũng có thể nói bỏ về, bỏ đi, bỏ ngang, bỏ xứ, bỏ mạng, bỏ cuộc. Từ bỏ nghe có suy nghĩ hơn. Nó có vẻ như đã được cân nhắc. Bỏ thì nhanh hơn, gần thân xác hơn, đôi khi nghe thấy cả tiếng chân. Một người từ bỏ quê hương có thể đã mang trong lòng một bi kịch. Một người bỏ quê nghe như đã xách túi đi trong một buổi chiều không kịp nói với ai.

Tôi không thể từ bỏ chữ cũng theo cái nghĩa ấy. Không thể lìa khỏi chữ. Không thể bỏ mặc chữ. Không thể nhìn thấy một chữ bị nói sai, dùng cạn, hiểu vội, rồi quay mặt đi như không có chuyện gì. Không phải vì tôi muốn giữ tiếng Việt trong tủ kính. Ngôn ngữ mà nhốt trong tủ kính thì chỉ còn là đồ trưng bày. Tôi muốn chữ được sống, được đi, được va chạm, được bồi đắp bởi đời thường. Nhưng sống không có nghĩa là bị dùng quấy. Chữ càng bình dân càng cần được nghe cho kỹ.

Một thành phố mất đi nhiều thứ trước khi nó biết mình đã mất. Mất một rạp chiếu bóng. Mất một tên đường. Mất quán cà phê có cái ghế mây cũ. Mất tiếng rao. Sau cùng mới đến mất tiếng nói. Đến lúc những tiếng như hén, nghen, hổng, biểu, bển, hổm rày, cà rề, xạo ke, bá láp bá xàm chỉ còn nằm trong một danh mục sưu tầm, người ta sẽ biết một phần hơi thở của thành phố đã trở thành đồ cổ.

Nhưng chữ không chết dễ thế. Chữ biết luồn lách. Nó trốn trong một câu đùa. Nó sống trong một bài hát. Nó bất thần hiện ra trong lời một bà già gọi cháu. Nó đi qua phim ảnh, dù phim hôm nay đôi khi quên mất cách người Sài Gòn xưa nói. Một bộ phim đặt bối cảnh cũ mà nhân vật nói toàn thứ tiếng thời nay sẽ giống một căn nhà Nam Kỳ có mặt tiền cổ nhưng bên trong lại treo đèn nê ông nhấp nháy. Không sai hẳn, nhưng nghe có cái gì chỏi.

Chữ ba trong ba láp cũng đáng ngờ vực theo một cách thú vị. Nó không còn là số đếm. Trong khẩu ngữ Nam Bộ, ba thường xuất hiện như một tiếng đệm có sức làm nghĩa. Ba xạo, ba trợn, ba lơn, ba que, ba phải, ba hoa, ba vạ. Không phải mọi tiếng ấy đều cùng một nguồn gốc. Có tiếng có thể từ tiếng Pháp, có tiếng có thể thuần Việt, có tiếng đã mờ hẳn lai lịch. Nhưng khi đứng đầu, âm ba tạo ra một vùng nghĩa mông lung. Nó làm câu nói mang vẻ lăng nhăng, bừa bãi, cường điệu, không đáng tin, không được việc.

Ba láp vì vậy không chỉ là lời nói nhảm. Nó là một thứ nhảm có bè bạn, có đà, có tiếng vang. Người Nam không cần giảng dài về một câu chuyện vô bổ. Chỉ cần phẩy tay, nói “ba láp ba xàm” là đủ. Cái ba ở đây giống một vốc bụi tung lên trên sự việc. Sự việc còn đó, nhưng đã bị phủ một lớp không nghiêm chỉnh.

Vì vậy tôi lại chữ.

Lại không phải để quay về và đóng cửa. Lại để nghe. Lại để nhặt. Lại để biết trong cái tiếng bị người ta gọi là ba láp có một lịch sử của miệng nói, một phong vị của đất, một nhịp điệu của người Nam Bộ. Lại để nhận ra từ bỏ không chỉ là bỏ một vật. Nó là một cách con người cắt nghĩa với điều mình phải rời xa.

Và lại để thú thật một điều. Tôi có thể từ bỏ nhiều thứ. Một chuyến đi. Một căn nhà. Một giấc mơ quá xa. Nhưng với chữ, nhất là những chữ đã mang giọng nói của một miền đất, tôi không thể từ bỏ.

Tôi chỉ có thể trao chúng lại.

Và tôi còn tản bộ vào một vùng, thật thà mà trang nghiêm, đầu của biết bao những kỷ niệm quá yêu quý. Áo bà ba, trong nhà ngoài phố. Năm 1954, người mới vào Nam thấy một cô Ba mặc áo bà ba nút ốc, tóc chải dầu dừa, thoảng mùi bông lài và khói bếp. Họ không biết Penang hay Baba-Nyonya. Họ chỉ biết cô Ba ấy thuộc về miền đất này. Rồi cái áo mang tên cô.

Nhân cái chữ ba mông lung của ba láp, ba xạo, ba trợn, tôi lại nhìn thấy áo bà ba trong bức tranh chợ cũ. Trước mắt là một mái chợ, một bếp lửa nhỏ, một ấm nước, mấy cái ghế thấp, rổ rau, chiếc xe đạp, những người đàn ông đàn bà đi qua đi lại. Có người mặc áo bà ba. Thế là chữ ba lại hiện lên, không phải trong sách, không phải ở cuối một dòng từ điển, mà ở giữa chợ, giữa khói bếp và tiếng người.

Nhưng bà ba ở đây không thuộc họ ba ấy.

Ba trong ba láp, ba xạo, ba trợn là thứ âm đầu rất Nam Bộ. Nó không còn làm công việc của con số. Nó lẫn lộn, xô đẩy, làm cho nghĩa phía sau có thêm vẻ ba hoa, bừa bộn, không được việc, không đáng tin hoặc hơi đáng cười. Ba láp ba xàm là cả một đám bụi khẩu ngữ tung lên câu chuyện. Ba xạo là một cái nhướng mày. Ba trợn là một dáng người, một nết người, có cái gì vừa ngông vừa chỏi.

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP 

Tuesday, September 29, 2026

Từ cao tốc 187 km đến kênh đào Funan Techo gần 1 tỷ USD: Trung Quốc thay đổi hạ tầng Campuchia ra sao?


Theo Duy Nguyễn/Soha News

29/9/2026

 


Theo các chuyên gia, giá trị kinh tế của những tài sản này sẽ phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng chúng.

Tờ Khmer Times (Campuchia) ngày 29/9 đưa tin, từ đường cao tốc và cầu cống đến sân bay và đường thủy, Trung Quốc đã trở thành đối tác chính trong kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng của Campuchia, cung cấp tài chính và chuyên môn xây dựng cho các dự án nhằm cải thiện hậu cần, kết nối các trung tâm kinh tế và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường khu vực.

Mới đây nhất là Dự án Quản lý Tài nguyên Nước Tích hợp Funan Techo, trong đó một thỏa thuận tài chính mới đã củng cố hơn nữa vai trò của Trung Quốc tại một trong những dự án cơ sở hạ tầng lớn nhất của Campuchia.

Ngày 9/9, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc và Công ty Đường thủy Nội địa và ven biển Funan Techo của Campuchia đã ký kết thỏa thuận cấp vốn gần 1 tỷ USD cho dự án kênh đào này.

Đoạn thứ hai của Kênh đào Funan Techo (trải dài 151,6 km từ Prek Po ở tỉnh Kandal đến bờ biển Kep của Campuchia) đã khởi công hồi tháng 4 với sự hiện diện của Thủ tướng Campuchia Hun Manet và Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia Uông Văn Bân. Dự kiến công trình sẽ hoàn thành trong vòng 36 tháng.

Thủ tướng Campuchia Hun Manet (hàng trước, bên phải) và Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia Uông Văn Bân (hàng trước, thứ hai từ phải sang) tham dự lễ khởi công giai đoạn 2 của Dự án Quản lý Tài nguyên Nước Tích hợp Funan Techo tại tỉnh Takeo, Campuchia, vào ngày 11/4/2026. Ảnh: Khmer Times

Theo Khmer Times, các công ty nhà nước Trung Quốc đã và đang đóng vai trò nổi bật trong lĩnh vực xây dựng của Campuchia, trong đó có Tập đoàn Xây dựng Đường và Cầu Trung Quốc (CRBC) - một công ty con của Tập đoàn Xây dựng Giao thông Trung Quốc, đơn vị tham gia vào dự án Kênh đào Funan Techo và đã thực hiện nhiều dự án giao thông lớn trên khắp Campuchia.

Trước đó, Đường cao tốc Phnom Penh-Sihanoukville dài 187 km, tuyến đường cao tốc đầu tiên của Campuchia, được CRBC phát triển theo hình thức BOT (Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao) và khánh thành năm 2022, giúp cải thiện kết nối đến Cảng tự trị Sihanoukville - cảng biển thương mại nước sâu chính của Campuchia.

Bên cạnh đó, nguồn vốn vay ưu đãi của Trung Quốc cũng đã hỗ trợ việc nâng cấp đoạn đường dài 45,5 km thuộc Quốc lộ 7 của Campuchia lên quy mô 4 làn xe.

Các cây cầu tại vương quốc này cũng nhận được sự hỗ trợ tương tự. Cầu Dei Edth-Thmor Kor bắc qua sông Mekong, do CRBC xây dựng, bao gồm một cây cầu chính dài 1.600 mét và 2.100 mét đường dẫn. Dự án này củng cố hành lang giao thông Phnom Penh-Bavet và đã hoàn thành hơn 53% tính đến cuối tháng 6.

Tại Phnom Penh, Tập đoàn Xây dựng Thượng Hải đang xây dựng cầu Chak Angre Krom-Prek Pra bắc qua sông Bassac bằng nguồn vốn ưu đãi từ Trung Quốc.

Trong lĩnh vực hàng không, Sân bay Quốc tế Siem Reap Angkor do các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư và xây dựng theo hình thức BOT, được khai trương vào năm 2023.

Theo các chuyên gia, giá trị kinh tế của những tài sản này sẽ phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng chúng. Đường cao tốc cần lưu lượng giao thông, cảng biển và sân bay cần khối lượng hàng hóa cũng như hành khách, còn đường thủy cần các đơn vị khai thác thương mại để tạo ra lợi nhuận.

Đối với Dự án Quản lý Tài nguyên Nước Tích hợp Funan Techo, việc phát triển hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và hậu cần xung quanh tuyến đường thủy sẽ quan trọng không kém việc hoàn thành dự án. Ảnh: SCMP

Trả lời phỏng vấn Khmer Times, ông Ben Li - người sáng lập kiêm Chủ tịch danh dự Hiệp hội Thương mại Hoa kiều Campuchia (CCCA) - cho biết: "Là một nhà đầu tư Hồng Kông [Trung Quốc] đã đầu tư xây dựng tại Phnom Penh nhiều năm, tôi thấy được sự đóng góp của Trung Quốc mỗi ngày."

Ông lưu ý rằng các khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng tại Campuchia (bao gồm đường bộ, đường cao tốc, cảng biển được nâng cấp, năng lực sân bay mới và hệ thống đường thủy được cải thiện) đã giúp rút ngắn khối lượng công việc của nhiều thập kỷ xuống chỉ còn trong một thế hệ.

"Đối với các nhà phát triển, lợi ích rất cụ thể: thời gian vận chuyển ngắn hơn, chi phí vận tải và năng lượng thấp hơn, cùng sự tự tin để cam kết nguồn vốn dài hạn", ông nói.

Khi được hỏi làm thế nào để Campuchia tối đa hóa lợi ích, ông Li chia sẻ: "Lời khuyên của tôi rất đơn giản: cơ sở hạ tầng chỉ thực sự mang lại hiệu quả kinh tế khi nền kinh tế xung quanh nó được tạo điều kiện để phát triển."

"Lợi thế của Campuchia là họ vẫn đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Hãy tận dụng các dự án này để củng cố nền tảng công nghiệp thay vì chỉ dùng làm lối trung chuyển hàng hóa; khi đó, lợi ích thu lại sẽ vượt xa chi phí đầu tư", ông Li nói thêm.

Soha News

LINK:

https://www.baoquocdan.org/2026/09/tu-cao-toc-187-km-en-kenh-ao-funan.html

 

Monday, July 27, 2026

Mười năm hợp tác Lancang - MeKong: Tham vọng chiến lược của Trung Quốc và cái giá phải trả của các nước hạ nguồn


Phạm Phan Long

25/7/2026

 


Hình 1: Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao lần thứ 10 Hợp tác Lancang - Mekong tại Vân Nam, Trung Quốc, ngày 15 tháng 8 năm 2025. Từ trái: Bùi Thanh Sơn (Việt Nam), Thongsavanh Phomvihane (Lào PDR), Maris Sangiampongsa (Thái Lan), Vương Nghị (Trung Quốc), Prak Sokkhon (Cam Bốt), U Than Swe (Myanmar).

 

Tham vọng chiến lược của Trung Quốc và cái giá phải trả của các nước hạ nguồn

Lời dẫn: Sau mười năm hoạt động, Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC) do Trung Quốc khởi xướng đã bộc lộ rõ sự mất cân đối trong quan hệ giữa các bên. Dù mang lại một số dự án hạ tầng và thúc đẩy thương mại, cơ chế này cũng khiến các nước hạ nguồn ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc về vốn, thị trường và chuỗi cung ứng. Thêm vào đó là những rủi ro ngày càng lớn đối với an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, môi trường và thậm chí cả chủ quyền quốc gia.

Với lợi thế kiểm soát toàn bộ thượng nguồn sông Mekong, Trung Quốc nắm trong tay đòn bẩy quan trọng để tác động đến dòng chảy, đầu tư và thương mại trong khu vực. Trong khi đó, các nước hạ nguồn ngày càng rơi vào thế phụ thuộc: Thâm hụt thương mại gia tăng, nợ công chồng chất, ô nhiễm xuyên biên giới khó kiểm soát và dư địa cho các quyết sách chiến lược độc lập ngày càng bị thu hẹp. Không ít nhà quan sát cho rằng, các nước này đang có nguy cơ trở thành những “chư hầu kinh tế” của Bắc Kinh.

Bên cạnh đó, các hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông – từ việc đơn phương tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn vùng biển, xây dựng và quân sự hóa các thực thể tranh chấp, đến những vụ tấn công tàu thuyền của các nước khác – đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực. Việc Bắc Kinh bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 và tiếp tục theo đuổi các yêu sách bị nhiều nước phản đối, cũng khiến niềm tin của các nước trong khu vực đối với Trung Quốc bị suy giảm đáng kể.

Bài viết sau đây sẽ đánh giá toàn diện mười năm hoạt động của Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC), phân tích những thách thức mà Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam đang đối mặt, đồng thời đề xuất một số hướng cải tổ nhằm bảo vệ lợi ích lâu dài của các nước hạ nguồn. Từ những diễn biến trên sông Mekong đến các hành động trên Biển Đông, nhiều nhà phân tích cho rằng LMC không chỉ là một khuôn khổ hợp tác kinh tế, mà còn là công cụ để Bắc Kinh mở rộng ảnh hưởng chiến lược trong khu vực.

Thương mại mất cân bằng và sự lệ thuộc kinh tế

Trung Quốc coi thương mại là một trong những thành tựu nổi bật của Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC), với tổng kim ngạch giữa Trung Quốc và năm quốc gia hạ nguồn đạt khoảng 500 tỷ USD trong năm 2025. Tuy nhiên, đằng sau con số ấn tượng đó là một thực tế đáng lo ngại: Lợi ích từ thương mại không được phân bổ đồng đều. Chỉ trong năm 2025, Việt Nam đã ghi nhận mức thâm hụt thương mại với Trung Quốc lên tới 115,6 tỷ USD, trong khi Campuchia và Thái Lan cũng chịu mức nhập siêu rất lớn.

Nguyên nhân nằm ở cơ cấu thương mại thiếu cân đối. Các nước hạ nguồn chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô và nông sản có giá trị gia tăng thấp, nhưng lại nhập khẩu máy móc, thiết bị và hàng công nghiệp có giá trị cao từ Trung Quốc. Điều này khiến họ khó tham gia vào các khâu mang lại lợi nhuận lớn hơn trong chuỗi cung ứng, đồng thời ngày càng phụ thuộc vào thị trường và năng lực sản xuất của Trung Quốc.

Sự lệ thuộc còn thể hiện qua các dự án hạ tầng quy mô lớn được tài trợ bằng vốn vay. Tại Lào, tuyến đường sắt Trung Quốc – Lào cùng nhiều dự án liên quan đã góp phần đẩy nợ công lên trên 100% GDP, trong đó phần lớn là các khoản nợ đối với các chủ nợ Trung Quốc. Khi gánh nặng nợ gia tăng, khả năng tự chủ về chính sách tài khóa và phát triển của các nước vay vốn cũng bị thu hẹp, làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc kinh tế vào Bắc Kinh.

Khai thác tài nguyên và những hệ lụy môi trường xuyên biên giới

Bên cạnh hạ tầng và thương mại, LMC cũng tạo điều kiện để các doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng hoạt động khai thác tài nguyên trong lưu vực Mekong. Đáng chú ý nhất là các dự án khai thác đất hiếm và vàng tại Lào và Myanmar. Theo bảng dữ liệu tương tác của Trung tâm Stimson, hiện có khoảng 2.699 điểm khai thác mỏ chưa được kiểm soát nằm dọc các con sông và phụ lưu đổ vào hệ thống Mekong, đặt ra những rủi ro nghiêm trọng đối với môi trường và nguồn nước của cả khu vực.

 


Hình 2: Các mỏ đất hiếm ở Đông Nam Á lục địa tính đến ngày 17-7-2026. 

Nguồn: Trung tâm Stimson

 

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

 

Thursday, May 28, 2026

Rừng ngập mặn và những thách thức về bảo tồn « tuyến phòng thủ tự nhiên » ven biển Việt Nam


Thùy Dương/RFI

28/5/2026

 

 (Ảnh minh họa)  

Khu vực ven biển ở Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam. AFP - NHAC NGUYEN

 

Ngày 26/07 hàng năm được UNESCO chọn làm Ngày Quốc tế Bảo tồn Hệ sinh thái Rừng ngập mặn, kể từ năm 2015, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của rừng ngập mặn và khuyến khích việc bảo vệ chúng. Tại Việt Nam, một trong những nước phải chịu nhiều tác động biến đổi khí hậu, nước biển không ngừng dâng cao, rừng ngập mặn là một tuyến phòng thủ tự nhiên không thể thiếu trước những tác động khắc nghiệt của tự nhiên.

Không chỉ đóng vai trò bảo vệ bờ biển, hệ sinh thái đặc biệt này còn là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật, góp phần vào sinh kế của người dân ven biển. Tuy nhiên, áp lực từ đô thị hóa, nuôi trồng thủy sản đã khiến diện tích rừng ngập mặn suy giảm đáng kể.

Để hiểu rõ hơn về thực trạng, thách thức về bảo tồn rừng ngập mặn ở Việt Nam, RFI tiếng Việt đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ.

RFI : Báo chí Việt Nam thường gọi rừng ngập mặn là bức tường xanh, lá chắn sinh thái … Tiến sĩ có thể giải thích cho thính giả - độc giả của đài RFI tiếng Việt được biết rừng ngập mặn là gì, có những nét đặc biệt về sinh thái như thế nào ?

TS. Lê Anh Tuấn : Rừng ngập mặn là những cánh rừng phát triển ở những khu đất đang bị ngập do nước mặn, đặc biệt là nước từ biển. Rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn, là một lá chắn để bảo vệ vùng bờ biển và tạo ra một hệ sinh thái rất độc đáo cho các khu vực xung quanh, đồng thời là một nguồn phát triển sinh kế cho người dân, cũng như ổn định bờ biển của Việt Nam.

Ở Việt Nam thì rừng ngập mặn tập trung nhiều nhất là ở vùng bán đảo Cà Mau, ở đồng bằng sông Cửu Long. Vào khoảng năm 1953-1954, diện tích rừng rất lớn, khoảng hơn 71.300 ha. Nhưng tới năm 1992 thì diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp rất nhiều, chỉ còn khoảng 33.000 ha.

Một lý do là chiến tranh Việt Nam trước năm 1975, cùng với việc sử dụng chất diệt cỏ nên diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp. Rồi người ta sử dụng rừng ngập mặn để khai thác gỗ hoặc là chế biến than củi làm chất đốt. Rừng ngập mặn cũng bị người ta chuyển sang sản xuất nuôi trồng thủy sản, như là nuôi tôm hay nuôi cua. Khi sản xuất được mở rộng thì rừng ngập mặn bị thu hẹp lại.

Nhưng mà sau đó thì người ta nhận thấy rằng rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn trong hệ sinh thái và đồng thời bảo vệ vùng bờ biển nên có nhiều chương trình để phục hồi rừng ngập mặn, đặc biệt là từ những năm 1995 trở đi, song song với chương trình gọi là phục hồi rừng trên toàn quốc và kèm theo đó là chương trình mà trồng rừng 5 triệu ha rừng nữa. Đây là một nỗ lực rất lớn để phục hồi lại rừng ngập mặn.

Đồng thời cũng có rất nhiều chương trình tài trợ cho việc bảo vệ rừng ngập mặn và khôi phục lại những hệ sinh thái ở vùng ngập rừng ngập mặn, đặc biệt là các vùng ven biển đồng bằng Sông Cửu Long, một số vùng ở Cần Giờ của Sài Gòn, một số vùng miền Trung như là vùng đầm phá Tam Giang hoặc là một số vùng ven biển ở phía Bắc thì rừng gặp mặn bắt đầu khôi phục dần dần và bây giờ thì diện tích rừng thì khoảng trên dưới 50 triệu ha.

Tuy nhiên cũng có rất nhiều thách thức, do biến đổi khí hậu chẳng hạn, hoặc là do sự phát triển của dân số và sản xuất, nên diện tích rừng ngập mặn vẫn không được nhiều như mong muốn. Và đặc biệt, do nước biển dâng và thiên tai, nên rừng ngập mặn ở vùng bán đảo Cà Mau đang có khuynh hướng bị thu hẹp, bị xói lở rất mạnh ở mũi Cà Mau bên phía biển đông. Nhưng một phần phù sa lại đắp cho vùng biển phía tây, nên rừng ngập mặn đang có khuynh hướng phát triển về phía tây, trong khi phía đông thì bị thu hẹp lại.

RFI : Vai trò của rừng ngập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu là gì ?

TS. Lê Anh Tuấn : Thứ nhất, rừng ngập mặn có sinh khối rất lớn. Các cây rừng ngập mặn, ví dụ như là cây mắm, cây đước, cây bần, phát triển mạnh, tạo ra một sinh khối rất lớn và dày đặc. Các rừng này sẽ hấp thụ lượng carbon (CO2) và đồng thời nhả ra oxy cho khu vực.

Đồng thời rừng ngập mặn có vai trò che chắn sự tàn phá của sóng biển hay sự tàn phá của những trận bão nhiệt đới, để bảo vệ sản xuất và đời sống của người dân ở bên trong. Rừng ngập mặn cũng là nơi trú ngụ của rất nhiều loài chim, cá, và những loài chim cá này tạo ra một cảnh quan, một sự đa dạng sinh học cho khu vực.

RFI : Với vai trò của rừng gập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu như vậy, có thể hiểu là Việt Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, rất cần rừng ngập mặn. Vậy ngoài tác dụng về chống biến đổi khí hậu thì rừng ngập mặn còn có vai trò gì đối với sinh kế của người dân Việt Nam ?

TS.Lê Anh Tuấn : Rừng ngập mặn là nơi trú ngụ của rất nhiều loại thủy sản, như các loại tôm, cua, sò, ốc khác nhau. Người dân có thể dựa vào rừng ngập mặn để nuôi tôm, rồi nuôi cua hay là nuôi sò, nuôi ốc, hoặc là người ta có thể tạo ra những sản phẩm phụ như là cây gỗ hay là tạo ra hoạt động du lịch, du lịch sinh thái ở những vùng như vậy. Đó là một cơ sở để tạo ra sinh kế của cộng đồng và thêm nguồn thu cho cho chính quyền địa phương ở đó.

RFI : Ở nhiều nước trên thế giới thì rừng ngập mặn bị tàn phá vì nhiều lý do. Tình hình tại Việt Nam, như tiến sĩ đã phân tích, diện tích rừng ngập mặn cũng đã giảm, về lịch sử thì có thể nói là do chiến tranh Việt Nam từ những năm trước 1975. Sau này thì có thể nói đến hai yếu tố, thứ nhất là biến đổi khí hậu, thứ hai là hoạt động của con người cũng đã góp phần là tàn phá, thu hẹp cái rừng ngập mặn. Vậy còn về chất lượng rừng ngập mặn hiện nay thì ra sao ?

TS. Lê Anh Tuấn : Tôi cho rằng vùng rừng ngập mặn mà được khôi phục và bảo tồn thì chất lượng sẽ tốt hơn rất là nhiều. Ví dụ như ngày xưa là rừng ngập mặn ở Cần Giờ ở khu vực Sài Gòn bị tàn phá rất nhiều. Nhưng bây giờ rừng này đã phục hồi và có rất nhiều loài chim muông và thú, hay cá tụ về. Vùng bản đảo Cà Mau người ta cũng ghi nhận như vậy.

Tuy nhiên, do sự giằng co giữa con người và thiên nhiên, biến đổi khí hậu, hoặc do sự quản lý lỏng lẻo, người ta có thể đi vào trong một khu rừng ngập mặn, chặt phá trộm hoặc là lén lút mở rộng diện tích nuôi tôm. Về mặt pháp luật, họ bị ngăn cấm rất nhiều, nhưng mà vấn đề là quản lý của chính quyền địa phương ở mỗi khu vực thì khác nhau, nơi làm tốt thì có thể rừng ngập mặn phát triển nhiều và đóng vai trò khôi phục lại hệ sinh thái và bảo vệ cái bờ biển khu vực đó.

Còn những nơi quản lý lỏng lẻo, để cho người dân vô chặt phá, hoặc ở những vùng chịu những tác động của sóng biển bị xói lở hay là do những yếu tố thiên tai khác thì rừng ngập mặn đang thu hẹp. Nhìn trên bản đồ, chúng ta thấy rằng sự thu hẹp hay là mở rộng rừng ngập mặn không đồng đều ở các vùng khác nhau của Việt Nam.

RFI : Thưa tiến sĩ Lê Anh Tuấn, ông là chuyên gia về môi trường và tài nguyên thiên nhiên, theo ông đâu là những khó khăn, những thách thức trong thời gian tới đây để bảo vệ, khôi phục rừng ngập mặn tại Việt Nam mà vẫn bảo đảm được sinh kế cho người dân ?

TS.Lê Anh Tuấn : Một trong những thách thức để bảo vệ rừng ngập mặn là chúng ta phải nhận diện lại những mối đe dọa đến diện tích rừng ngập mặn.

Thí dụ như là sạt lở bờ biển, sự suy giảm phù sa của sông Cửu Long khi ra biển, bởi vì rừng ngập mặn là một bãi bồi nhận phù sa đổ ra ngoài biển. Và những phù sa này hiện nay đang có khuynh hướng giảm đi, do sự hình thành của các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông. Đồng thời tình trạng khai thác cát bừa bãi ở vùng thượng nguồn làm cho lượng phù sa đi đến vùng bờ biển cũng ít đi. Và khi phù sa ít đi thì không còn bồi đắp lại mũi Cà Mau nữa. Điều này vừa có yếu tố con người, vừa có yếu tố tự nhiên.

Thứ hai, vấn đề là quản lý và khôi phục lại những cánh rừng ngập mặn. Nếu chúng ta có rất nhiều biện pháp mà quản lý cách chặt chẽ thì chúng ta có thể giữ được những rừng ngập mặn đó để phát triển. Còn nếu chúng ta lơi lỏng trong quản lý, để cho một số người khai thác bất hợp pháp lấy củi hoặc mở rộng diện tích canh tác thì lúc đó rừng ngập mặn sẽ bị đe dọa. Tôi nghĩ rằng là đây là một biện pháp rất tổng hợp, tuy nhiên diện tích mà chúng ta cần phải bảo vệ và duy trì quá lớn so với sức của con người ở mỗi địa phương. Thế nên, cần phải có một sự phối hợp mạnh mẽ giữa chính quyền địa phương với các cơ quan quản lý rừng, với các nhà khoa học, đồng thời phải nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ và nhận diện sự bền vững của rừng ngập mặn.

Nếu chúng ta biết cách bảo vệ thì rừng ngập mặn sẽ tiếp tục phục vụ lại chính con người chúng ta, mà chúng ta cũng có thể dừng rừng ngập mặn để hạn chế những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.

RFI : Theo ông, mô hình phục hồi rừng ngập mặn nào của Việt Nam hiện nay đang được đánh giá là hiệu quả ?

TS. Lê Anh Tuấn : Tôi nghĩ một mô hình tốt là phải có sự phối hợp giữa chính quyền và người dân trong cộng đồng. Cụ thể là ở một số nơi, chính quyền đã giao một số khu rừng ngập mặn cho người dân quản lý và bảo vệ. Người ta có thể sử dụng diện tích mặt nước để nuôi tôm, nuôi cua để khai thác và đồng thời người ta có thể phát triển được du lịch cộng đồng tại chỗ, để tăng thêm thu nhập khi mà người dân phải cùng với chính phủ bảo vệ rừng ngập mặn.

RFI : Việt Nam có được các tổ chức quốc tế, các hiệp hội bảo vệ môi trường - sinh thái hỗ trợ trong các chương trình phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn hay không ?

TS. Lê Anh Tuấn : Theo tôi biết là có rất nhiều chương trình để phục hồi rừng ngập mặn, như là chương trình của chính phủ Đức, hay là chương trình để thành lập vườn quốc gia mũi Cà Mau, hoặc là một số tổ chức phi chính phủ khác tài trợ cho những chương trình trồng rừng ngập ngập mặn và khuyến khích giới trẻ Việt Nam tham gia bảo vệ rừng ngập mặn đó, cùng nhau có những chiến dịch trồng lại những rừng ngập mặn.

Cũng có một số chương trình của chính phủ Pháp để phục hồi lại một số rừng ngập mặn, nhưng mà các chương trình đó thì không kéo dài và nguồn kinh phí thì không có nhiều như là một số tổ chức khác của Đức chẳng hạn.

RFI : Giữa việc khôi phục diện tích, mở rộng diện tích rừng ngập mặn và việc cải thiện nâng cao chất lượng của rừng ngập mặn, thì theo ý kiến đánh giá của tiến sĩ,điều nào là quan trọng hơn đối với Việt Nam để có thể chống biến đổi khí hậu ?

TS. Lê Anh Tuấn : Tôi nghĩ rằng hiện nay chúng ta phải có một cái giải pháp tương đối tổng hợp. Chúng ta cũng đừng dựa vào một giải pháp duy nhất nào đó.

Thứ nhất là về chính sách, phải tiếp tục duy trì ngân sách để phát triển rừng ngập mặn. Thứ hai là phải có sự tham gia của các nhà khoa học, sử dụng những công công cụ hiện đại để chúng ta quản lý rừng ngập mặn tốt hơn. Ví dụ như dùng viễn thám hay là dùng máy bay không người lái để tuần tiễu, tìm cách phát hiện ra những nơi nào rừng ngập mặn đang bị tàn phá hay là xâm hại, hoặc sử dụng những biện pháp, kể cả những biện pháp đơn giản, như trồng rừng lại bằng sức người, theo từng nhóm nhỏ, trồng lại rừng ở những bãi bồi, những chỗ mà rừng ngập mặn bị mất đi hoặc là chúng ta có thể tìm ra những biện pháp hỗ trợ người dân không xâm phạm rừng ngập mặn, nhưng vẫn có thể có được những sinh kế ở trên cái đất rừng ngập mặn đó.

Ví dụ như là người ta có thể giành lại một khoảng 20-25 hay là 30% diện tích mặt nước ở trong rừng ngập mặn để người ta nuôi tôm, cua hoặc là các sản vật khác chẳng hạn, mà không làm ảnh hưởng tới rừng ngập mặn. Và trong khi nuôi trồng như vậy thì người ta cũng có biện pháp bảo vệ rừng ngập mặn, phát hiện ra những người lạ xâm lấn vào trong khu rừng đó, đồng thời có thể cảnh báo cho chính quyền khi mà rừng ngập mặn gặp những mối đe dọa khác, ví dụ như sạt lở hay là ô nhiễm do hoạt động sản xuất khác. Ví dụ người sản xuất công nghiệp xả thải không qua xử lý thì có thể ảnh hưởng tới rừng ngập mặn. Như vậy, chính người được giao rừng sẽ là người cùng với chính quyền bảo vệ lại rừng ngập mặn.

Và tôi nghĩ rằng cũng nên có những chương trình bền bỉ để giúp cho cộng đồng hay là các bạn trẻ hiểu rõ vai trò của rừng ngập mặn, để cùng nhau bảo vệ. Chúng ta không nên nghĩ rừng chỉ là rừng mà rừng còn có nhiều tác dụng về nguồn nước, về khí hậu, về đất đai và hệ sinh thái, có rất nhiều lợi ích trong đó.

RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ, đã tham gia chương trình hôm nay.

Thùy Dương

SOURCE: https://www.baoquocdan.org/2026/05/rung-ngap-man-va-nhung-thach-thuc-ve.html