Wednesday, September 22, 2021

HẠN HÁN VÀ HẠN HÁN TRONG LƯU VỰC SÔNG MEKONG

Nguyễn Minh Quang

9 tháng 9 năm 2021


Phần giới thiệu

Hạn hán là một trong những thiên tai tàn khốc nhất – gây tê liệt việc sản xuất lương thực, làm kiệt quệ các đồng cỏ, gây xáo trộn thị trường, và ở cao điểm, có thể làm chết người và thú vật tràn lan.  Hạn hán cũng có thể đưa đến việc di cư từ vùng nông thôn vào đô thị, tạo thêm áp lực cho việc sản xuất lương thực đã suy giảm.  Những người chăn nuôi thường tìm các nguồn nước và thực phẩm thay thế cho thú của họ, có thể tạo nên xung đột giữa các cộng đồng canh tác và chăn nuôi [1].

Các quốc gia đang phát triển dễ bị tổn thương vì hạn hán.  Trên 80% thiệt hại kinh tế do hạn hán trong các quốc gia đang phát triển từ năm 2005 đến 2015 liên quan đến súc vật, mùa màng và thủy sản lên đến 29 tỉ USD.  Hạn hán trong các quốc gia đang phát triển tạo nên mất an ninh nước và lương thực và làm tồi tệ thêm những vấn đề có trước chẳng hạn như nạn đói và bất ổn xã hội.  Hạn hán cũng có thể góp phần vào việc di cư tập thể làm toàn thể dân số thay đổi chỗ ở. [2]

Ở Hoa Kỳ, hạn hán là dạng thiên tai gây thiệt hại nhiều nhất chỉ đứng sau bão, với thiệt hại trung bình 9,6 tỉ USD cho mỗi trận hạn hán.  Trong trận hạn hán lịch sử năm 2012 (trận hạn hán rộng lớn nhất của quốc gia kể từ thập niên 1930s), gần 2/3 lãnh thổ bị ảnh hưởng vào lúc cao điểm.  Hạn hán ở Hoa Kỳ có thể kéo dài.  Từ năm 2012 đến 2016, mưa ít và nhiệt độ phá kỷ lục ở California khiến nó trở thành trận hạn hán tồi tệ nhất của tiểu bang trong 1.200 năm [2].

Chỉ riêng trận hán hạn và nhiệt độ cực đoan trong năm 2012 đã làm cho mùa màng bị thiệt hại 17 tỉ USD.  Hạn hán cũng có thể đưa đến các vấn đề riêng của khu vực.  Thí dụ như ở California, một số lớn cá bản địa dựa vào Vịnh San Francisco-Cửa sông Châu thổ - từ cá cơm châu thổ đến cá hồi Chinook – đã tụt giảm rõ ràng vì lưu lượng giảm trong trận hạn hán lịch sử gần đây [2].

Bài viết nầy tìm hiểu về hạn hán nói chung và hạn hán trong lưu vực sông Mekong và trận hạn hán lịch sử trong năm 2019.

Hạn hán là gì?

Theo Hệ thống Tin tức Hạn hán Kết hợp Quốc gia (National Integrated Drought Information System) của Cơ quan Đại dương và Khí quyển Quốc gia (National Oceanic and Atmospheric Administration (NOAA)), hạn hán là vì thiếu mưa trong một thời gian dài, gây ra tình trạng thiếu nước [3].  Mặc dù hạn hán xảy ra một cách tự nhiên, hoạt động của con người, chẳng hạn như việc sử dụng và quản lý nước, có thể làm cho hạn hán thêm tồi tệ.

Hạn hán thay đổi từ vùng nầy sang vùng khác và phần lớn tùy thuộc vào thời tiết.  Thí dụ, hạn hán có thể xảy ra chỉ sau 6 ngày không có mưa trên hòn đảo nhiệt đới Bali, nhưng ở sa mạc Lybia thì cần lượng mưa hàng năm dưới 7 inches (178 mm) [2].

Các loại hạn hán

Hạn hán có định nghĩa khác nhau tùy theo quan niệm của mỗi người.  Các chuyên viên khí tượng định nghĩa hạn hán là không có mưa trong một thời gian dài.  Nông dân mô tả hạn hán là thiếu độ ẩm ngăn cản sự tăng trưởng của hoa màu.  Các chuyên viên thủy học định nghĩa hạn hán là ít mưa và dòng chảy thấp trong một thời gian dài.  Các định nghĩa nầy đưa đến các loại hạn hán chánh như sau [4]:

1.      Hạn hán khí tượng

Loại hạn hán nầy xảy ra khi thời tiết khô hạn vượt quá các tình trạng khí hậu khác.  Nó thường được xác định bởi sự vắng mặt của độ ẩm trong khí quyển, thí dụ, thiếu mưa cùng với các điều kiện thời tiết khác như nhiệt độ cao và gió khô.  Hạn hán khí tượng là dấu hiệu báo động của tình trạng thiếu nước tiềm tàng nếu tình trạng vẫn không thay đổi trong một thời gian dài.  Loại hạn hán này có thể ngắn hạn, có nghĩa là nó có thể bắt đầu và chấm dứt trong một thời gian ngắn.

Hạn hán khí tượng có thể xác định bằng số ngày có lượng mưa dưới mức được ấn định.  Hạn hán cũng có thể được xác định bằng sự chênh lệch với mức trung bình hàng tháng, theo mùa, hay hàng năm [5].

2.      Hạn hán nông nghiệp

Loại hạn hán nầy xảy ra khi độ ẩm của khí quyển giảm đến mức ảnh hưởng đến độ ẩm của đất.  Việc sụt giảm đô ẩm của đất gây thiệt hại cho hoa màu và thú vật.  Hạn hán nông nghiệp là dấu hiệu đầu tiên mà con người chứng kiến khi hạn hán khí tượng xảy ra.  Hạn hán nông nghiệp phát xuất từ thiếu mưa và các hoạt động canh tác của con người.

3.      Hạn hán thủy học

Loại hạn hán nầy xảy ra khi thiếu nguồn cung cấp nước, thường ở trong các sông và hồ thiên nhiên, hồ chứa nước, suối, và tầng nước ngầm.  Hạn hán thủy học xảy ra sau hạn hạn khí tượng nhiều tháng.  Hạn hán thủy học không xảy ra cùng lúc.  Sự sụt giảm phẩm và lượng của nước mặt là ảnh hưởng trực tiếp của hạn hán khí tượng.

Hạn hán thủy học phát xuất từ thiếu mưa, sử dụng quá mức nguồn nước cho nông nghiệp, năng lượng và các nhu cầu khác.  Việc điều hành các đập hay chuyển nước ra khỏi sông ở thượng lưu cũng có thể gây hạn hán thủy học ở hạ lưu.

4.      Hạn hán kinh tế xã hội

Loại hạn hán nầy liên quan đến cung cầu.  Việc cung cấp các dịch vụ và hàng hóa như nước uống, lương thực và năng lượng bị ảnh hưởng hay đe dọa bởi những thay đổi khí tượng và thủy học.  Tình trạng nầy thỉnh thoảng cùng với dân số gia tăng và bùng nổ của nhu cầu hàng hóa và dịch vụ có thể đưa đến việc tranh giành số nước ít ỏi hiện có.  Loại hạn hán nầy cần nhiều thời gian để trở nên nghiêm trọng và cần một thời gian tương tự để hồi phục.  Hạn hán kinh tế xã hội là hậu quả của hạn hán khí tượng, thủy học và nông nghiệp.

5.      Hạn hán sinh thái

Hạn hán sinh thái, một loại hạn hán mới được đề cập đến gần đây, do sự thiếu hụt nguồn nước tự nhiên kéo dài trong nhiều vùng rộng lớn – gồm có những thay đổi trong tình trạng thủy học – tạo nên nhiều áp lực trên khắp hệ sinh thái [5].  Hạn hán sinh thái là hậu quả của hạn hán khí tượng và thủy học.

Nguyên nhân của hạn hán

Có nhiều nguyên nhân đưa đến hạn hán [4].  Các nguyên nhân đó gồm có:

1.      Không có mưa hay mưa ít

Đây là nguyên nhân chánh của hạn hán trong hầu hết mọi nơi.  Không có mưa trong một thời gian kéo dài có thể làm cho cả vùng khô hạn.  Lượng hơi nước trong khí quyển ảnh hưởng đến lượng mưa trong vùng.  Vùng có áp suất thấp và ẩm thường có nhiều mưa, mưa đá và tuyết.  Vùng có áp suất cao và khô thường không có mưa.  Nông dân đoán có mưa khi trồng hoa màu, và vì thế nếu không có mưa, và các hệ thống thủy nông chưa sẵn sàng, do đó hạn hán nông nghiệp xảy ra.

2.      Thay đổi khí hậu

Thay đổi khí hậu, chẳng hạn như hâm nóng toàn cầu, có thể góp phần vào hạn hán.  Hâm nóng toàn cầu hầu như ảnh hưởng toàn thế giới, nhất là thế giới thứ ba.  Hầu hết các chánh phủ cố gắng để hạ thấp tầm quan trọng của sự hâm nóng toàn cầu.  Nhưng các nhà khoa học đã chứng minh, không còn nghi ngờ, rằng hoạt động của con người đã đóng góp phần lớn vào lượng khí nhà kiếng gia tăng trong khí quyển.  Sự gia tăng nầy làm nhiệt độ ấm lên, một yếu tố cho sự khô hạn và cháy rừng.  Tình trạng nầy có thể làm cho hạn hán kéo dài.

3.      Hoạt động của con người

Rừng là thành phần cốt yếu của chu kỳ nước.  Chúng giữ nước, giảm thiểu độ bốc hơi, và góp phần lớn vào độ ẩm của khí quyển qua dạng bốc thoát.  Điều nầy ngụ ý rằng phá rừng, nhằm mục đích nâng cao tình trạng kinh tế của một vùng, sẽ khiến cho một số lớn nước dễ bốc hơi.  Đốn cây cũng lấy đi khả năng giữ nước của đất và giúp sa mạc hóa dễ dàng.  Phá rừng cũng làm giảm tiềm năng của lưu vực.  Thâm canh là một hoạt động khác của con người góp phần gây hạn hán.  Thâm canh vỡ đất gây sạt lỡ.  Sạt lỡ làm giảm khả năng giữ nước của đất.

4.      Lạm dụng nguồn nước mặt

Nhiều vùng đặc biệt được trời ban cho các nguồn nước mặt như sông và suối bắt nguồn trong lưu vực và vùng núi non.  Các nguồn nước mặt nầy có thể cạn nếu chúng bị can thiệp.  Các hệ thống thủy nông và đập thủy điện chỉ là một vài khía cạnh góp phần vào việc lạm dụng nguồn nước mặt.  Chúng cũng cắt nguồn cung cấp nước của các cộng đồng ở hạ lưu.

5.      Chuyển nước sang lưu vực khác

Khi nước trong sông ở thượng lưu được chuyển một phần hay toàn phần sang lưu vực khác, hạn hán thủy học có thể sẽ xảy ra ở hạ lưu.  Việc chuyển nước nầy có thể do dự án cấp thủy, thủy nông hay thủy điện được thực hiện ở thượng lưu sông.

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Sunday, September 12, 2021

THAY ĐỔI CỦA LƯU LƯỢNG VÀ MỰC NƯỚC TRONG SÔNG MEKONG: HẠN HÁN TRONG KỶ NGUYÊN CỦA SIÊU ĐẬP

 

(River Discharge and Water Level Changes in the Mekong River: Droughts in an Era of Mega-Dams)

Xi Xi Lu and Samual De Xun Chua

National University of Singapore – 1 June 2021

Đập Manwan trên sông Lancang ở Trung Hoa. [Ảnh: Pinterest]

 

1.      PHẦN GIỚI THIỆU

Bắt đầu với hoạt động của đập Manwan (Mạn Loan) trên thượng lưu vực Mekong (Upper Mekong Basin (UMB)) trong năm 1992, Mekong đã chứng kiến một sự nhộn nhịp trong việc phát triển thủy điện trong lưu vực.  Ở Trung Hoa, một chuỗi với ít nhất 11 đập được xây cất để lợi dụng sự hạ thấp cao độ 800 m trong chiều dài 750 km.  Trong số đó, hai đập lớn nhất, Xiaowan (Tiểu Loan) và Nuozhadu (Nọa Trát Độ), được hoàn tất vào năm 2010 và 2014 theo thứ tự, với dung tích tổng cộng 38,26 km3, lên đến 60% dung tích của tất cả hồ chứa trong Mekong.  Ở Hạ Lưu vực Mekong (Lower Mekong Basin (LMB)), một loạt gồm có 11 đập đầy tranh cãi đang được hoạch định (Grumbine & Xu, 2011); đập đầu tiên, Xayaburi với công suất 1.285 MW, vừa bắt đầu hoạt động hồi tháng 10 năm 2019.  Sau đó, đập Don Sahong với công suất 260MW bắt đầu hoạt động trong tháng 1 năm 2020.

Với việc phát triển thủy điện gia tăng, thay đổi trong các đặc tính của dòng chảy được mong đợi.  Ở các nơi khác, việc điều hành đập làm thay đổi lòng lạch (Gupta et al., 2012; Kondolf, 1997; Petts & Gurnell, 2005) và điều chỉnh chế độ thủy học ở hạ lưu.  Nói chung, việc điều hành đập kiểm soát mạnh mẽ số nước chảy qua chúng để làm giảm lưu lượng cao trong khi làm tăng lưu lượng thấp.  Những thay đổi nầy đưa đến việc sụt giảm sự biến đổi lưu lượng hàng năm, gây ra hiện tượng thuần nhất dòng chảy thủy học (Jaramillo & Destouni, 2015; Poff et al., 2007).  Vì thế, sự khác biệt lớn lao có thể hiện hữu giữa các khúc sông ở phía trên và phía dưới đập (Graf, 2006; Magilligan & Nislow, 2005).  Những sự khác biệt nầy gồm có những thay đổi lớn lao của dòng chảy lâu dài (Lehner et al., 2011) đến những thay đổi nhỏ trong ngày (Zimmerman et al., 2010).

Hậu quả là, những thay đổi thủy học nầy sẽ ảnh hưởng hệ sinh thái trong các sông chịu ảnh hưởng của đập (Ligon et al., 1995; Nilsson & Berggren, 2000).  Đối với sông Mekong, mùa lũ hàng năm của nó rất cần thiết cho thủy sản (Halls et al., 2013; Sabo et al., 2017) và canh tác (MRC, 2010).  Do đó, bất cứ sự gián đoạn nào trong nhịp lũ hàng năm sẽ là một vấn đề cho các cộng đồng ở ven sông (Adamson & Bird, 2010).  Đối mặt với những ảnh hưởng tiêu cực tiềm tàng nầy, nhiều tác giả đã điều tra phạm vi của sự thay đổi của tình trạng thủy học sau năm 1992.

Mặc dù lưu lượng hầu như vẫn tương tự từ năm 1992 đến 2000 (Lu & Siew, 2006), việc xây cất các đập lớn trong UMB, chẳng hạn như đập Dachaoshan (Đại Chiếu Sơn) có công suất 1.360 MW và đập Jinghong (Cảnh Hồng) có công suất 1.750 MW, đã có ảnh hưởng lớn hơn đến dòng chảy từ năm 2000 đấn 2010.  Trong việc điều hành thủy điện ở UMB, nước được xả trong các tháng khô và trữ trong các tháng mưa, kết quả là tăng nước trong mùa khô và giảm nước trong mùa lũ (Räsänen et al., 2012).  Dùng dữ kiện mực nước, Cochrane et al. (2014) xác định một sự gia tăng mực nước thấp nhất (+17%) rất đáng kể cho đến Mukdahan ở Lào [Thái Lan].  Ngoài ra, ở Chiang Saen, trạm thủy học đánh dấu việc chuyển từ UMB sang LMB, việc làm đầy hồ chứa bất thường của các đập Trung Hoa cũng được liên kết với sự sụt giảm lưu lượng trong mùa khô (Lu et al., 2014b).

Sau năm 2010, với ảnh hưởng của Xiaowan và Nuozhadu, tình trạng thủy học trong Mekong đã thay đổi nhiều hơn trước (Li et al., 2017; Räsänen et al., 2017).  Tuy nhiên, các học giả khác đã lập luận rằng hiện tượng nầy có thể quan sát ở xa tận Kratie, Cambodia (Räsänen et al., 2017) hay ở tận Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam (ĐBSCL) (Binh et al., 2020).  Do đó, mặc dù những nghiên cứu nầy cho thấy rằng sự gia tăng của dòng chảy trong mùa khô đã rõ, những thay đổi của dòng chảy trong mùa mưa chưa được định lượng rõ ràng và cần được điều tra thêm.

Ngoài ra, sự hiện diện của các yếu tố lẫn lộn chẳng hạn như thay đổi khí hậu (Hoang et al., 2019; Lauri et al., 2012) hay các đập trên phụ lưu (Piman et al., 2013) cũng làm phức tạp các nỗ lực để thiết lập sự (không) liên hệ giữa các đập trên dòng chánh và sự thay đổi của lưu lượng.  Đồng thời, lưu vực đang chứng kiến việc thay đổi cách sử dụng đất và phát triển kinh tế rộng rãi, làm thay đổi thêm các đặc tính thủy học của sông.  Do đó, một tường trình khách quan về những thay đổi dòng chảy trong Mekong rất cần kíp.

Trong tháng 7 năm 2019, Mekong ghi nhận mực nước thấp nhất trong 100 năm (Lovgren, 2019).  Cùng với mùa mưa ngắn không thể giảm nhẹ hạn hán (MRC, 2020d), tình trạng kéo dài từ bắc Thái Lan (CTN News, 2020) đến ĐBSCL (Chau, 2020) ít nhất đến tận tháng 7 năm 2020 (MRC, 2020a).  Đồng thời, việc giới hạn nước trong mùa mưa bởi các đập của Trung Hoa trong UMB đã bị đổ cho là nguyên nhân chánh gây ra tai họa nầy (Basist & Williams, 2020; Johnson, 2020).  Để đáp lại, các tác giả như Hu (2020) và Tian et al. (2020) đã cãi lại rằng hạn hán là do các yếu tố khí hậu.  Ngoài ra, MRC cũng cho thấy rằng việc lấy nước thái quá từ các đập trên phụ lưu ở phía dưới Vientiane đã làm tồi tệ thêm ảnh hưởng của hạn hán (MRC, 2020a).

Trong nghiên cứu nầy, qua việc xác định các điều kiện thủy học không gian và thời gian dọc theo sông Mekong, chúng tôi liên kết chúng với việc phát triển hạ tầng cơ sở nước khác nhau trong lưu vực.  Nghiên cứu của chúng tôi cung cấp những cái nhìn mới lạ trong 3 cách.  Trước hết, các học giả trước (Binh et al., 2020; Li et al., 2017; Yun et al., 2020) chỉ dùng dữ kiện đo đạc được đến năm 2016, cho nên, ảnh hưởng cộng dồn của các siêu đập không rõ ràng.  Hơn nữa, thời kỳ từ 2016 đến 2020 chứng kiến sự hoạt động của đập đầu tiên của loạt đập trên dòng chánh ở LMB.  Vì thế, bằng cách sử dụng dữ kiện cập nhất hóa từ 1960 đến 2020, nghiên cứu của chúng tôi là một trong các nỗ lực đầu tiên để định lượng các ảnh hưởng của việc phát triển gần đây.  Thứ nhì, bằng cách sử dụng cả lưu lượng và mực nước để định lượng tầm mức của những thay đổi trong dòng chảy nầy, chúng tôi cứu xét yếu tố vế thay đổi lòng lạch thường bị xem thường trong phân tích của chúng tôi.  Sau cùng, hạn hán 2019-2020 gần đây đã thu hút sự chú ý của truyền thông liệu chuỗi đập của Trung Hoa có phải chịu trách nhiệm cho tình trạng hạn hán.  Vì thế, nghiên cứu nầy cũng sử dụng dữ kiện thủy học để giải thích hạn hán một cách khách quan.

 

2.      VÙNG NGHIÊN CỨU

Chảy dài gần 4.763 km qua 6 quốc gia, sông Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng và đổ vào Biển Đông với một lưu lượng trung bình hàng năm vào khoảng 446 km3/s [446 km3] (MRC, 2019b).  Theo truyền thống, UMB ám chỉ phần sông dài 2.000 km trong lãnh thổ Trung Hoa được gọi là Lancang.  Các quốc gia duyên hà ở Đông Nam Á (ĐNA) gồm có Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam hợp thành LMB (xem Hình 1).  Quan trọng hơn, LMB hỗ trợ cho một dân số lớn mạnh với 65 triệu người (MRC, 2019b) và nền thủy sản nội địa phong phú nhất trên thế giới (Ziv et al., 2012), có nghĩa là bất cứ việc phát triển hạ tầng cơ sở nước nào đều có hậu quả sinh thái và xã hội đáng kể.

 

Hình 1. Bản đồ của các đập hiện hữu và dự trù trên dòng chánh Mekong (tính đến tháng 7 năm 2020) và Nam Theun 2.  Các phụ lưu và trạm thủy học then chốt được đề cập trong bài viết được làm nổi bật.  Thay đổi lưu lượng hàng tháng lớn nhất và thay đổi mực nước lớn nhất trong mùa khô và mùa mưa cũng được trình bày.

 

LMB bị chi phối bởi ảnh hưởng của gió mùa Á Châu, với mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5 và mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11.  Vào mùa mưa, mưa nhiều gây lũ lụt rộng lớn nhất là ở vùng hạ lưu.  Lũ lụt nầy chiếm 75% lưu lượng hàng năm (Ruiz-Barradas & Nigam, 2018) và rất cần cho chu kỳ canh tác và đánh cá của các cộng đồng ở ven sông (Do et al., 2020; Sabo et al., 2017).  Vào mùa khô, khoảng 35% tổng số lưu lượng đến từ Trung Hoa (Hetch et al., 2019), vì thế làm cho hạ tầng cơ sở nước trong UMB là một khía cạnh tổng hợp của thủy học sông Mekong.

 

Bảng 1. Đặc tính của các đập lớn trên dòng chánh sông Mekong

(Nguồn: Mekong Regions Futures Institute, 2020)

 

Mặc dù có đến 4.200 MW của các dự án thủy điện đã được thiết trí trong các phụ lưu của LMB, nó chỉ chiếm 35% tổng số tiềm năng thủy điện được ước tính của lưu vực (MRC, 2019b).  Cùng lúc, việc phát triển nông nghiệp ngày càng tăng đã làm tăng diện tích dẫn tưới đến khoảng 4 triệu hectares trong năm 2013 (MRC, 2019b).  Vì thế, việc phát triển hạ tầng cơ sở nước trên dóng chánh Mekong và các phụ lưu sẽ gia tăng thêm trong tương lai.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi xem xét khúc sông từ Chiang Saen đến Stung Treng, bao gồm dòng chảy từ 2 phụ lưu quan trọng đã được phát triển nhiều: Chi-Mun và 3S (xem Arias et al., 2014; Piman et al., 2016, 2013).  Vào lúc bài được biên soạn, 2 đập trên dòng chánh ở LMB hoàn tất, đập Xayaburi có công suất 1.285 MW trong tháng 10 năm 2019 và đập nhỏ hơn ở Don Sahong có công suất 260 MW trong tháng 1 năm 2020.  Như được trình bày trong Bảng 1, có đến 11 đập trên dòng chánh được đề nghị hay đang xây xất trong LMB.  Nếu tất cả các đập trên dòng chánh được xây cất và hoạt động, tổng số công suất thiết trí sẽ lên đến 12.600 MW, nhiều hơn sông suất của Xiaowan và Nuozhadu gộp lại (10.050 MW).

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

HẠN HÁN, DÒNG CHẢY THẤP VÀ CHÁNH TRỊ DỮ KIỆN NƯỚC (2019-2020)

(Drought, Low Flow, and Water Data Politics (2019-2020)

 

Carl Middleton, Anisa Widyasari, Kanokwan Manotom, David J. Devlaeminck and Apisom Intralawan – Bình Yên Đông lược dịch

Center for Social Development Studies and Cambodia Development Resources Institute – August 2021

 

Dòng chảy thấp của sông Mekong ở Sangkhorn, Thái Lan. [Ảnh: Adam Dean]

 

Dòng chảy thấp trong sông Mekong trong năm 2019 và 2020 đã làm tăng sự chú ý đến việc cai quản nước xuyên biên giới và phạm vi mà dữ kiện nước cho thấy.  Khu vực đã trải qua một đợt hạn hán, được làm cho nặng nề hơn bởi hiện tượng thời tiết El Niño.  Dòng chảy thấp đã tạo rủi ro cho hệ sinh thái, việc đánh cá và canh tác, an ninh lương thực, và nguồn nước uống.  Nhiều câu hỏi đã được nêu lên về dòng chảy thấp có phải do hạn hán vì thiếu mưa, và ảnh hưởng của việc trữ nước trong các hồ chứa?  Sự chú ý hướng đến các dự án thủy điện trên dòng chánh ở Trung Hoa và Lào, một phần do tin tức và dữ kiện không đầy đủ về việc điều hành và trữ nước.  Các cuộc tranh luận cũng xem xét kỷ lưỡng các cơ quan cai quản nước xuyên biên giới, gồm có Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) và Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)), và làm thế nào để hợp tác và cạnh tranh xảy ra cùng lúc giữa các quốc gia (Middleton and Devlaeminck, 2020).

Trong lúc dòng chảy thấp nầy, việc điều hành của đập Jinghong (Cảnh Hồng) – đập cuối cùng trong chuỗi đập Lancang của Trung Hoa – thỉnh thoảng làm giảm dòng chảy trong sông và những dao động bất thường.  Việc giảm dòng chảy được Trung Hoa cho là cần thiết để bảo trì dự án.  Thí dụ, MRC báo cáo rằng mực nước trong sông tụt giảm đến 1 m ở Thái Lan và Lào từ ngày 27 tháng 12 năm 2019 đến 4 tháng 1 năm 2020 (MRC, 2020e).  Như đồng ý trong Biên bản Ghi nhớ, Trung Hoa đã gởi thông báo qua MRC vào ngày 31 tháng 12, nói rằng dòng chảy sẽ giảm 50% ảnh hưởng đến mực nước sông ở Thái Lan, Lào PDR và Cambodia (MRC, 2019b).  Tuy nhiên, hiện nay, việc quảng bá tin tức giữa các cộng đồng ven sông để chuẩn bị vẫn là một thách thức.

Việc tranh luận công khai về dòng chảy thấp trong sông Mekong tăng cường với việc công bố một phúc trình trong tháng 4 năm 2020 của hãng cố vấn nghiên cứu Eyes on Earth, sử dụng một mô hình dòng chảy tự nhiên (trước khi có đập) của sông Lancang rồi tiên đoán ảnh hưởng của các đập đối với hạ lưu ở đông bắc Thái Lan (Basist and Williams, 2020).  Vì không có đầy đủ dữ kiện nước về sông Lancang ở Trung Hoa được công bố, mô hình thống kê của phúc trình dùng dữ kiện vệ tinh để tính ‘độ ướt’ để ước tính số nước trong lưu vực, rồi liên kết nó với mực nước đo đạc hàng tháng ở trạm thủy học Chiang Saen ở đông bắc Thái Lan.  Điều nầy phản ánh khuynh hướng chung ngày càng tăng trong việc sử dụng dữ kiện vệ tinh ở nơi không có các thỏa thuận chia sẻ dữ kiện (Leb, 2019).  Nói chung, nghiên cứu cho thấy làm thế nào, từ khi các đập trong chuỗi đập Lancang bắt đầu hoạt động vào đầu thập niên 1990s, mực nước giảm trong mùa mưa, tăng trong mùa khô và dao động nhanh và bất thường hơn trong mùa mưa lẫn mùa khô.  Những thay đổi nầy đặc biệt thấy rõ kể từ năm 2012 khi hồ chứa của đập Nuozhadu (Nọa Trát Độ) có công suất 5.850 MW bắt đầu được làm đầy, vì hồ chứa nầy lớn hơn rất nhiều so với 4 hồ chứa trước đó gộp lại.  Mặc dù những kết luận nầy cũng được các nghiên cứu khoa học trước đây nói đến, chẳng hạn như nghiên cứu của Räsänen et al (2017), phúc trình của Eyes on Earth tạo được sự chú ý đáng kể của giới truyền thông khu vực và quốc tế (thí dụ, New York Times, 2020), vì nó được nhiều nhóm dân sự xã hội cũng như đại diện của chánh phủ Hoa Kỳ dùng để làm bằng chứng cho thấy Trung Hoa có trách nhiệm cho dòng chảy cực thấp trong năm 2019-2020 và đã “khóa vòi nước” hay “giữ lại” nước (Johnson and Wongcha-um, 2020).  Những tuyên bố nầy cũng đưa đến các phản ứng của các nhà ngoại giao Trung Hoa (thí dụ, Hu and Lin, 2020) và các nhà nghiên cứu (thí dụ, Tian, Liu and Lu, 2020).

Những tuyên bố đáng kể như tế đã đưa đến việc duyệt xét kỹ lưỡng phúc trình của MRC (2020d), AMPERES (Ketelsen et al., 2020b), và giới học thuật (Kallio and Fallon, 2020).  Mặc dù các thảo luận về nguyên nhân của dòng chảy thấp trong sông Lancang-Mekong được hoan nghênh rộng rãi, các duyệt xét nầy cho thấy một số hạn chế của phúc trình như: nó cho kết quả bằng mực nước, nhưng không thể cứu xét khối lượng nước; nó không cho thấy Trung Hoa có thể chứa tất cả nước trong mùa mưa, để có khả năng giữ lại toàn thể dòng chảy gây hạn hán ở hạ lưu; và rằng nó sẽ tốt hơn nếu được duyệt xét nhóm trước khi công bố.  Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ở AMPERES kết luận rằng việc trình bày phúc trình trong các tranh luận công khai thường đi ra ngoài các kết luận thực sự (Ketelsen et al., 2020a).

Trong tháng 7 năm 2020, một nhóm nghiên cứu của Trung tâm An ninh Sinh thái và Nước Xuyên Biên giới Quốc tế (Centre for International Transboundary Water and Eco-Security) của Đại học Tsinghua (Thanh Hoa) và Viện Nghiên cứu Thủy điện và Thủy lợi Trung Hoa (China Institute of Water Resources and Hydropower Research)  thêm vào việc tranh luận với một nghiên cứu kết luận rằng: Hạ lưu vực sông Mekong (Lower Mekong River Basin (LMRB)) đang trải qua một tần suất hạn hán cao, và tỉ lệ của hạn hán xảy ra trong mùa khô cao hơn nhiều so với mùa mưa; hạn hán năm 2019 là một trong những trận hạn hán nghiêm trọng nhất trong thế kỷ qua; và việc điều hành các hồ chức trong lưu vực sông Lancang-Mekong có thể đóng vai trò tích cực trong việc đối phó với hạn hán trong lưu vực.  Phúc trình đề nghị: các biện pháp công trình và phi công trình kết hợp để cứu hạn; điều hành hỗn hợp các hồ chứa trên dòng chánh và phụ lưu để ngừa lụt và cứu hạn; và nghiên cứu hỗn hợp về hệ thống tiên đoán lũ lụt và hạn hán toàn lưu vực.  Một nhận xét về phúc trình cho thấy nó cũng cần được làm sáng tỏ thêm và rằng kết luận của phúc trình về lợi ích của chuỗi đập ở Trung Hoa để giảm nhẹ ảnh hưởng của hạn hán ở hạ lưu có tiềm năng đánh lạc hướng (Kallio et al., 2020).

Dòng chảy thấp năm 2019 và 2020 xảy ra vào lúc có địa chánh trị căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa ở ĐNA và trên toàn cầu (Kishimoto, 2020), đưa đến việc thủy chánh trị hóa hạn hán.  Việc chánh trị hóa nghiên cứu đã xảy ra – nơi các giới hạn của nghiên cứu được hạ thấp và kết quả biến thành những cốt chuyện đơn giản – làm xói mòn sự tin cậy của bằng chứng khoa học đáng lẽ là cơ sở cho tiến trình cai quản nước xuyên biên giới và việc lấy quyết định.  Nói chung, các nghiên cứu kể trên về dòng chảy thấp trong sông Lancang-Mekong và ảnh hưởng của chuỗi đập Trung Hoa đối với các quốc gia ở hạ lưu được dựa trên dữ kiện nước không đầy đủ vì thiếu việc tiếp cận với dự kiện hiện có vào lúc đó.  Việc loan báo chia sẻ dữ kiện nước quanh năm giữa Trung Hoa và MRC trong tháng 10 năm 2020, và việc công bố được tiên liệu của một nghiên cứu hỗn hợp LMC-MRC về hạn hán 2019 và dòng chảy thấp trong sông Mekong là những bước quan trọng để tiến đến việc giải quyết trong số dữ kiện bấp bênh và gia tăng tính minh bạch và hợp tác liên cơ quan.

Tuy nhiên, về việc chia sẻ dữ kiện nước liên chánh phủ, còn nhiều việc cần phải làm.  Để làm cho tình trạng của sông ở Trung Hoa minh bạch hơn, con số trạm thủy học có thể được nới rộng để bao gồm tất cả 11 đập thủy điện nay đang hoạt động và để bao gồm dữ kiện mực nước và dòng chảy ở phía trên và phía dưới của mỗi đập cũng như thời biểu điều hành của mỗi đập [Lời người dịch: Không cần thiết.  Chỉ cần dữ kiện ở đập cuối cùng của chuỗi đập là đủ.]  Nó cũng bao gồm dữ kiện nước trên các phụ lưu, đã được thu thập một cách rộng rãi, trong khi chia sẻ dữ kiện lịch sử có thể giúp thiết lập các điều kiện trước đây trong lưu vực.  Cũng có những khoảng trống của dữ kiện cần được lấp đầy ở hạ lưu vực, gồm có việc đều hành các dự án trên phụ lưu có ảnh hưởng đến tình trạng lũ lụt và hạn hán ở địa phương hay cộng dồn trong lưu vực.  Ngoài ra, dữ kiện về ảnh hưởng của các biện pháp giảm nhẹ ở đập Xayaburi vừa hoàn tất trên dòng chánh Mekong ở thượng Lào vẫn chưa được công khai, mặc dù như đã nói ở trên, MRC đã phát động dự án JEM [Joint Environment Monitoring for Mekong Mainstream Hydropower Projects (Theo dõi Môi trưởng Hỗn hợp cho các Dự án Thủy điện trên Dòng chánh Mekong)] từ tháng 2 năm 2020 để nghiên cứu những ảnh hưởng nầy.

Tài liệu tham khảo

BASIST, A. & WILLIAMS, C. 2020. Monitoring rhe Quantity of Water Flowing Through the Mekong Basin Through Natural (Unimpeded) Confitions. Bangkok: Sustainable Infrastructure Partnership.

HU, Y. & LIN, X. 2020. US-backed institutions' hyping China's 'dams threat' in Mekong River riddled with loopholes: expert. Global TImes, 11 September.

JOHNSON, K. & WONGCHA-UM, P. 2020. Water wars: Mekong River another front in U.S.- China rivalry. Reuters, 24 July.

KALLIO, M. & FALLON, A. 2020. Are China’s dams on the Mekong causing downstream drought? The importance of scientific debate [Online]. Available: https://www.csds[1]chula.org/publications/2020/4/28/critical-nature-are-chinas-dams-on-the-mekong[1]causing-downstream-drought-the-importance-of-scientific-debate [Access].

KALLIO, M., RASAENEN, T. & KETELSEN, T. 2020. Drought Characteristics of Lancang-Mekong River Basin and the Impacts of Reservoir Regulation on Streamflow: Comment in response to journalistic enquiry.

KETELSEN, T., RÄSÄNEN, T. & SAWDON, J. 2020a. Did China turn off the Lower Mekong? Why data matters for cooperation. Southeast Asia Globe.com.

KETELSEN, T., SAWDON, J. & RASAENEN, T. 2020b. Monitoring the Quantity of water flowing through the Upper Mekong Basin under natural (unimpeded) conditions: Rapid Review. Australia-Mekong Partnership for Environmental Resources & Energy systems (AMPERES).

KISHIMOTO, M. 2020. US and China lock horns over Mekong River data management. Nikkei Asian Review, 10 September.

LEB, C. 2019. Data Innovations for Transboundary Freshwater Resources Management: Are Obligations Related to Information Exchange Still Needed? International Water Law, 4, 3-78.

MIDDLETON, C. & DEVLAEMINCK, D. J. 2020. Reciprocity in practice: the hydropolitics of equitable and reasonable utilization in the Lancang-Mekong basin. International Environmental Agreements: Politics, Law and Economics.

MRC 2019b. Mekong water levels to drop due to dam equipment testing in China. Vientiane: Mekong River Commission.

MRC 2020d. Understanding the Mekong River’s hydrological conditions: A brief commentary note on the “Monitoring the Quantity of Water Flowing Through the Upper Mekong Basin Under Natural (Unimpeded) Conditions” study by Alan Basist and Claude Williams (2020). Vientiane: MRC Secretariat.

MRC 2020e. Weekly Dry Season Situation Report for the Mekong River Basin Prepared on: 07/01/2020, covering the week from 31 Dec 2019 to 5 Jan 2020. Vientiane: Mekong River Commission,.

NEW YORK TIMES. 2020. China Limited the Mekong's Flow. Other Countries Suffered a Drought. New York Times, 13 April.

RÄSÄNEN, T. A., SOMETH, P., LAURI, H., KOPONEN, J., SARKKULA, J. & KUMMU, M. 2017. Observed river discharge changes due to hydropower operations in the Upper Mekong Basin. Journal of Hydrology, 545, 28-41.

TIAN, F., LIU, H., HOU, S., LI, K., LU, H., NI, G. & MU, X. 2020a. Drought Characteristics of Lancang[1]Mekong River Basin and the Impacts of Reservoir Regulation on Streamflow. Beijing: Centre for International Transboundary Water and Eco-Security, Tsinghua University, Department of Hydraulics, China Institute of Water Resources and Hydropower Research.

TIAN, F., LIU, H. & LU, H. 2020b. Trust key to Lancang-Mekong cooperation. ChinaDaily, 25 August.

.

Sunday, September 5, 2021

ĐẬP CỦA TRUNG HOA CHE KHUẤT MỐI BANG GIAO SÔNG MEKONG

 
(Chinese dams cloud Mekong River relations)

Montree Chantawong – Bình Yên Đông lược dịch

Bangkok Post – 23 August 2021

 

Vùng bờ sông khô cạn của sông Mekong ở huyện Pak Chom trong tỉnh Loei ở đông bắc.   

Trung Hoa bị áp lực hồi tháng 6 năm ngoái để chia sẻ dữ kiện mực nước quanh năm. [Ảnh: AFP]

 

Tân Đại sứ Trung Hoa tại Thái Lan Han Zhiqiang so sánh mối bang giao giữa 2 quốc gia và nỗ lực chung để chống đại dịch Covid-19 như là “một gia đình”.

Đại sứ nhấn mạnh ông không phóng đại và nói cảm nhận của ông là tiếng dội của cái đang xảy ra.  Ông nói người Thái Lan và Trung Hoa có mối quan hệ tốt, trích dẫn một câu nói tăng cường sự thân thiết giữa 2 quốc gia: “Người Trung Hoa và Thái Lan không xa lạ; cả 2 đều là con cháu từ tình anh em.”

Tuy thế, những ràng buộc song phương và 46 năm liên lạc ngoại giao không chỉ được thử nghiệm bởi trợ giúp trong đại dịch Covid-19 và quan hệ ngoại giao.  Trong những năm sắp đến, quản lý nguồn nước trong sông Mekong sẽ là bằng chứng của mối quan hệ của 2 quốc gia.

Trung Hoa đã phát triển một loạt đập thủy điện trên sông Lancang, là thượng lưu của sông Mekong trong lãnh thổ Trung Hoa.  Con sông xuyên quốc gia hùng vĩ từng chảy tự do, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng và chảy qua miền nam Việt Nam, nay đã đứt đoạn, bị cắt thành nhiều khúc, bởi chuỗi đập thủy điện, 11 ở Trung Hoa và một vài đập đã được xây ở Lào.

Việc chặt Mekong của “anh cả” nêu lên nhiều câu hỏi giữa các nhà phê bình trong các quốc gia ở hạ lưu và cộng đồng quốc tế.  Dân làng dọc theo sông Mekong như người dân trong tỉnh Chiang Rai đã than van vì sự thay đổi thình lình trong dòng chảy của sông Mekong – điều ảnh hưởng đến việc đánh cá và canh tác, không nói đến lũ lụt tàn phá cộng đồng.

Những thay đổi lớn lao và không thể đoán trước trong dòng chảy và khối lượng đã được quan sát từ năm 1993 khi đập đầu tiên của loạt đập, Manwan (Mạn Loan), bắt đầu hoạt động.  Tổng số nước được trữ trong các đập nầy không dưới 41.700 triệu m3, vì thế một khối lượng nước khổng lồ đã bị lấy đi từ sinh thái của sông.

Thay đổi nghiêm trọng được quan sát từ năm 2007 ít nhất trong 2 khía cạnh: sự dao động quanh năm của mực nước trong Mekong và sự lên xuống trái mùa của dòng chảy Mekong, tàn phá vĩnh viễn chu kỳ tự nhiên.

Dao động của mực nước trong Mekong rõ ràng phát xuất trong suốt mùa đông và mùa khô.  Thí dụ, từ ngày 13 đến 17 tháng 12 năm 2013, khi đập Jinghong (Cảnh Hồng) – một đập khác của Trung Hoa – xả nước thình lình.  Mực nước trong Mekong tăng lên 3 m một cách đột ngột ở huyện Chiang Saen trong tỉnh Chiang Rai.

Và từ 2014 đến 2019, đâp Jinghong đã làm dao động sự thay đổi theo mùa của Mekong bằng cách xả những khối lượng nước lớn với vận tốc khác nhau trong suốt 3 tháng đầu của năm.  Và từ năm 2018 đến 2021, đập Jinghong giảm lượng nước xả để “bảo trì và phục vụ việc sản xuất điện và hệ thống lưới điện”.

Sự thay đổi đặc tính thủy học của sông Mekong đã ảnh hưởng lớn lao đến sự di chuyển của cá vào các phụ lưu để sinh sản.  Sinh thái của sông khác thường và chỉ có một.

Mực nước trong dòng chánh tương đối thấp hơn các phụ lưu.  Với một sự sụt giảm và thay đổi nhỏ của dòng chảy trong dòng chánh, cá không thể bơi đến các nơi sinh sản trong các phụ lưu – làm giảm năng suất của thủy sản.  Cá là một nguồn lợi tức, và về sức khỏe, là nguồn chất đạm cho 60 triệu người ở hạ lưu.

Đe dọa hiện hữu không chỉ giới hạn ở dòng chảy.  Màu của sông Mekong đã biến từ đục ngầu sang trong xanh sau khi phù sa từ thượng lưu bị giữ lại trong các hồ chứa.

Chánh phủ Thái đã vật lộn với khủng hoảng hiện nay của sinh thái sông.  Thật vậy, Don Pramudwinai, Ngoại trưởng, đã có chuyến viếng thăm trong tháng 1 năm 2020 để gặp Ngoại trưởng Wang Yi của Trung Hoa để tham khảo với ông về hạn hán ở hạ lưu Mekong.

Trung Hoa đồng ý gia tăng lưu lượng lên 150 m3/sec từ ngày 24 tháng 1.  Nhưng trên thực tế, nhà điều hành đập Trung Hoa đã cắt 150 m3/sec trước thời hạn đã hứa.

Trung Hoa đã dùng dữ kiện và con số để nói rằng lưu lượng từ lãnh thổ Trung Hoa chảy xuống hạ lưu Mekong chỉ chiếm không đầy 13% tổng số lưu lượng của sông, và còn nói rằng lượng nước xả từ các đập của Trung Hoa giúp làm giảm hạn hán và lũ lụt ở hạ lưu.

Vì thế tân đại sứ Trung Hoa tại Thái Lan sẽ có thách thức để chứng minh rằng tình hữu nghị của 2 quốc gia vẫn vững mạnh.  Ông không thể chỉ nhờ vào ngôn từ ngoại giao.  Dĩ nhiên, được gọi là “em út” và “một gia đình”, sẽ làm cho trái tim của người Thái nóng bừng.  Nhưng bằng chứng của tình anh em sẽ được thấy trong sông chảy không bị ngăn trở.

.