Wednesday, August 21, 2019

KHU VỰC MEKONG CẦN CÙNG NHAU VƯỢT QUA HẠN HÁN - Dr. Liu Hui – Bình Yên Đông lược dịch


(Mekong Region Needs to Overcome Drought Together)

Dr. Liu Hui – Bình Yên Đông lược dịch
Khaosod English – August 8, 2019


Hạn hán ở Loei, Thái Lan ngày 16 tháng 7 năm 2019.

Thái Lan và các quốc gia khác trong khu vực Mekong càng ngày càng chịu nhiều thiệt hại do hạn hán khốc liệt trong 5 thập niên qua.  Các quốc gia nầy không những cần một kế hoạch dài hạn để đối phó với khủng hoảng đang xảy ra mà còn cần một sự hợp tác trong toàn khu vực.

Hạn hán, tiếp theo sau lũ lụt và bão tố, là những thiên tai gây nhiều ảnh hưởng nhất trên thế giới.  Theo một công bố trên website của Dữ kiện Tai họa Quốc tế (International Disaster Database) năm 2018, 16% dân số ảnh hưởng bởi tai họa trong năm 2018 là do hạn hán.

Trong vài thập niên qua, các quốc gia dọc theo sông Lancang-Mekong đã gánh chịu nhiều trận hạn hán có mức độ khác nhau, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông nghiệp, ngư nghiệp, sản xuất và đời sống. [Lancang là tên gọi sông Mekong ở Trung Hoa]
Khu vực Lancang-Mekong đang đối mặt với nhiệt độ gia tăng như các nơi khác trên thế giới.  Nhiệt độ trên mặt đất từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2019 ấm hàng thứ 3 trong 170 năm.  Theo tin tức được WMO [World Meteorological Organization (Tổ chức Khí tượng Thế giới)] phổ biến, Trái đất vừa có tháng 6 ấm nhất trong lịch sử. [Lời người dịch: Tháng 6 năm 2019 không phải là tháng ấm nhất trong lịch sử.]

Mức sai biệt với nhiệt độ trung bình khoảng 1 oC trong khu vực Lancang-Mekong trong năm 2019.

Khi nhiệt độ ấm áp đi kèm với hiện tượng El Niño mạnh hay gió mùa Tây Nam yếu, hạn hán khốc liệt sẽ kéo dài trong khu vực, giống như trận hạn hán bất thường trên toàn lưu vực trong năm 2016 và có thể kéo dài hơn trong năm nay.

Thời kỳ Ấm áp

Theo dữ kiện thời tiết, lượng mưa trong lưu vực Lancang-Mekong từ tháng 1 đến giữa tháng 7 năm 2019 thấp hơn mức trung bình khoảng 42%.

Lượng mưa thấp trong đầu mùa mưa năm nay cũng được Văn phòng Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission Secretariat (MRCS)) loan báo trong các phúc trình hàng tuần từ tháng 6.

Theo chỉ số hạn hán (SPEI [Standardized Pricipitaion Evapotranspiration Index]) từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2019, hạn hán xảy ra trên toàn khu vực Lancang-Mekong.

Đối với lưu vực Lancang, hạn hán trở nên nghiêm trọng hơn từ tháng 3 và đạt cao điểm trong tháng 5.  Đối với trung lưu vực Mekong (Thái Lan, một phần của Lào và Cambodia), mức độ nghiêm trọng của hạn hán ở mức vừa phải cho đến nghiêm trọng từ đầu năm.  Đối với vùng đồng bằng Mekong, hạn hán xảy ra trong tháng 2, tháng 4 và chấm dứt trong tháng 5.

Các hồ chứa trên sông Lancang trữ một phần nước trong mùa mưa 2018, và xả nước bổ sung trở lại sông Mekong từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2019, và mực nước trong các hồ chứa hạ dần xuống mực nước chết vào đầu tháng 7.

Dự trù cho việc hết nước “bổ sung,” hồ Cảnh Hồng quyết định tiến hành việc bảo trì định kỳ từ ngày 5 đến 19 tháng 7 để duy trì lượng nước xả hợp lý.

Một thông báo về việc bảo trì được Bộ Thủy Lợi Trung Hoa gởi đến các quốc gia Mekong và MRCS vào ngày 3 tháng 7.  Và MRCS đã kịp thời công bố trên website vào ngày 3 tháng 7, với tựa đề Lưu lượng từ trạm Cảnh Hồng, Trung Hoa giao động, nhưng được dự đoán là không có ảnh hưởng quan trọng.

Mới đây, tin tức về hạn hán trong năm nay đã gia tăng và càng ngày càng thu hút sự chú ý từ nông dân cho đến các viên chức chánh phủ cao cấp.

Theo tờ Cambodia Daily ngày 20 tháng 7, 2019, hạn hán kéo dài ở Cambodia khiến cho các phụ lưu của hồ Tonle Sap cạn nước, gây thiệt hại cho nông và ngư dân trong tỉnh Battambang.  Dân làng ở đây không thể đánh cá từ tháng 4 do hạn hán.  Họ không còn thức ăn và cầu cứu với chánh phủ để được cứu trợ khẩn cấp.

Tình trạng hạn hán ở Thái Lan nghiêm trọng đến mức chánh phủ phải yêu cầu Trung Hoa, Lào và Myanmar xả thêm nước để giảm bớt tình trạng hạn hán ở Thái Lan như Thủ tướng Prayut Chan Chan-o-cha cho biết hôm 24 tháng 7 năm 2019.

Dựa trên các quan sát và nghiên cứu lâu dài về hạn hán trong vùng Lancang-Mekong, tôi muốn mượn cơ hội nầy để chia sẻ những điều tôi nhận thấy và đề nghị đến những người có liên hệ và những người có quyền quyết định, với mục đích cải thiện khả năng cứu trợ hạn hán hỗn hợp để làm cho khu vực Lancang-Mekong an toàn hơn.

Những điều nhận thấy

(1) Kết quả phân tích hạn hán dựa trên thời tiết cho thấy hạn hán nghiêm trọng ở đông bắc Thái Lan, hầu hết Cambodia và Lào và gia tăng trong nửa thế kỷ qua, đặc biệt trong vài vùng ở đông bắc Thái Lan.

Trong hầu hết lưu vực, chu kỳ hạn hán do thời tiết khoảng 25% do ít mưa, đặc biệt ở đông bắc Thái Lan và Cambodia; và Cambodia và đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam có nhiều khả năng bị hạn hán nghiêm trọng và bất thường.

Việc phân tích nguyên nhân của những trận hạn hán tiêu biểu cho thấy rằng nguyên nhân chính của hạn hán trong lưu vực Mekong là do lượng mưa thấp bất thường (so với lượng mưa trong cùng thời kỳ trong lịch sử) do hiện tượng El Nino và sự luân chuyển bất thường của hệ thống đại dương-khí quyển.

(2) Vì sự khác biệt giữa khả năng hỗ trợ kinh tế quốc gia và sự phát triển các dự án bảo tồn nước, khả năng đối phó với hạn hán của các quốc gia khác nhau.

Trong đó, sự phân phối của diện tích được dẫn tưới thì không đồng đều ở Cambodia và khả năng đối phó với hạn hán khác nhau của các vùng khác nhau.  Số dự án thủy nông và diện tích dẫn tưới ở Lào tương đối nhỏ và khả năng đối phó với hạn hán hơi yếu.

Việt Nam và Thái Lan đã xây được nhiều dự án thủy nông và hệ thống dẫn thủy có mật độ và qui mô tương đối cao, có thể bảo đảm về mặt kỹ thuật cho việc chống hạn.

Đề nghị

(1) Khai thác tiềm năng và tăng cường khả năng của các quốc gia trong việc đối phó với thiên tai.

Các quốc gia Mekong đã thiết lập các tổ chức ngăn ngừa và giảm nhẹ thiên tai để đối phó với hạn hán.

Mặc dù có sự liên hệ chặt chẽ giữa khả năng cứu trợ hạn hán và mức độ phát triển kinh tế xã hội, sự nhất trí trong toàn lưu vực trong việc cải thiện các biện pháp cứu trợ hạn hán cũng rất quan trọng.

Dựa trên quan điểm kỹ thuật, các quốc gia như Thái Lan và Việt Nam đã có những biện pháp thích hợp để đối phó với hạn hán, nhưng vẫn cần tăng cường xây dựng thêm kỹ thuật cứu trợ hạn hán để đối phó với hạn hán nghiêm trọng.

(2) Thiết lập các kế hoạch tổng thể và phối hợp để tăng cường khả năng giảm nhẹ thiên tai cho toàn lưu vực.

Mặc dù các hồ chứa trên sông Lancang đã đóng vai trò “bổ sung” bằng cách sử dụng khả năng trữ nước và điều tiết và xả xuống hạ lưu Mekong khoảng 140% lưu lượng tự nhiên từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2019, mực nước tại các trạm thủy học ở hạ lưu Mekong vẫn thấp.

Đó là vì lượng nước của sông Lancang chỉ chiếm khoảng 20% trong mùa khô và 11% trong mùa mưa của toàn lưu vực Lancang-Mekong.  Khi hạn hán xảy ra trên toàn lưu vực, các biện pháp khác cho toàn lưu vực cần được  cứu xét.

Các phụ lưu dọc theo sông Mekong nên đóng một vai trò quan trọng hơn trong việc điều tiết và trữ nước.  Những hồ chứa được xây trong lưu vực Mekong có dung tích hơn 20 tỉ m3.

Vai trò tích cực của các hồ chứa trong việc cứu trợ hạn hán ở tất cả các quốc gia và toàn lưu vực cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, và ảnh hưởng của các dự án cứu trợ hạn hán đối với tai họa về nước ở hạ lưu cần phải được phân tích sâu rộng để đặt nền móng cho sự phối hợp trong toàn lưu vực.

(3) Tận dụng các cơ chế hợp tác khu vực để khuyến khích hợp tác toàn lưu vực.

Trong số các cơ chế hợp tác trong khu vực Lancang-Mekong (MRC [Mekong River Commission (Ủy hội Sông Mekong)], GMS [Greater Mekong Subregion (Đại phân vùng Mekong)], Chương trình Tứ giác Vàng…), Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)) được thành lập bởi tất cả 6 quốc gia duyên hà vào năm 2016, tạo một diễn đàn mới cho sự đối thoại và hợp tác trong toàn lưu vực.

Tài nguyên nước là 1 trong 5 lãnh vực ưu tiên của LMC.  Các Nhóm Công tác Hỗn hợp về tài nguyên nước của LMC gồm có các cơ quan tương ứng của 6 quốc gia LMC và Trung tâm Hợp tác Tài nguyên Nước Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Water Resources Cooperation Center) được thành lập ở Bắc Kinh, đánh dấu việc thành lập cơ chế Tài nguyên Nước Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Water Resources) vào năm 2017.

Những đề tài hợp tác dưới đây đươc đề nghị để thực hiện qua cơ chế Tài nguyên Nước Lancang-Mekong.

Chúng gồm có tăng cường việc chia sẻ tin tức và tham khảo ý kiến qua các Nhóm Công tác Hỗn hợp về tài nguyên nước của LMC; nghiên cứu về ảnh hưởng của thay đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng trong lưu vực Lancang-Mekong; và nghiên cứu về việc vận hành hỗn hợp các hồ chứa trong toàn lưu vực để tận dụng khả năng điều tiết trong việc đối phó với thiên tai.

Sơ lược về tác giả

Dr. Liu Hui thuộc Viện Nghiên cứu Tài nguyên Nước và Thủy điện của Trung Hoa.  Trưởng dự án “Đánh giá Hỗn hợp Công tác Phòng ngừa Lũ lụt và Cứu trợ Hạn hán trong Lưu vực Mekong (Giai đoạn I),” được thực hiện bởi chuyên viên của 6 quốc gia qua cơ chế LMC vào năm 2018.

Bà cũng là một trong những chuyên viên của nghiên cứu hỗn hợp “Ảnh hưởng Thủy học của Chuỗi Thủy điện Lancang đối với các Hiện tượng Cực đoan ở Hạ lưu” với sự hợp tác của MRC và IWMI.


Dr. Liu Hui – Bình Yên Đông lược dịch
Khaosod English

Nghề cá sông Mekong trước nguy cơ 'tuyệt chủng'


20/08/2019

Đã đến lúc một giải pháp khẩn cấp để bảo tồn nguồn lợi thủy sản trên sông Mekong trong bối cảnh khủng hoảng nước hiện nay.
Đó là quan điểm của Tổng cục trưởng Thủy sản Thái Lan Adisorn Prothep vừa đưa ra tại diễn đàn Tương lai nghề cá sông Mekong.
Tại hội nghị, các chuyên gia ngành thủy sản đã đưa ra một số giải pháp nhằm giảm các tác động tiêu cực của hoạt động xây dựng các đập thủy điện ở phía thượng nguồn sông Mekong đối với ngư dân ở phía hạ nguồn.

Nguồn cá tôm tự nhiên ngày càng ít đi

Ông Adisorn Promthep cho biết, các biện pháp sẽ đòi hỏi sự phối hợp ngoại giao sâu hơn nữa của chính phủ Thái Lan với Lào, nơi đã và đang tiến hành xây dựng khá nhiều đập giữ nước, đồng thời lên kế hoạch bảo tồn những nguồn tài nguyên còn sót lại.
"Chúng ta cần bàn hiện nay chính là nhu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học nói chung cũng như các giống loài thủy sản nói riêng và bảo tồn tài nguyên nước ngọt của dòng Mekong với Lào để giảm bớt các tác động xấu. Lý do vì sao thì chúng ta đã đều tận mắt chứng kiến những hệ lụy trong thời gian qua như thế nào rồi", ông Adisorn nói với báo chí.

Cha con ngư dân trên chiếc thuyền đánh cá ở Biển Hồ (Campuchia)

Tuy nhiên, vướng mắc hiện nay theo lãnh đạo ngành thủy sản Thái Lan là “chúng ta không thể làm được điều đó một mình”. Và đây là lý do tại sao chúng tôi cần Ủy hội sông Mekong (MRC) vào cuộc giải quyết vấn đề liên quan đến nhiều quốc gia này.
MRC hiện là tổ chức liên chính phủ duy nhất có quy chế hoạt động, làm việc trực tiếp với chính phủ các nước trong lưu vực sông Mekong nhằm quản lý bền vững nguồn tài nguyên nước.

Ít nhất khoảng 60 triệu ngư dân các quốc gia vùng hạ lưu bị tác động sinh kế

Về phía Thái Lan, thời gian vừa qua nước này cũng đã triển khai chương trình mang tên “Giám sát thủy sản”, như một cơ chế cảnh báo sớm cho ngư dân ở phía hạ lưu. Theo đó, hệ thống này sẽ cảnh báo cho ngư dân về bất kỳ sự thay đổi nào về dòng chảy trên sông, khởi nguồn từ hoạt động của các nhà máy thủy điện ở Trung Quốc và Lào gây ra.  
Ngoài ra theo ông Adisorn, chương trình cũng sẽ tiến đến xây dựng một "khu bảo tồn cá" trên dòng Mekong cũng như các nhánh nhỏ nhằm duy trì nguồn cá không bị hủy diệt. Hơn nữa, cơ quan này cũng lên kế hoạch xây dựng một số hành lang cho các loài thủy sinh trú ngụ để cho các loài cá tôm di cư có thể tìm đường ngược dòng sinh sản.

Tổng cục Thủy sản Thái Lan cũng đang lên chiến dịch phóng sinh nguồn cá giống, bao gồm các loài đặc hữu của sông Mekong như cá tra dầu khổng lồ. Ông Adisorn nhấn mạnh rằng: “Tất cả các loài cá tôm được tái tạo phải có nguồn gốc trong vùng. Phóng sinh đàn giống vào tự nhiên không phải là cách tốt nhất để bảo tồn một loài vì tỷ lệ sống tương đối thấp. Do đó, cách tốt nhất để bảo vệ chúng chính là bảo tồn được môi trường sống tự nhiên của chúng".

Khi được hỏi về số lượng ngư dân bị ảnh hưởng đời sống do mực nước sông Mekong trong mùa mưa lũ năm nay đã giảm xuống mức thấp kỷ lục, ông Adisorn cho biết, các dữ liệu hiện vẫn đang tiếp tục được thu thập để có đánh giá một cách tương đối sát về vấn đề này.
Tuy nhiên, ước tính đã có khoảng 60 triệu ngư dân có nguồn sống phụ thuộc vào lưu vực sông Mekong, sản lượng đánh bắt chiếm khoảng 25% tổng lượng cá nước ngọt của thế giới.

KIM LONG (BKP; AFP)

Nước sông Mekong dâng lên 60-70cm/ngày ở Thái Lan


18/08/2019

TTO - Mực nước trên sông Mekong ở Thái Lan, cụ thể là ở tỉnh biên giới giáp tỉnh Khammouan của Lào ở vùng đông bắc, đang dâng lên ổn định khoảng 60-70cm/ngày.

Một số huyện ở tỉnh biên giới Nakhon Phanom của Thái Lan cảnh báo lũ trên sông Mekong do nước đang dâng 60-70cm mỗi ngày với tốc độ ổn định - Ảnh: Bangkok Post


Theo Bangkok Post ngày 18-8, mực nước sông ở Nakhon Phanom đã dâng lên tổng cộng khoảng 7m trong những ngày qua. Còn 6m nữa là sẽ đến điểm tràn bờ gây ngập lụt.

Dự báo tình hình nước lũ 6 ngày từ 18 - 23-8 tại 23 trạm quan trắc thủy văn của Ủy hội sông Mekong từ Cảnh Hồng (Trung Quốc) đến Tân Châu (Việt Nam) cho thấy ngày 18-8, nước sông Mekong dâng lên ở nhiều trạm từ Trung Quốc đến tỉnh Kompong Cham, Campuchia. 

Riêng tại thủ đô Vientiane (Lào) và toàn bộ các trạm từ PhomPenh (Campuchia) xuống đến Việt Nam, mực nước vẫn giảm. Tuy nhiên, sang đến ngày 21-8, mực nước ở Tân Châu sẽ tăng lên, và ngày 22-8, mực nước tại hai trạm Tân Châu và Châu Đốc đều tăng lên.
Cũng theo báo Bangkok Post, mực nước trên các phụ lưu chính của sông Mekong là Songkhram, Oun và Nam Kam cũng dâng lên nhờ mưa, giải tỏa được nỗi lo thiếu nước sau một thời gian dài không có mưa.
Nông dân là những người mừng vui nhất. Nước sông dâng lên đã cứu họ khỏi nguy cơ mất mùa, cứu những cánh đồng lúa khỏi bị khô hạn.

Nhà chức trách tỉnh Nakhon Phanom ra phát thông báo cảnh báo người dân bốn huyện ven sông Mekong là Muang, Ban Phaeng, Tha Uthen và That Phanom cảnh giác vì tình hình nước sông dâng lên hiện nay có thể gây lở bờ sông, đe dọa nhà cửa và các công trình ven sông, đặc biệt là những khu vực không có kè bảo vệ.
Tỉnh cũng chỉ đạo đẩy nhanh việc sửa chữa làn đường dành riêng cho xe đạp ven sông Mekong bị lở trong thời gian hạn hán.
Do mưa xuất hiện, các máy bơm đã được triển khai ở nhiều vùng để tháo nước ra sông Mekong nhằm ngăn chặn tình trạng ngập úng ở các khu dân cư, kinh doanh và sản xuất nông nghiệp.

HỒNG VÂN


Sunday, August 18, 2019

MRC - August 18, 2019









Mực nước lũ lớn nhất tại Tân Châu năm 2019 nhiều khả năng từ 3,0-3,5m


18/08/2019

Đó là dự báo của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam trong bản tin Dự báo lũ cuối nguồn và nhận định nguồn nước xâm nhập mặn mùa khô vùng ĐBSCL 2019-2020.

Ảnh có tính chất minh họa
Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, duy trì trạng thái El Nino yếu từ nay đến khoảng tháng 11/2019 với xác suất khoảng 50-55%, nhiệt độ trung bình ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn từ 0,5- 1,0 độ C so với trung bình nhiều năm (TBNN) cùng thời kỳ.
Khu vực Nam Bộ, tổng lượng mưa tháng 8-9 cao hơn TBNN cùng thời kỳ từ 10-30%; từ tháng 11 và tháng 12/2019 thấp hơn TBNN cùng thời kỳ từ 10- 25%; riêng tháng 10 xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ.
Về chế độ thủy văn, từ cuối tháng 7- 10/2019, tổng lượng dòng chảy trên các trạm thượng nguồn Mekong ở mức thấp hơn so với TBNN từ 20-30%.

Đỉnh lũ năm ở đầu nguồn sông Cửu Long ở mức BĐ1-BĐ2, thấp hơn đỉnh lũ TBNN từ 0,2-0,4m. Thời gian xuất hiện đỉnh lũ khả năng vào cuối tháng 9 đầu tháng 10.
Tuy ít có khả năng xuất hiện lũ lớn, nhưng tiềm ẩn nguy cơ cường suất lũ lên nhanh hơn bình thường do tác động điều tiết dòng chảy từ thượng lưu.

Cập nhật phân tích dự báo dòng chảy mùa lũ 2019 cùng với các tác động do điều tiết thủy điện trên lưu vực, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam dự báo mực nước lũ lớn nhất tại Tân Châu theo khả năng thấp là 3,0-3,5m (nhiều khả năng xảy ra); theo phương án lũ cao hơn, mực nước tại Tân Châu có thể đạt 3,3-3,7m (ít khả năng xảy ra hơn).
Năm 2019 được xem là năm lũ nhỏ, mưa ít trên toàn lưu vực vì vậy có nguy cơ hạn mặn cao ở mùa khô 2019-2020.

THANH SƠN


Monday, August 12, 2019

HOA KỲ CÓ THỂ TÔI LUYỆN MỘT SỰ HỢP TÁC MEKONG MẠNH HƠN?


(Can the US Forge a Stronger Mekong Partnership?)

Prashanth Parameswaran – Bình Yên Đông lược dịch
The Diplomat – August 6, 2019

Washington đang cố gắng bành trướng vai trò của Hoa Kỳ trong vấn đề Mekong 
với nhận thức rằng mục tiêu đó sẽ đòi hỏi nhiều nỗ lực đáng kể.


Tuần rồi, như mong đợi, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo đã đưa ra một loạt biện pháp để tăng cường sự liên hệ của Hoa Kỳ trong tiểu vùng Mekong – một vùng đất của lục địa Đông Nam Á (ĐNA) nơi mà sông Mekong, một trong những con sông lớn và dài nhất thế giới, chảy qua.  Trong khi những bước nầy tăng cường khái niệm rằng Washington đang toan tính bành trướng vai trò của mình trong vùng Mekong trong năm 2019, mục tiêu đó cũng sẽ đòi hỏi những đường xâm nhập quan trọng trong khi phải đối phó với những thách thức trước mắt của những người làm chánh sách ở Hoa Kỳ và thực tế của tiểu vùng.

Như tôi đã lưu ý, tầm quan trọng của Mekong đã được công nhận từ lâu trong chánh sách của Hoa Kỳ, kể cả sự quan trọng của dòng sông đối với các quốc gia; vai trò của nó như là một điểm kết nối hay xung đột giữa các quốc gia lục địa ĐNA và các cường quốc có giao kết ở đó, gồm có Hoa Kỳ; và, trong vài năm gần đây, ảnh hưởng đang lớn mạnh của Trung Hoa ở ĐNA.  Mekong là trọng tâm của chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương Tự do và Mở rộng (Free and Open Indo-Pacific (FOIP)) của chánh quyền Trump ngày nay: như tôi lập luận trước đây, nó là nơi mà những nguyên tắc tự do và mở rộng gặp nhiều thử thách lớn nhất, và nó cũng điển hình nhất cho sự liên kết giữa 3 trụ cột của FOIP là an ninh, kinh tế, và quản trị mà các viên chức Hoa Kỳ đã đề ra vì những thách thức đa dạng xuyên biên giới.

Tuần rồi, chánh sách Mekong của Hoa Kỳ lại chạy tít một lần nữa với lời tuyên bố của Pompeo tại hội nghị Bộ trưởng Sáng kiến Hạ lưu Mekong (Lower Mekong Initiative Ministerial), được tổ chức giữa vòng thương lương gần đây trong khu vực ở Bangkok.  Trong khi những hàng tít tập chú vào sự chỉ trích của Pompeo đối với hành động của Trung Hoa trong vùng Mekong, tầm quan trọng về chánh sách to lớn hơn ở chỗ ông nhấn mạnh đến một loạt các sáng kiến để củng cố quan hệ của Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm Sáng kiến Hạ lưu Mekong (Lower Mekong Initiative (LMI)) lần thứ 10 do chánh quyền Obama phát động.

Pompeo chú trọng đến vài sáng kiến mới đang tiến hành, kể cả sáng kiến Hoa Kỳ-Nhật Bản để phát triển các lưới điện trong vùng; một dự án với Nam Hàn dùng ảnh vệ tinh để đánh giá lũ lụt và hạn hán Mekong; và trợ giúp phối hợp với Quốc hội để đối phó với tội phạm và buôn lậu xuyên quốc gia.  Ông cũng báo trước các dự án phát triển nằm trong các sáng kiến mới, gồm có một buổi hội thảo Ấn Độ-Thái Bình Dương về tăng cường quản trị các nguồn nước xuyên biên giới, Diễn đàn Kinh doanh Ấn Độ-Thái Bình Dương lần thứ 2 tại Bangkok vào tháng 11, và, nhìn về tương lai 2020, tầm quan trọng của Việt Nam trong tiểu vùng khi nước nầy giữ chức chủ tịch ASEAN (Association of Southeast Asian Nations (Hiệp hội các Quốc gia ĐNA)).

Mặc dù những sáng kiến nầy chỉ là một phần công việc đang tiến hành của Hoa Kỳ và thiếu nhiều chi tiết, chúng rất quan trọng trong việc xây dựng một vai trò mạnh hơn cho Hoa Kỳ trong tiểu vùng Mekong.  Ngoài số tài trợ, giá trị thật sự là tiêu điểm và bản chất: chúng gắn liền với những vùng có ảnh hưởng thật sự đối với cuộc sống của người dân; chúng liên kết với cái mà đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ đang làm trong tiểu vùng Mekong và cái mà các quốc gia Mekong đặt ưu tiên; và chúng đi từng bước trong việc ràng buộc Mekong với chiến lược Châu Á của Hoa Kỳ nói chung, kể cả tầm nhìn FOIP.

Nhưng việc truy tìm sự hợp tác mạnh mẽ giữa Hoa Kỳ và Mekong cũng gặp nhiều thử thách.  Một là, nhiều dự án phát triển rộng lớn đã có dấu hiệu qua mặt các sáng kiến trong chánh sách của Hoa Kỳ, kể cả “chiều hướng lo ngại” mà Pompeo đề cập đến trong lời tuyên bố như việc xây đập và ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Hoa trong tiểu vùng Mekong, được xem như vượt ra ngoài lãnh vực kinh tế.  Mặt khác, những khó khăn kéo dài trong chánh sách kinh tế của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục trong việc xây dựng một sự hợp tác mạnh mẽ hơn giữa Hoa Kỳ và Mekong.  Lấy một thí dụ, mặc dù ấn định số tiền do chánh phủ Hoa Kỳ trợ giúp như Pompeo nói có thể là cách tốt nhất để cho thấy việc tài trợ đi liền với chiến lược, nó cũng khiến cho các quan sát viên có khuynh hướng so sánh việc trợ giúp của chánh phủ Hoa Kỳ với các quốc gia khác như Trung Hoa và Nhật Bản, cho dù có sự khác biệt trong chánh sách kinh tế của Hoa Kỳ.

Chắc chắn, những vấn đề nầy không phải không thể vượt qua, và những nỗ lực của Hoa Kỳ trong tương lai trên các mặt khác nhau của chánh sách Mekong, kể cả chiến lược, tuyên bố, và tài nguyên, có thể giúp đối phó với chúng từ từ.  Tuy thế, với qui mô của những thách thức đối với chánh sách của Hoa Kỳ trong vùng Mekong, cũng như những thực thể đang xảy ra trong khu vực, vẫn còn rất nhiều việc phải làm trong việc truy tìm một sự hợp tác mạnh mẽ giữa Hoa Kỳ và các quốc gia Mekong trong năm 2019 và về sau.


Prashanth Parameswaran – Bình Yên Đông lược dịch

Tô Văn Trường - Đồng bằng sông Cửu Long phải tự cứu mình


12/08/2019, 09:35 (GMT+7)

Mực nước sông Mekong năm nay rất thấp, khiến cho nhiều khả năng mùa khô 2020 ở ĐBSCL sẽ rất căng thẳng. Nguy cơ thiếu nước ở ĐBSCL có thể sẽ còn lớn hơn trong những năm tới. TS Tô Văn Trường, chuyên gia độc lập về tài nguyên nước và môi trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, đã trao đổi với NNVN về vấn đề này.
TS Tô Văn Trường


Những con đập gây rối

Năm nay, mực nước trên dòng Mekong rất thấp. Nhiều đoạn sông ở Lào, Thái Lan nước thấp đến mức lộ cả đáy. Thưa ông, đâu là nguyên nhân chính khiến cho mực nước sông Mekong năm nay thuộc vào những năm thấp nhất trong lịch sử?

Theo quy luật chung vào những năm El Nino (cực đoan khí hậu) toàn khu vực Đông Nam Á đều ít mưa hơn so với bình thường do “ổ đối lưu gây mưa bị dịch về phía Đông”. Năm nay, hạn hán diễn ra ở hầu khắp các nước Đông Nam Á do El Nino, mà ngay ở nước ta, đặc biệt là hạn ở miền Nam và miền Trung. 

Mùa khô năm 2019 tổng lượng mưa trên các trạm khác nhau trên lưu vực thiếu hụt so với trung bình nhiều năm khoảng 55%. Trong khi đó mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5, nhưng năm nay đến muộn, làm lượng mưa tháng 7 thiếu hụt lên tới 65%, đặc biệt khu vực thượng nguồn Mekong (bao gồm cả phía Trung Quốc), mưa giảm nhiều và chỉ đạt trung bình 20% so với nhiều năm.

Hệ thống đập thủy điện thượng nguồn sông Mekong trên đất Trung Quốc chỉ xả với lưu lượng rất hạn chế, chỉ bằng 1/3 - 1/2 của năm trước, với lý do bảo trì lưới tải điện. Đập thủy điện Xayabury ở Lào tích nước vận hành chạy thử tuốc bin. Các hồ thủy điện trên lưu vực đã có tích nước lên đến 55 tỷ m3. Các hồ đang và sẽ hoàn thành đến 2020 có thể đã tham gia tích nước giai đoạn này lên tới 20 tỷ m3. Trong khi đó, các nước như Thái Lan và Campuchia cũng sử dụng nhiều lượng nước để sản xuất cho nông nghiệp.

Tổ hợp các yếu tố do thiên tai và nhân tai nói trên làm cho mực nước sông Mekong năm nay thuộc loại rất thấp, nhưng nguyên nhân chính là do hiện tượng El Nino hạn hán bất thường trên toàn lưu vực và các nước thượng lưu tích nước trong các hồ chứa thủy điện.

Không chỉ tới năm nay mà việc xây dựng hàng loạt đập thủy điện ở thượng lưu đã gây nỗi lo ngại lớn đối với hạ lưu trong nhiều năm qua, nhất là khi Lào và Campuchia cũng đã, đang và có ý định xây những đập lớn trên con sông này. Mỗi một đập thủy điện được xây dựng lên trên sông Mekong, sẽ làm trầm trọng thêm những nguy cơ đối với dòng sông này về dòng chảy, về tài nguyên nước… Chúng ta cần phải làm gì trước thực trạng nói trên?

Khi xây dựng đập thủy điện có nghĩa là tác động vào thiên nhiên, là bài toán đánh đổi “được và mất” cả về kinh tế xã hội và môi trường. Theo tôi biết ở Thái Lan, người dân cũng kịch liệt phản đối việc con người tác động bằng biện pháp công trình lên sông Mekong kể cả dòng chính và sông nhánh. Họ lý luận rất đơn giản, theo tiếng Thái và tiếng Lào, Mê Nám có nghĩa là sông Mẹ.

Con sông Mekong nuôi sống hàng chục triệu người dân. Nếu con người tác động vào nó giống như đứa con làm tổn thương đến mẹ, và triệt đường sống của dân. Họ còn thu thập chữ ký gửi phản đối lên Thủ tướng Thái Lan và phê phán cả việc Trung Quốc xây các đập lớn ở thượng nguồn sông Mekong.

Những người ủng hộ xây dựng đập thủy điện thì lại cho rằng dân số ngày càng tăng, nhu cầu năng lượng ngày càng lớn, phải khai thác tiềm năng thủy điện phục vụ phát triển kinh tế xã hội sao cho cái lợi lớn nhất và thiệt hại ít nhất.

Các đập của Trung Quốc ảnh hưởng đến Việt Nam không nhiều vì khá xa Việt Nam, lại có Biển Hồ của Campuchia điều tiết tự nhiên cả mùa lũ và mùa kiệt. Đáng lo nhất là nếu các nước ở thượng lưu chuyển nước ra khỏi lưu vực Mekong sẽ tác động lớn đến nguồn nước sông Mekong như  thiếu nước, ảnh hưởng đến phù sa, thủy sản, giao thông thủy, dịch chuyển dòng chảy… Các đập thủy điện có kế hoạch xây dựng ở Lào và Campuchia sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ĐBSCL cả về số lượng và chất lượng nước, gây ra lệch mùa dòng chảy vốn có của tự nhiên. 
Người dân ĐBSCL buôn bán ở trên sông. Ảnh: CGIAR.


Chúng ta có diễn đàn và Hiệp định của Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) của 4 nước ở hạ lưu vực để thảo luận và đưa ra các quy chế khai thác sử dụng nguồn nước một cách công bằng. Nhưng vai trò của MRC cũng rất hạn chế.

Dù vậy, ta vẫn phải đấu tranh yêu cầu các nước ven sông cần thực thi nghiêm chỉnh hiệp định hợp tác hạ lưu vực sông Mekong đã ký kết 1995. Yêu cầu phía Lào cung cấp các thông tin theo đúng quy định của thủ tục thông báo, tham vấn và thỏa thuận của MRC (PNPCA).  

Tuy nhiên, cách tốt nhất, chủ động nhất vẫn phải là “tự cứu mình”. ĐBSCL ở hạ lưu với 13 tỉnh thành có diện tích gần 40 ngàn km2, là nơi sinh sống của gần 20 triệu người dân, là vựa lúa, an ninh lương thực, sản lượng thủy sản, trái cây cũng lớn nhất cả nước. Nông dân Nam Bộ có truyền thống vượt khó, năng động, sáng tạo có nhiều sáng kiến cải tiến trên mặt trận sản xuất. Tuy nhiên, do cơ sở hạ tầng yếu kém, rất cần sự quan tâm đầu tư đúng mức của nhà nước nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng. 

Trong tương lai, biến đổi khí hậu làm cho lượng mưa các tháng biến động nhiều hơn. Nếu Thái Lan chuyển nước sông Mekong ra ngoài lưu vực, phía Campuchia nếu xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước ở (Biển Hồ) Tonlesap và thủy điện Sambo, lại gặp đúng thời kỳ El Nino, thì tình hình nguồn nước ở ĐBSCL còn nguy cấp hơn nhiều. 

Bởi vậy, bài toán quy hoạch tổng thể sử dụng nguồn nước một cách khôn ngoan, và hiệu quả theo nguyên tắc quản lý lưu vực sông, đặc biệt dựa trên tinh  thần Nghị quyết 120 của Chính phủ về phát triển bền vững ở ĐBSCL, càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
  
Quản lý thiên tai khôn ngoan

Mưa ít ở thượng nguồn, xây dựng thủy điện trên sông Mekong… đều là những vấn đề nằm ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam hay Việt Nam không thể tự giải quyết được. Trong khi đó, những tác nhân trên đối với nguồn nước sông Mekong đang hiển hiện ngày một thường xuyên và rõ rệt hơn. Cần phải làm gì để ĐBSCL thích ứng được với tình trạng Mekong cạn nước, nguy cơ thiếu nước ngọt sẽ còn diễn ra trong nhiều năm tới? Các giải pháp trữ nước ngọt cho ĐBSCL đã được nêu ra như cải tạo Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên thành nơi trữ nước…, liệu có khả thi không?

Giải pháp trữ nước ngọt ở Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên hoàn toàn khả thi. Về kỹ thuật thì bao lửng cũng phải giải quyết cống bọng cho hoàn chỉnh như chống lũ triệt để, giảm thiểu tác hại khi cho nước vào theo kiểu tràn bờ. Còn đê bao khép kín vượt mức báo động 3, ngoài việc bảo vệ sản xuất là hạ tầng giao thông nông thôn đi lại cho văn minh hơn, thuận tiện hơn. Việc sản xuất mấy vụ là tùy hoàn cảnh mà quyết định.

Nâng cấp hệ thống đê bao khép kín ĐBSCL làm nhiệm vụ tổng hợp ngăn lũ và tích nước bảo vệ sản xuất cho nhiều mô hình có cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi... khác nhau, trong đó có mô hình 2 vụ lúa, 1 vụ nuôi trồng thủy sản tôm, cá kết hợp gieo trồng các loại cây thủy sinh thích hợp.
Riêng mô hình này, công năng của hệ thống đê bao khép kín là sau khi thu hoạch xong vụ lúa đông xuân và vụ lúa hè thu, nếu gặp năm lũ lớn thì mở cống đón lũ vào đồng cho đến khi đồng đầy nước thì đóng cống lại, gặp năm lũ nhỏ thì dùng máy bơm điện bơm nước lũ vào đồng ruộng để tích lũ phục vụ vụ nuôi tôm cá kết hợp trồng các loại cây như súng, ấu, sen, điên điển (chính là vụ 3 hay còn gọi là vụ thu đông)...

Cuối mùa lũ đầu mùa khô, tôm cá đã đủ lớn cùng các loài cây thủy sinh đã đúng kỳ cho thu hoạch thì xả nước lũ còn lại trong đồng ra sông, kênh, rạch từ từ để thu hoạch. Lượng nước xả này sẽ chảy về miệt dưới giúp ngọt hóa và giảm mặn trong mùa khô cho vùng duyên hải.
Cần xây dựng ngay tầm nhìn cho ĐBSCL. Đó là quản lý thiên tai một cách khôn ngoan, sử dụng tài nguyên nước một cách hiệu quả vì một ĐBSCL kinh tế ổn định, thịnh vượng, môi trường đa dạng và bền vững.  

Nguồn nước và hạt lúa

Đê bao, bờ bao ở ĐBSCL đã phát huy vai trò lớn trong việc bảo vệ các khu dân cư, bảo vệ sản xuất trong mùa lũ. Tuy nhiên, đê bao, bờ bao lại bị nhiều người coi là nguyên nhân quan trọng khiến cho nước lũ trên sông Cửu Long không được tích trữ lại trong các đồng ruộng ở vùng thượng nguồn mà bị đẩy hết ra biển, qua đó góp phần không nhỏ gây ra tình trạng thiếu nước ngọt trong mùa khô. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Sau năm 1975, toàn vùng ĐBSCL tổng sản lượng lương thực mới khoảng 5 triệu tấn, sản xuất chủ yếu là lúa 1 vụ (lúa dài ngày năng suất thấp).

Bài toán đặt ra là ngoài hệ thống kênh cấp nước, tiêu chua, xổ phèn thì cần phải có hệ thống bờ bao để bảo vệ lúa hè thu và dùng  bơm vợi để tiếp tục sạ lúa vụ đông xuân đã được giải quyết từ thập niên 80 - 90 của thế kỷ trước. Đây là kết quả đúc kết từ thực tiễn, sáng kiến của người nông dân Nam Bộ, và của cán bộ địa phương.

Lúc sinh thời, cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt rất tâm đắc việc phát triển đê bao và bờ bao là nền tảng cho vựa lúa ở ĐBSCL. Trong một bài viết đăng báo ngày 16/10/2006 với nhan đề “Đê bao, bờ bao nền tảng làm giàu vựa lúa”, ông cho rằng: “nhờ có hệ thống công trình thủy lợi đa mục tiêu, chúng ta đã đánh thức được tiềm năng của hai “kho đất” lớn ở tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười.

Chính từ những đê bao, bờ bao đã hình thành hệ thống giao thông, nơi ở an toàn cho người dân vùng ngập lũ, cuộc sống của người dân vùng ĐBSCL ngày nay được an toàn hơn, sản xuất chủ động (lúa, màu, cây ăn trái, thủy sản nước mặn, nước ngọt…), ngành nghề phát triển đa dạng, giao thông nông thôn thông thoáng hơn.

Hệ thống thủy lợi đã tạo ra nền tảng làm giàu cho vựa lúa hôm nay, góp phần đắc lực vào chương trình an ninh lương thực quốc gia và ổn định kinh tế - xã hội”.

Từ thực tiễn trên, cho thấy “sống thuận thiên” ở ĐBSCL theo Nghị quyết 120 của Chính phủ trong thời gian tới không phải là phá dỡ hệ thống đê bao khép kín, mà phải khắc phục những mặt còn hạn chế, phát huy các mặt tích cực để  mang lại lợi ích to lớn cho ĐBSCL.

Các ý kiến phê phán hay băn khoăn về các mặt tồn tại của đê bao, bờ bao được đề cập như mức độ ảnh hưởng đến thoát lũ, khả năng lấy phù sa, sạt lở bờ bao sau mỗi trận lũ, phát triển quá nhiều lúa vụ 3 trong đê bao, là rất đáng hoan nghênh, trân trọng bởi vì nó giúp cho những người có trách nhiệm phải xem xét, điều tra, tính toán để cần thiết bổ sung, đưa ra những biện pháp khắc phục các mặt còn khiếm khuyết.

Tuy nhiên, cần tránh những nhận xét phiến diện, chủ quan, cục bộ, chỉ biết khai thác những điểm còn tồn tại, hạn chế cả trong quá trình thực thi cũng như trong quản lý, vận hành, mà không dựa vào tổng thể chung của cả hệ thống để đánh giá một cách khách quan và khoa học những hiệu ích to lớn do đê bao, bờ bao mang lại.


Sở dĩ tôi phải nhấn mạnh như vậy vì trong quá khứ đã có không ít thế này thế khác quanh chủ trương xây dựng hồ Dầu Tiếng, kênh Hồng Ngự, chương trình thoát lũ ra biển Tây, cầu Mỹ Thuận... Song, trên thực tế, lợi ích to lớn của các công trình nói trên cho đến nay thì ai cũng hiểu (ngay kênh Hồng Ngự được người dân biết ơn Nhà nước, đặt tên là kênh Trung ương).

Sông Mekong ở thượng nguồn. Ảnh: Mekong Eye.

Lúa là cây trồng chủ lực ở ĐBSCL khi chiếm diện tích lớn nhất, cho sản lượng hằng năm nhiều nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong xuất khẩu gạo cả nước. Nhưng lúa lại được coi là một trong những loại cây trồng tiêu tốn nhiều nước nhất. Trong bối cảnh ĐBSCL ngày càng phải đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngọt bởi biến đổi khí hậu và hoạt động xây dựng thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong, tình trạng nước sông Mekong xuống thấp, dẫn tới nguy cơ thiếu nước ngọt ở ĐBSCL sẽ diễn ra thường xuyên hơn, ĐBSCL có nên điều chỉnh lại sản xuất lúa hay không?

Về lý thuyết hoàn toàn đúng, song trong thực tiễn không hẳn như vậy. Lúa đúng là cây trồng tiêu tốn nhiều nước. Theo nhiều tài liệu, để sản xuất ra 1kg gạo, cần 3.500 - 4.000 lít nước (hay 3,5 - 4m3 nước). Tuy nhiên, đó là khi ta cần duy trì mực nước cho cây lúa đảm bảo cây sinh trưởng phát triển bình thường, còn cây lúa không lấy đi theo nông sản lượng nước trên, giống như chất dinh dưỡng từ phân bón.

Tuy nhiên, trong trường hợp cần bơm tưới thì vấn đề lại khác, rất cần tính toán. Theo tôi, điều chỉnh diện tích lúa cho hiệu quả không phải chỉ do thiếu nước mà có lẽ là cái chính là do hiệu quả kinh tế thấp.
Xin cảm ơn ông!

TRẦN THANH SƠN



MRC - August 12, 2019









Thursday, August 8, 2019

CẦN CÓ DŨNG KHÍ CHÁNH TRỊ ĐỂ GIẢI QUYẾT NAN ĐỀ MEKONG


(Mekong dilemmas need political will to resolve)

Apichai Sunchindah – Bình Yên Đông lược dịch
Bangkok Post – July 26, 2019

Đập thủy điện Xayaburi [Ảnh: Bangkok Post]


Năm vừa qua, chúng ta rất đau buồn vì những hiểm họa liên quan đến việc vỡ đập trong lưu vực sông Mekong, sau khi một đập phụ của dự án thủy điện Xe Pian-Xe Namnoy ở Lào sụp đổ khiến cho một khối lượng nước lớn lao đã tràn xuống hạ lưu, gây ngập lụt rộng lớn và thiệt hại tài sản, hoa màu, gia súc, gián đoạn đời sống và thiệt hại nhân mạng.  Nguyên nhân của tai họa là do việc xây dựng thiếu tiêu chuẩn và mưa lớn bất thường.

Một năm sau, tình hình của lưu vực Mekong hoàn toàn đảo ngược với tình trạng hạn hán cực đoan và lưu lượng thấp kéo dài mặc dù đang ở trong mùa mưa.  Tình hình trở nên nghiêm trọng hơn khi đập thủy điện Cảnh Hồng – nằm ở thượng lưu trên sông Mekong trong tỉnh Vân Nam của Trung Hoa - đã giảm ½ lượng nước xả xuống hạ lưu từ ngày 5 đến 19 tháng 7 để “bảo trì lưới điện.”  Kết quả là lưu lượng của sông đã xuống đến mức thấp kỷ lục ở nhiều trạm hạ lưu, nhất là ở Lào và Thái Lan, với sông trơ đáy và ghềnh đá nổi lên mặt nước cùng với tôm cá chết dọc theo một đoạn sông dài.  Một số người gán cho đập Xayaburi, nằm sâu trong lãnh thổ Lào đang chạy thử hệ thống vận hành thủy điện, làm cho tình hình trở nên tồi tệ mặc dù có nhiều ý kiến khác biệt trong vấn đề nầy.

Cho dù hiện tượng giao động nầy là do sự thay đổi khí hậu, nó cho thấy một sự gia tăng đáng kể tính bấp bênh hay không thể đoán trước những yếu tố khí tượng-thủy học chỉ trong một năm, và trong cả 2 trường hợp, cường độ của sự khốc liệt được gia tăng do vỡ đập hay vận hành chính hệ thống sông.  Như tôi đã trình bày trước đây, việc chắc chắn duy nhất là không chắc chắn, người ta phải rất cẩn thận để chọn bên phía an toàn hay xây dựng các biện pháp an toàn hay dự phòng trong bất cứ loại vận hành nào có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và/hay kinh tế xã hội.  Ngoại trừ trường hợp khẩn cấp, thời biểu cho việc bảo trì cơ sở hay máy móc cần phải uyển chuyển để thích ứng với mưa và lưu lượng.

Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) - một tổ chức liên chánh phủ gồm có Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam là thành viên và Trung Hoa và Myanmar là đối tác đối thoại (dialogue partner) hay quan sát viên – có nhiệm vụ giám sát việc phát triển khả chấp (sustainable development) sông Mekong từ năm 1995.  

Vừa rồi, MRC có ra 3 tuyên bố liên quan đến hạn hán và lưu lượng trong lưu vực sông.  

Tuyên bố thứ nhất vào ngày 3 tháng 7 cho biết đã nhận được thông báo của Bộ Thủy lợi Trung Hoa về việc cắt giảm lượng nước xả xuống hạ lưu từ đập thủy điện Cảnh Hồng như đã nói trên.  Nó cũng cho một ấn tượng rằng không có gì phải lo ngại vì kết quả của sự giao động mực nước được dự đoán thì “không có ảnh hưởng quan trọng như dự đoán” được ghi ngay trong tựa đề.
Ảnh hưởng nầy được lặp lại trong câu cuối của đoạn thứ nhất nói rằng, “Nhưng với mưa nhiều hơn được dự đoán và mùa mưa cũng bắt đầu, không có chiều hướng lo ngại quan trọng được dự đoán.”  Ở cuối bản tuyên bố, nó lại được nhấn mạnh thêm rằng “Với mùa mưa đã bắt đầu từ đầu tháng 6, mang mưa mùa phía nam vào hạ lưu vực Mekong, sự giao động mực nước ở trạm Cảnh Hồng sẽ không đe dọa tiêu cực đến hạ lưu sông Mekong.”  Như chúng ta đã biết, cái dự đoán như thế nó đúng bao nhiêu.  Có lẽ để gỡ gạc, MRC đang mướn chuyên viên theo dõi khí hậu và nguồn nước, có nhiệm vụ phân tích tình trạng hạn hán và lũ lụt và nghiên cứu phù sa và nước ngầm trong toàn lưu vực, và đóng vai trò chỉ đạo trong việc thu thập, phân tích và duy trì dữ kiện khí tượng và thủy học.

Tuyên bố thứ hai, công bố ngày 18 tháng 7 hay 2 tuần sau, khi tình hình hạn hán và lưu lượng đã trở thành hiện thực ở hạ lưu vực Mekong, tự sửa sai với hàng tít “Mực nước Mekong xuống thấp kỷ lục” và tiếp tục cho thấy mực nước giảm xuống mức kỷ lục ở hầu hết các trạm thủy học ở dọc theo sông.  

Tuyên bố thứ ba được công bố ngày hôm sau về việc ký kết thỏa ước chia sẻ dữ kiện thủy học giữa Trung Hoa và MRC.  Đây chỉ là sự tiếp tục của thỏa ước đã có từ năm 2002, qua đó Trung Hoa cung cấp cho MRC dữ kiện mực nước và lượng mưa, ngày 2 lần, của 2 trạm thủy học – một trên dòng chánh và một trên phụ lưu Mekong – trong 5 tháng mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 12 cho mục đích tiên đoán và ngừa lụt.  Việc nầy sẽ có hiệu quả hơn nếu Trung Hoa chia sẻ dữ kiện quanh năm của nhiều trạm thủy học hơn để có thể cung cấp một hình ảnh tổng quát của lưu lượng và vũ lượng cho toàn thể thượng lưu vực sông Mekong trong lãnh thổ Trung Hoa.

Trường hợp đập của Cảnh Hồng gần đây, có thể gọi là, “đóng vòi nước,” dù để bảo trì lưới điện, là một sự nhắc nhở đúng lúc rằng các quốc gia duyên hà ở hạ lưu luôn lép vế đối với quốc gia ở thượng lưu về các vấn đề quản trị nguồn nước rất phiền phức ngoại trừ có những bảo đảm thích hợp.  Một phúc trình của Thai PBS mới đây, có tựa đề, “Tám đập của Trung Hoa ngăn chận 40 tỉ m3 nước của sông Mekong” có thể đúng, nhưng nó không có lợi vì quá nhạy cảm, đặt người láng giềng khổng lồ ở thượng lưu dưới ánh sáng quá tiêu cực và không giúp ích cho việc thương thảo bén nhạy.  Sự thật thường ở giữa và đây là cái không gian chánh trị mà các quốc gia duyên hà ở thượng và hạ lưu cần phải thu hẹp để đồng thuận trên một số điều khoản hỗ tương nhằm quản lý tốt nhất nguồn nước chung.  Một số các diễn đàn sẽ được tổ chức vào cuối tuần nầy có lẽ sẽ là bước khởi đầu cho những thảo luận để đi đến mục đích như vậy.

Apichai Sunchindah – Bình Yên Đông lược dịch


.Mưa lũ hoành hành ở Tây Nguyên: Nguy cơ vỡ đập thủy điện, đe dọa 3 tỉnh



Thứ Năm, 08/08/2019

(VTC News) - Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai vừa có công điện gửi một số tỉnh ở Tây Nguyên để cảnh báo nguy cơ vỡ đập thủy điện.

Chiều 8/8, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai cho biết, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai Nguyễn Xuân Cường vừa ký công điện khẩn gửi các tỉnh Đắk Nông, Bình Phước, Lâm Đồng cùng Bộ Công thương và Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, để cảnh báo nguy cơ vỡ đập thủy điện.
Theo báo cáo từ tỉnh Đắk Nông, công trình hồ thủy điện Đắk Kar tại huyện Đắk R’Lấp có dung tích 13 triệu mét khối hiện trong thời gian thi công nhưng đang gặp sự cố kẹt cửa van. Do ảnh hưởng của mưa lũ những ngày qua, nước đã tràn qua đập, gây sạt lở ở vị trí chân đập và có nguy cơ cao xảy ra vỡ đập, đe dọa nghiêm trọng đến sự an toàn của các khu vực dân cư ở các tỉnh Đắk Nông, Bình Phước và Lâm Đồng.

Mưa lũ đang hoành hành ở các tỉnh Tây Nguyên.

Để đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của người dân, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai yêu cầu các địa phương khẩn trương thông tin về sự cố đập tới chính quyền các cấp và người dân; tổ chức di dời khẩn cấp dân cư ra khỏi khu vực có nguy cơ chịu ảnh hưởng; chủ đập và các cơ quan chức năng phải tìm mọi cách để hạ thấp mực nước, tránh tình huống vỡ đập đột ngột.
Ngoài ra, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai yêu cầu các địa phương theo dõi chặt chẽ diễn biến mưa lũ và diễn biến về sự cố; sẵn sàng lực lượng, phương tiện để chủ động ứng phó, xử lý khi có tình huống xấu xảy ra. Vì theo dự báo, khu vực này nằm trong vùng tiếp tục có mưa lớn từ 800 - 100 mm/24 giờ, có nơi trên 100 mm.
Cũng theo thông tin từ Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, đến 17h chiều 8/8, mưa lũ tại các tỉnh Tây Nguyên đã làm 6 người chết, trong số đó có 3 người chết do sạt lở đất xảy ra tại tỉnh Đắk Nông. Các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng mỗi tỉnh có 1 người chết do mưa lũ.

Source:

.Water resources development in the Sesan, Sre Pok, Sekong

 
Sesan, Sre Pok, and Sekong basins 
with existing, under construction, and proposed dam locations.

The Sesan, Sre Pok, and Sekong basins (3Ss) straddle Cambodia, Vietnam, and Lao PDR, and have been targeted for rapid development of hydropower.  Understanding the impact of flow changes due the operation of cascading dams is critical to address transboundary issues, including power generation and potential alteration of downstream ecosystem productivity.

The Sesan, Sre Pok and Sekong river basins (3Ss) are located in the south eastern part of the Mekong Basin and have a total drainage area of 78,650 km2. The 3Ss straddle Cambodia (33%), Lao PDR (29%), and Viet Nam (38%). The Sre Pok and Se San rivers flow from the Central Highlands of Viet Nam through Cambodia and join with Sre Kong, which flows from Annamite mountain in Lao PDR about 40 km before merge with the Mekong River mainstream at Stung Treng. Annual rainfall over the basin varies from 1,100-3,800 mm, with the higher rainfall intensities occurring in the Highlands of Lao PDR and Viet Nam. Annual flow at the outlet is about. Annual discharge from the 3Ss represents approximately 17-20% of total annual flows of the Mekong mainstream (91,000 mcm or an average of 2,886 m3/s), making it the largest tributary contribution to the Mekong basin and therefore of significant importance.

The 3S basin area also has important aquatic biodiversity and provides ecosystem services through habitat for migrating fish (rapids, deep pools and sand bars).  National protected areas cover about 20% of the basin. There are also significant Important Bird Areas which have high biodiversity value.

Over 2 million people live in Viet Nam part while in Lao PDR and Cambodia there are only 260,000 and 230,000 people, respectively. Most people in Lao PDR and Cambodia  still live close to the river system and remain highly depend on natural resources and ecosystem services while the Central Highlands of Viet Nam have a dense population and are undergoing a rapidly accelerating development.

The impact of dam development along the 3Ss and dam operation scenarios were modelled with the HEC-HMS (Hydrological Modelling System), SWAT, and HEC-ResSim (Reservoir Simulation) models to quantify the magnitude of potential changes to water flows and levels. Simulations were conducted on a daily time step.
An overview of results from some of our modelling efforts were presented at the Stimson Center in August, 2011.  The video interview and powerpoint presentation can be seen here:
http://www.stimson.org/video/interview-with-dr-tom-cochrane/

 Associated journal publication:
Arias, M.E., Piman, T., Lauri, H., Cochrane, T.A., Kummu, M. (2014) Dams on Mekong tributaries as significant contributors of hydrological alterations to the Tonle Sap Floodplain in Cambodia. Hydrological and Earth System Sciences Discussion 11, 2177-2209. doi:10.5194/hessd-11-2177-2014.
Piman, T., Cochrane, T.A., Arias, M.E., Green, A., and Dat, N.D. (2013) Assessment of Flow Changes from Hydropower Development and Operations in Sekong, Sesan and Srepok Rivers of the Mekong Basin.  Journal of Water Resources Planning and Management, ASCE,  http://dx.doi.org/10.1061/(ASCE)WR.1943-5452.0000286

Source:

“Where There Is Water, There Is Life” Or Story About Serepok River

Unconventional, from its source flowing into the sea like other rivers, the Serepok river of the Central Highlands. It flows back upstream into Cambodia. Serepok river (or Srepok), the Khmer name is Tonlé Srepok. It is the largest river in the river system in Dak Lak.
This is an important tributary of the Mekong River. People also call it Dak Krong River. It is 406 km long from the confluence of the Krong Ana and Krong No rivers to the mouth of the river. With a length of about 126 km in the Vietnamese territory and about 281 km in length in Cambodia.
In the ethnic languages of the Central Highlands and Southern Laos, “Se” was a river, and if called correct, it should be Se Rêpôk.

Serepok River from above

Located in the west of the Truong Son River, Serepok river flows to Cambodia before entering the Mekong River. After which the large river returns to Vietnam. Serepok river is formed entirely in Dak Lak. it is composed of two small rivers Krong Ana (Mother River) and Krong No (Father river). The river flows through Krong Ana, Buon Don and Ea Sup districts of Dak Lak.

The Tay Nguyen legend says that Krong Kno and Krong Ana were just a Serepok river. At that time, a boy from Buon Kuop fell in love with a girl on the other side of the river. Their love grows bigger until they are discovered by their relatives. These two families have had a grudge against each other hundreds of years ago. So do not accept the descendants love each other, find ways to prevent and divide the love couple. But because they love each other, they both find ways to resist. On a cool moon night in the Serepok river, the couples have jumped into the river together. After they died, the black clouds suddenly came from many places, the sky was black, the river flowing rushing water. Tomorrow morning, when people wake up, the river has turned into two lines.

Another tributary of the Serepok River is Dak Dam, which is Cambodia’s prek Dak Dam. Which is more than 100 km long and runs north-south along the border between Vietnam and Cambodia.

Out of the Vietnamese territory, Serepok was supplemented by abundant water from the Ea H’leo River. The Serepok River enters the Mekong River near Stung Treng, Stung Treng Province. Before entering, it also received water from the Sesan River and Sekong River, which also came from the Vietnamese territory.

The Serepok River is 406 km long and has many majestic waterfalls. Such as Trinh Nu Waterfall, Dray Sap Waterfall, Dray Nu Waterfall, Dray H’Linh Waterfall, Gia Long Waterfall and Bay Nhanh Waterfall which are attractions for tourists.

At the end of the 19th century, when people didn’t develop the road in Daklak, Serepok was one of the important trade routes in the area. Lao and Cambodian people often sail upstream to trade and exchange goods with the highlands of Dak Lak in Vietnam. Ban Don has since become a crowded commercial port then; may be like Hoi An of Da Nang or Pho Hien – Hung Yen.
The Lao people had come here to trade here, and have built up a Ban Don which is famous for its unique cultural identity.

SOURCE: