Sunday, January 21, 2024

ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN TRONG SÔNG LANCANG VÀ HẠ LƯU VỰC SÔNG MEKONG

(China’s Influence on Hydropower Development in the Lancang River and Lower Mekong River Basin)

 

Nathaniel Matthews and Stew Motta – Bình Yên Đông lược dịch

State of Knowledge – July 2013

 

Đập Xiaowan (Tiểu Loan) trên sông Lancang (Mekong) ở Trung Hoa. 

[Ảnh: Yunnan Adventure]

 

Tại sao Trung Hoa phát triển thủy điện trên sông Lancang và hạ lưu vực sông Mekong?

Trung Hoa là quốc gia hàng đầu của thế giới trong việc xây cất thủy điện.  Trong Kế hoạch 5 Năm thứ 12th (2011-2015) của mình, Trung Hoa loan báo ý định bành trướng thêm khả năng thủy điện của mình bằng cách phát triển 8 khu thủy điện với trên 60 dự án thủy điện đại qui mô, mang tổng số công suất thiết trí của thủy điện bên trong quốc gia đến 284 GW (GEV, 2011).

Một thành phần quan trọng của việc phát triển thủy điện ở trong nước và chiến lược năng lượng của Trung Hoa là xây chuỗi Lancang, nằm trong tỉnh Yunnan (Vân Nam).  Sông Lancang, được gọi là sông Mekong ở phía nam biên giới của Trung Hoa, có tiềm năng thủy điện 30.000 MW.  Để thu hoạch tiềm năng nầy, chánh phủ Trung Hoa có các kế hoạch phát triển 1 chuỗi đập trên dòng chánh sông Lancang, với 5 đập đang hoạt động.  Khi hoàn tất, những đập nầy có thể sản xuất 15.720 MW hay 52,4% tiềm năng thủy điện của Lancang (Grumbine, Dore and Xu, 2012).  20 đập khác đang được dự trù hay đang xây cất trên các phụ lưu của Lancang (Kummu and Varis, 2007).

Qua việc cung cấp điện giá rẻ, việc phát triển thủy điện trên sông Lancang cung cấp nhiều cơ hội để phát triển kinh tế trong các thành phố kỹ nghệ của Trung Hoa chẳng hạn như Kunming (Côn Minh) và Guangzhou (Quảng Châu).  Thủy điện là một trong 5 trụ cột của kinh tế Yunnan.  Nó được xem như một nguồn năng lượng sạch và một thành phần quan trọng trong việc giảm sự lệ thuộc nặng nề vào nhiên liệu hóa thạch và mức phóng thích CO2 của Trung Hoa, hiện cao nhất trên thế giới.  Theo Thống kê Nhanh của Kỹ nghệ Điện Quốc gia, công suất thiết trí thủy điện của Trung Hoa trong năm 2010 chiếm 22,18% tổng số nguồn cung cấp năng lượng của quốc gia.

Ảnh hưởng thủy điện của Trung Hoa, tuy nhiên, không giới hạn trong sông Lancang.  Trung Hoa cũng là một tay chơi quan trọng trong việc phát triển thủy điện ở Hạ Lưu vực Mekong (LMB).  Qua các công ty chẳng hạn như China International Water and Electric Corporation (Tổ hợp Điện Nước Quốc tế Trung Hoa), Hydro Lancang và Sinihydro, Trung Hoa tích cực trong hàng chục đập trong Hạ Lưu vực gồm có đập Hạ Sesan 2 (400 MW) ở Cambodia vừa được loan báo.  Những đập nầy cung cấp một cơ hội cho Trung Hoa để xuất cảng chuyên môn, gia tăng ảnh hưởng chánh trị, phát triển mối liên lạc mậu dịch, và nâng cao lợi nhuận cho các tổ hợp quốc doanh của mình (SOEs).  Đối với các quốc gia chủ nhà, những dự án nầy bơm tài chánh lớn vào kinh tế quốc gia, trong khi cung cấp hạ tầng cơ sở và điện.  Những đập nầy vì thế được gọi là những dự án ‘thắng-thắng’ bởi những nhà phát triển Trung Hoa.

Kết luận: Chuỗi đập Lancang là một thành phần quan trọng của kế hoạch của Trung Hoa để phát triển năng lượng carbon thấp, tái tạo và sạch để cung cấp cho nhu cầu điện đang gia tăng ở trong nước.  Việc phát triển thủy điện ở Hạ Lưu cung cấp cơ hội để Trung Hoa gia tăng ảnh hưởng chánh trị và kinh tế của mình trong lưu vực và cho SOEs (Doanh nghiệp Quốc doanh) nâng cao lợi nhuận và xuất cảng chuyên môn thủy điện của họ.

 

Lịch sử của việc phát triển thủy điện Lancang

Việc phát triển thủy diện trên Lancang được bắt đầu từ năm 1956, khi HydroChina Kunming Engineering Corporation (HCKEC) (Tổ hợp Kỹ thuật HydroChina Kunming) bắt đầu điều tra các vị trí.  Từ 1957-58, HCKEC xác định 21 vị trí có tiềm năng thủy điện dọc theo sông, và thực hiện quy hoạch sơ khởi cho vị trí đập Xiaowan (Tiểu Loan).  Vì tình trạng bất ổn chánh trị và kinh tế mang lại bởi Bước Nhảy Vọt và Cách mạng Văn hóa, việc quy hoạch thêm thủy điện được tạm ngưng cho đến cuối thập niên 1960s.

Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, trong năm 1998, việc xây cất bắt đầu ở đập Manwan (Mạn Loan), đập đầu tiên trên dòng chánh sông Lancang-Mekong, mà không thông báo cho các quốc gia ở hạ lưu.  Trong suốt thập niên 1990s và 2000s, việc phát triển thủy điện của Trung Hoa dọc theo Lancang tiến hành nhanh chóng, và vào năm 2008, 4 đập trên dòng chánh đã hoạt động: Manwan (1.550 MW) bắt đầu hoạt động trong năm 1992, Dachaoshan (Đại Chiếu Sơn) (1.350 MW) trong năm 2003, Jinghong (Cảnh Hồng) (1.750MW) trong năm 2008 và Xiaowan (Tiểu Loan) (4.200 MW) trong năm 2010.  Tính đến tháng 6 năm 2013, Nuozhadu (Nọa Trát Độ) hoạt động, mặc dù tất cả các turbies chưa hoạt động, và Gongguoqiao (Công Quả Kiều) (750 MW) đang được xây cất.

Việc phát triển nhanh chóng của Lancang từ năm 2000 trùng hợp với việc thành lập Yunnan Lancang Hydropower Development Corporation (YLHDC) (Tổ hợp Phát triển Thủy điện Lancang Yunnan) trong năm 2001.  Trước năm 2001, trách nhiệm phát triển Lancang được chia sẻ giữa Yunnan Provincial Lancang Integrated Development Planning Commission (Ủy hội Kết hợp Quy hoạch Phát triển Lancang Tỉnh Yunnan), Bộ Năng lượng (MoE) và China Energy Investment Corporation (Tổ hợp Đầu tư Năng lượng Trung Hoa).  Trong năm 2001, YLHDC được giao trách nhiệm chung để phát triển chuỗi Lancang.  Trong năm 2002, YLHDC được đổi tên là Huaneng Lancang River Hydropower Corporation (HLHC) (Tổ hợp Thủy điện sông Lancang Huaneng).

HLHC là một tổ hợp cổ phần của Nhóm Huaneng Trung Hoa (CHG), Nhóm Hongta (HG) và Yunnan Investment Corporation (YIC) (Tổ hợp Đầu tư Yunnan).  CHG là một tổ hợp quốc doanh đưới quyền của Chánh phủ Trung ương Trung Hoa, và là một trong 5 tổ hợp lớn nhất phù hợp với China Tobacco (Thuốc lá Trung Hoa).  HG kiểm soát một số hiệu thuốc lá lớn nhất ở Yunnan và có đầu tư rộng rãi đang gia tăng gồm có năng lượng, xây cất, an ninh, sản phẩm giấy, dược phẩm, hóa chất nhẹ, và cung cấp thức ăn thức uống cho nhà hàng.  Trong Phúc trình Doanh nghiệp Mạnh nhất trong năm 2010 của Trung Hoa, HG đứng đầu ở Yunnan và 104th trên toàn quốc (ETMOC, 2010).  YIC là một tổ hợp đầu tư của chánh quyền tỉnh Yunnan.

Kết luận: Việc phát triển nhanh chóng của chuỗi Lancang từ năm 2000 trùng hợp với việc chuyển trách nhiệm từ Yunnan Provincial Lancang Integrated Development Planning Commission, Bộ Năng lượng (MoE) và China Energy Investment Corporation cho Huaneng Lancang River Hydropower Corporation (HLHC).  HLHC là một tổ hợp quốc doanh có thế lực với đầu tư đa dạng.

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

VẤN ĐỀ CỦA POTASH: ĐỒNG LÚA BAO PHỦ MUỐI Ở THÁI LAN

 (The problem with potash: Thailand’s salt-encrusted fields)

Samanachan Buddhajak and Luke Duggleby – Bình Yên Đông lược dịch

The Third Pole – January 17, 2024

 

Các cộng đồng đang chống đối những kế hoạch để khai thêm mỏ potash, bị cáo buộc làm ô nhiểm nước và đât ở chung quanh.

 

“Chúng tôi không muốn anh chị ở những nơi khác ở trong nước đối mặt với ảnh hưởng mà chúng tôi đang đối mặt,” Thanawan Kainok nói, trong một buổi thảo luận nhóm về ‘Quá khứ và Tương lai của Potash ở Isan’ trong huyện Wanon Niwat, tỉnh Sakon Nakhon ở đông bắc Thái Lan.

Trong năm 2015, Tổ hợp Potash Mingda của Trung Hoa, một công ty Trung Hoa đăng ký ở Thái Lan, nhận được giấy phép để khảo sát vùng nông thôn nầy cho những vị trí tiềm tàng để khai mỏ potash – là muối thiên nhiên rất giàu chất potassium và sodium.  Tính đến nay, mặc dù công ty đã khai thác một vài nơi, họ chưa bắt đầu khai thác thương mại vì sự chống đối mạnh mẽ từ các cộng đồng địa phương ở trong vùng.

Nhà hoạt động Thanawan Kainot nói chuyện với các thành viên của cộng đồng trong huyện Wanon Niwat về ảnh hưởng của việc khai mỏ potash đối với làng của cô, cách Dan Khun Thot 300 km. [Ảnh: Luke Duggleby]

 

Thanawan đi trên 300 km để tham gia thảo luận, được tổ chức trong tháng 4 năm 2023, từ cộng đồng của cô trong huyện Dan Khun Thot, tỉnh Nakhon Ratchasima.  Dan Khun Thot là một nơi duy nhất có mỏ potash đang hoạt động ở Thái Lan, và đã bị mặn hóa đất và nước tràn lan, được cho là do các hoạt động khai mỏ.

Dân làng ở Wanon Niwat lo ngại rằng mỏ potash mới có thể ô nhiễm thủy đạo mà hàng chục ngàn người dựa vào để dùng cho nông nghiệp và gia dụng với hóa chất nguy hại và muối.  Trong năm 2015, họ thành lập Nhóm Bảo tồn Wanon Niwat, để chống lại việc khai mỏ potash bằng biểu tình, khiếu nại, và hành động trực tiếp, chẳng hạn như ngăn chận công ty đến vùng khảo sát.  Kết quả là, công ty nộp một vài đơn kiện chống lại các thành viên của cộng đồng trong năm 2018, cáo buộc họ phỉ báng và đòi bồi thường.

Wanon Niwat là một trong 3 địa điểm ở đông bắc Thái Lan nơi các công ty có ý định khai mỏ potash, nhưng chưa bắt đầu hoạt động thương mại.


Trong số 4 công ty có ý định khai mỏ potash ở đông bắc Thái Lan, chỉ có 1 công ty đã bắt đầu hoạt động thương mại.  ASEAN Potash trong tỉnh Chaiyaphum và Asia Pacific Potash ở Udon Thani có chuyển nhượng để khai mỏ.  China Mingda đang tái xin giấy phép thăm dò, sẽ hết hạn trong năm 2020. [Ảnh: The Third Pole]

 

Mặc dù potash phần lớn được khai mỏ cho potassium, được dùng để làm phân bón, sodium mà nó chứa có thể sớm trở nên hấp dẫn không kém.  Các nhà nghiên cứu ở Đại học Khon Kaen ở Thái Lan vừa phát triển thành công bình điện có thể nạp điện bằng cách dùng sodium, thay vì lithium.  Kỹ thuật mới nầy, cũng đang được phát triển ở nơi khác trên thế giới, có vẻ có ảnh hưởng lớn đối với kỹ nghệ xe điện (EV).  Sodium rẻ hơn và có nhiều hơn lithium, và việc sử dụng nó trong bình điện có thể giúp cho EVs dễ mua hơn và khuyến khich chấp nhận chúng rộng rãi hơn.  Chánh phủ Thái thiết tha cho điều nầy xảy ra, nhưng những người chống khai mỏ lo ngại rằng nó có thể châm ngòi cho việc khai mỏ potash bùng nổ.

Áp lực gia tăng để khai thác dự trữ giàu có của Isan

Đông bắc Thái Lan, một vùng được gọi là Isan, có một lịch sử lâu đời của việc làm muối.  Potash được khám phá lần đầu tiên trong thập niên 1970s.  Mặc dù kích thước của dự trữ của Thái Lan không rõ, chánh phủ nói chúng lớn thứ 4th trên thế giới.  Canada có dự trữ lớn nhất thế giới, với 1.100 triệu tấn, theo sau là Belarus và Nga với 750 triệu và 400 triệu tấn, theo thứ tự.  Có quan tâm trong việc khai mỏ potash ở Thái Lan từ thập niên 1980s, nhưng có rất ít tiến bộ được thực hiện cho đến vài năm qua, phần lớn vì thiếu tài chánh và hạn chế luật pháp, cũng như chống đối ở địa phương.

Thúc đẩy gần đây trong việc khai mỏ potash được nối chặt chẽ với những thay đổi trong thị trường phân bón toàn cầu.  Thái Lan đang dựa nặng nề vào nhập cảng, mang vào trên 736.000 tấn potassium chloride trong năm 2022 theo dữ kiện quan thuế Thái Lan.  Nhưng những xáo trộn mậu dịch của hàng hóa do cấm vận được đặt ra để đáp ứng với việc xâm chiếm Ukraine của Nga và việc đàn áp chống đối hòa bình ở Belarus gây nên tăng giá potash đáng kể trong năm 2022.

“Chánh phủ [Thái] đã nói rằng các dự án [khai mỏ] sẽ làm giảm nhập cảng potash và vì thế giảm giá phân bón ở Thái Lan, Santiparp Siriwatthanaphaiboon, một giảng viên ở Đại học Udon Thani Rajabhat, nói.  Santipart nói quốc gia có tiềm năng để sản xuất ước tính khoảng 3 triệu tấn potash mỗi năm.  Con số nầy vuột quá nhu cầu hiện nay ở Thái Lan, còn lại một số có thể, ông nói, được bán cho Trung Hoa.


Potash phần lớn được khai mỏ cho potassium, được dùng để sản xuất phân bón.  Việc tăng giá gần đây của potash làm tăng áp lực từ chánh phủ Thái và các công ty tư nhân để mở thêm mỏ mới trong vùng đông bắc của quốc gia. [Ảnh: Luke Duggleby]

 

Măc dù có dự trữ potash của mình, Trung Hoa, với sản lượng nông nghiệp lớn lao, là quốc gia nhập cảng potash lớn thứ 3rd trên thế giới, mang vào trên 7,5 triệu tấn potassium chloride mỗi năm, phần lớn từ Nga, Canada và Belarus.  Trung Hoa từ lâu đã nhắm đến dự trữ của Thái Lan như nguồn thay thế tiềm tàng gần nhà hơn.  Trong năm 1979, 2 chánh phủ ký một MOU về đầu tư của Trung Hoa trong việc khai mỏ potash ở Thái Lan.  Một vài năm sau, trong năm 2004, Tổ hợp Potash Mingda Trung Hoa xin giấy phép để thăm dò [potash ở Wanon Niwat.

Mãi cho đến sau cuộc đảo chánh quân sự ở Thái Lan trong năm 2014 giấy phép thăm dò nầy mới được chấp thuận, tuy nhiên, thiết tha với việc sử dụng kinh tế hơn tài nguyên thiên niên của quốc gia, chánh phủ quân sự mới cũng chuyển nhượng khai mỏ ở 3 địa điểm trong các tỉnh đông bắc Chaiyaphum, Udon Thani và Nakhon Ratchasima.  Tính đến nay, việc khai mỏ chỉ bắt đầu ở 1 trong 3 địa điểm nầy – dự án huyện Dan Khun Thot trong Nakhon Ratchasima, được điều hành bởi Công ty Kali Thái.

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Sunday, January 14, 2024

CÁC ĐẬP SÔNG MEKONG ĐE DỌA “THU HOẠCH GAI” TRUYỀN THỐNG Ở BẮC THÁI LAN

(Mekong River Dams Threaten Traditional “Gai Harvesting” in Northern Thailand)

CTN News – Bình Yên Đông lược dịch

Chiang Rai Times – December 25, 2023

 


Các đập thủy điện dọc theo sông Mekong đã làm xáo trộn dòng chảy của sông, gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với những hệ sinh thái phức tạp và đa dạng sinh học giàu có mà hàng triệu người trong lưu vực Mekong dựa vào để sinh sống.

Theo các chuyên viên và người dân, điều nầy đe dọa khả năng của người dân để giảm nhẹ và thích ứng với khí hậu đang thay đổi.

Mưa mùa vừa qua nhường chỗ cho gió bắc lạnh, đánh dấu khởi đầu của mùa khô trong khu vực Mekong.  Đây là mùa để dân làng dọc theo biên giới sông Mekong giữa tỉnh Chiang Rai và tỉnh Bokeo ở Lào bắt đầu thu hoạch “Gai”, hay rong sông Mekong.

Gai, một món ăn ngon địa phương và nguồn dinh dưỡng then chốt, chỉ có thể được thu thập từ tháng 12 đến tháng 4 khi sông thấp và đủ trong để cho rong nước ngọt phát triển.

Đàn bà địa phương ở 2 bên Mekong tụ tập trên một cồn cát ỡ giữa sông khi Gai bắt đầu nở hoa trong đầu tháng 12 để nhặt thu hoạch đầu tiên của mùa.

 


Theo truyền thống, đàn bà thu hoạch gai trong khi những ngưởi đàn ông đánh cá.  Những người đàn bà đã nhặt gai trong sông Mekong từ lúc còn nhỏ.  Gai và cá sông rất quan trọng đối với đời sống và cuộc sống của người dân địa phương từ thời tiền sử.

Hầu hết cư dân là nông dân đối mặt với nguy hiểm gia tăng của thất mùa và mất thu nhập do lề lôi thời tiết thay đổi.

Tài nguyên phong phú của sông rất quan trọng để nâng cao việc chống lại thay đổi khí hậu của người dân địa phương, vì họ có thể dựa vào cá và gai của Mekong để có thêm thực phẩm và tiền bạc.  Vì các đập ảnh hưởng tiêu cực đến cá và các nguồn thực phẩm khác, gai hiện nay là tài nguyên thiên nhiên duy nhất mà người địa phương có thể lấy từ sông. Sự xáo trộn dòng chảy hiện nay đang đe dọa việc thu hoạch gai.

Trong mùa khô, các đập thủy điện làm mực nước sông lên xuống nhanh chóng.  Điều nầy làm chậm sự tăng trưởng cả gai và tạo ra rủi ro chết chìm cho những người đi nhặt rong từ đá trong lòng sông cát khi nó nở hoa.

Niwat Roykaew, sáng lập viên của Nhóm Bảo tồn Chiang Khong, nới với Thái PBS, việc phát triển thủy điện được quảng bá như một nguồn năng lượng sạch và sẽ giúp các quốc gia Mekong trong việc giảm sự lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và cải thiện ổn định năng lượng.

Tuy nhiên, ông nói thêm rằng phát triển đến với 1 cái giá cao cho hệ sinh thái và cuộc sống của người dân Mekong.

“Người dân sống dọc theo sông Mekong nay đang đối mặt với những đe dọa nghiêm trọng đối với đời sống và cuộc sống của họ, vì sông từng được dùng để cung cấp cho họ những tài nguyên cần thiết nay đang bị các đập thủy điện giết chết.”

Các dự án thủy điện, theo Niwat, đang gây ra những thay đổi như thế đối với sông Mekong có thể sớm mất mức đáng kể của nó như mạch máu của các hệ sinh thái và cuộc sống trên khắp Đông Nam Á. “Giao động của mực nươc là  vấn đề quan trọng đầu tiên.”  Các đập làm nhiều hơn việc nâng cao mực nước trong mùa khô, ảnh hưởng đến việc thu hoạch gai.

Chúng cũng làm mực nước tụt xuồng trong mùa mưa, làm xáo trộn chu kỳ sinh sản của loài vật ở dưới nước trong sông, thưởng di chuyển đên các vùng đất ngập nước lân cận để sinh sản trong mùa lụt,” ông giải thích.

“Không có nhịp lũ theo mùa nầy, sông Mekong đang chết, và rất nhiều loại cá nhanh chóng biến mất.”

Ông nhấn mạnh rằng suy thoái sinh thái của đập ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân địa phương, dựa nặng nề vào tài nguyên cung cấp bởi sinh thái của sông.  Những người nầy nay đang đối mặt với không có an ninh lương thực và tài chánh, cũng như mất khả năng để thích ứng với thay đổi khí hậu.

Chánh quyền Thái, ông nói, làm cho tình hình tồi tệ thêm.

“Ảnh hưởng của các đập thủy điện có thể thấy rõ, nhưng chánh phủ Thái vẫn tiến hành với những thỏa thuận mua điện từ 3 dự án đập thủy điện – Pak Lay, Luang Prabang và Pak Beng,” viên chức nói thêm.

“Thủy điện được dán nhãn như một năng lượng rẻ và sạch, nhưng cái rẻ của nó đến với cái giá cao cho sông Mekong và môi trường và cái giá nầy đang được trà bởi người dân địa phương đang mất cuộc sống vĩnh viễn.”

 

MEKONG: TỪ ĐE DỌA ĐẾN CÁC GIẢI PHÁP THAY THẾ

(Mekong: From threats to alternatives)

WWF – Bình Yên Đông lược dịch

29 December 2023

 

Một người đàn ông trên chiếc thuyền đánh cá trong sông Mekong ở Lào.

[Ảnh: Michele Depraz]

 

Sinh thái của lưu vực sông Mekong từ lâu bị đe dọa bởi những hoạt động không khả chấp, nhưng các giải pháp thay thế càng ngày càng được giới thiệu để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của lưu vực, ngăn ngừa hủy hoại thêm đa dạng sinh học và duy trì an ninh lương thực của khu vực.

 

Giống như Yangtze, sông Mekong bắt nguồn từ Tây Tạng Himalayas.  Được nuôi dưỡng bởi tuyết tan, nó bắt dầu hành trình dài 4.200 km qua những hẽm núi đứng ở Trung Hoa, thu thập sức mạnh từ những suối dọc theo hành trình, đi qua nhiều vùng ở Burma [Myanmar], Lào, Thái Lan trước khi tiến về Cambodia và đổ vào Biển Đông ở miền nam Việt Nam.  Hành trình dài đến đồng bằng nầy từ 5.000 m trên mặt nước biển cho thấy bằng chứng của tính phong phú của sự giàu có sinh học.

Lưu vực rộng 800.000 km2 là nơi cư trú của 1.300 chủng loại và giàu có nhưng phần lớn chưa được biết của động vật không có xương sống và rùa.  Sông là một trong những thành trì cuối cùng của cá heo sông Irrawaddy nổi tiếng.  Đất ngập nước trong lưu vực là nơi ẩn náu của những chủng loại quý hiếm chẳng hạn như cá sấu Siamese và sếu đầu đỏ.  Rừng còn lại trong khu vực là nơi cư trú của những thú vật đặc biệt, gồm có những chủng loại có nguy cơ tuyệt chủng quyến rũ như cọp và những thú ăn thịt lớn chỉ được khám phá trong thập niên qua.  Những địa điểm ở Cambodia đã được chỉ định như đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế qua Quy ước Ramsar và 2 vùng của lưu vực sông Mekong có đủ điều kiện của vùng chim bản xứ.

Nhưng các nhà hoạt động môi trường trong khu vực đã bày tỏ lo ngại về sự suy thoái đáng kể của đa dạng sinh học của Mekong.  Nhiều chọn lựa khả chấp nên được thực hiện cấp bách, họ nói.

 

Những đe dọa đối với sông Mekong

Sinh thái của lưu vực sông Mekong từ lâu đã bị đe dọa bởi những hoạt động không khả chấp, nhưng những giải pháp thay thế càng ngày càng được giới thiệu để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của lưu vực, ngăn ngừa thêm suy thoái đa dạng sinh học và duy trì an ninh lương thực của khu vực.  Những dự án kỹ thuật sông lớn trên các phụ lưu của sông là những đe dọa lớn nhất.

 

Là sông lớn nhất và dài nhất ở Đông Nam Á (ĐNA), Mekong hỗ trợ thú vật sông đa dạng thứ 2nd trên thế giới sau Amazon, một tài sản thiên nhiên nay bị đe dọa bởi các dự án thủy điện.  Đập thứ hai trên dòng chánh Mekong được dự trù trong tỉnh Yunnan (Vân Nam), Trung Hoa.  Dự án Dachaoshan (Đại Chiếu Sơn) 1.350 MW gần hoàn tất vào cuối năm nay.

Mười hai vùng quan trọng của đáy sông từ Yunnan đến tỉnh Chiang Rai ở đông bắc Thái Lan cũng sẽ được phá nổ để loại bỏ những ghềnh thác và đào sâu lòng sông cho thủy vận thương mại.  Kế hoạch nầy là một phần của thỏa thuận được ký kết bởi Thái Lan, Burma, Lào và Trung Hoa để khuyến khích du lịch và thủy vận thương mại.

Ở Thái Lan, 2 dự án chuyển nước lớn lao đang được tiến hành.  Kong-Chi-Mun trong giai đoạn xây cất đầu tiên, trong khi Kok-Ing-Nan vẫn còn trong giai đoạn quy hoạch nhưng được đẩy mạnh bởi Chánh phủ.

Dự án Kong-Chi-Mun, gồm có trên 20 đập trên sông Chi và Mun, sẽ tạo nên những vùng dọc theo sông Mekong ở các tỉnh đông bắc, trong khi Kok-Ing-Nan nhằm mục đích để chuyển sông Kok (một phụ lưu của Mekong) về phía bắc.  Kong-Chi-Mun đang đối mặt với chống đối ở địa phương vì ảnh hưởng xã hội và môi trường của nó, nhất là làm mặn đất.

Đập Pak Mun trên sông Mun (một phụ lưu khác của Mekong) trong tỉnh Ubon Ratchathani, đã có những ảnh hưởng xã hội và môi trường (nhất là thủy sản), ngoái việc thiếu đứng vững kinh tế của nó.  Đập được hoàn tất trong năm 1994, ngay sau đó làm cho chủng loại cá địa phương sụt giảm vì hầu hết là di ngư, và làm trầm trọng thêm khủng hoảng lương thực, ảnh hưởng nhiều người dân địa phương.  Dân làng nay làm áp lực với Chánh phu Thái để mở cửa đập để giải quyết khủng hoảng.

Trong thập niên qua, Thái Lan đã đóng một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích các dự án thủy điện ở các quốc gia láng giềng như là một phần của chánh sách để khuyến khích nhập cảng điện để đáp ứng nhu cầu.  Ở Lào, kể từ việc đóng băng vĩnh viễn của dự án đầu tiên – đập Pa Mong trên dòng chánh Mekong – một vái dự án thủy điện đã được xây cất trên các phụ lưu, gồm có dự án Theun-Hinboun và Nam Theun 2.  Có những động cơ kinh tế quan trọng hiện đang thúc đẩu kinh tế Lào.  Chúng đặt ra câu hỏi lớn liệu kế hoạch xây-điều hành-chuyển giao được thúc đẩy bởi thành phần tư nhân là quyền lợi lâu dài tốt nhất cho kinh tế Lào.  Ở dưới Cambodia, vấn đề quan trọng là ảnh hưởng tiềm tàng của đập đối với sông Tonle Sap, một phụ lưu khác của Mekong, và đối với việc sản xuất lúa và cá ở địa phương.

Ở miền nam Việt Nam, ảnh hưởng của các đập ở thượng lưu đối với dòng nước và lượng phù sa trong thành phần “chín rồng” của Mekong trong vùng nầy, gây ra xâm nhập nước mặn và ảnh hưởng tai hại đến năng suất của cửa sông và canh tác thực phẩm trong đồng bằng.  Sông Mekong giống như mạch máu chánh của người dân ĐNA, cung cấp cho họ cá và lúa, 2 thức ăn căn bản cho ẩm thực tự túc truyền thống.  Mức sản xuất cá trong lưu vực vào khoảng 800 triệu USD.

Tất cả các dự án thủy điện gần đây trên dóng chánh Mekong và các phụ lưu đã có những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sông và ảnh hưởng đến thủy sản và cuộc sống dựa vào đánh cá của các cộng đồng địa phương.  Mối liên hệ mật thiết của dòng chánh Mekong và các phụ lưu của nó có nghĩa là những ảnh hưởng nầy tự động lan tràn trên toàn thể lưu vực.

 

Những giải pháp thay thế: Tiến đến một Mekong khả chấp

Sáu quốc gia duyên hà Mekong đã trải qua tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và cùng lúc với nhu cầu gia tăng cho hạ tầng cơ sở kinh tế, gồm có sản xuất năng lượng.  Từ thập niên 1950s đến đầu thập niên 1990s, người dân liên quan đến việc phát triển khu vực Mekong tin rằng nhu cầu cho kinh tế có thể được đáp ứng một cách tốt nhất qua việc sản xuất thủy điện.

Nhưng những kinh nghiệm cay đắng phát xuất từ những ảnh hưởng xã hội và môi trường nghiêm trọng của các dự án thủy điện vẫn còn được cảm nhận.  Càng ngày càng có nhiều kêu gọi cho việc quản lý lưu vực sông khả chấp hơn.

Vì đáp ứng nhu cầu năng lượng được xem như cội rễ của sai lầm trong quá khứ, các tổ chức kể cả Quỹ Thiên nhiên Toàn Thế giới (WWF) đang chú trọng đến các hoạt động để khuyến khích những nguồn năng lượng thay thế.  Một trong những thách thức quan trọng trong việc tranh đấu để bảo vệ sông Mekong và các hệ sinh thái quan trọng của nó là giúp khu vực cải thiện hiệu năng năng lượng qua việc quản lý phía cầu (DSM) và chuyển qua một lề lối phân tán năng lượng dựa phần lớn vào DSM các kỹ thuật qui mô nhỏ và thân thiện với môi trường, WWF nói.  “Chúng tôi nhằm khuyến khích một sự trộn lẫn các lựa chọn trong việc sản xuất năng lượng, cung cấp nước và sản xuất nông nghiệp sẽ làm dễ dàng cho khát vọng xã hội và kinh tế được thực hiện trong những cách cũng duy trì phẩm chất của môi trường”.  Giám đốc Chiến dịch Nước Sông WWF Richard Holland giải thích.  “Điều nầy có nghĩa là làm việc với các chánh phủ trong khu vực Mekong, các bộ phận quốc tế chẳng hạn như Văn phòng của Ủy hội Sông Mekong (MRCS), doanh nghiệp (nhất là các công ty kỹ thuật) và các NGOs khác,” ông nói.

Robert Mather, thay lời cho WWF Thái Lan, thêm rằng một mục tiêu là cắt xuất [nhập] cảng điện sang [từ] Lào, WWF sẽ làm việc với các đối tác khác về những chương trình năng lượng thay thế ở Thái Lan.  “Chúng tôi muốn làm việc với MRCS ở Cambodia để khuyến khích một đường lối toàn bộ hơn để phát triển khả chấp, cũng như với Ngân hàng Phát triển Á Châu để ảnh hưởng sự hỗ trợ tài chánh cho các dự án trong khu vực,” ông nói.

Tuy nhiên, phát triển khả chấp không có một định nghĩa rõ ràng trong bất cứ lãnh vực nào, và nó mở ra một định nghĩa thiết thực.  Giám đốc điều hành của MRCS Joern Kristensen nói nó nên có nghĩa là “một tiến trình phát triển để lợi ích được chia sẻ công bằng trong khi tối thiểu hóa nguy hại đến môi trường”.  “Nối kết giữa năng lượng gia tăng và tiêu thụ nước, gia tăng di chuyển của hàng hóa và người dân, gia tăng mậu dịch khu vực và gia tăng đô thị hóa là cần thiết.  Cố gắng để chận đừng tiến trình nầy sẽ giống như cố gắng chận đứng dòng chảy của sông Mekong,” ông giải thích.

Nhưng Dave Hubbel của NGO Towards Ecological Recovery and Regional Alliance (TERRA) có trụ sở ở Bangkok nói rằng phát triển khả chấp thật sự cần thay đổi sâu rộng trong mô hình phát triển.  Loại dự án phát triển hay khía cạnh kỹ thuật có thể không quan trọng bằng tiến trình lấy quyết định cho nó, ông nói.

“Việc tham gia của người dân và kiến thức địa phương phải là nền tảng của bất cứ phát triển trong khu vực,” ông nhấn mạnh.  Trên hết, ông nói, thay đổi mô hình phải xảy ra ở tất cả các cấp và liên quan đến người dân địa phương, chánh phủ và các tổ chức tài chánh.  Robert Mather đồng ý với ông Hubbel rằng đường đi còn dài để thực hiện một Mekong khả chấp.

MỘT CÙ LAO MEKONG QUÁ NHỎ ĐỂ CANH TÁC KỸ NGHỆ NAY HƯỚNG ĐẾN TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM

(A Mekong island too tiny for industrial farming now points to Vietnam’s future)

Sonal Gipta – Bình Yên Đông lược dịch

Mongabay – 11 January 2024

 

Nông dân trên cù lao Cồn Chim trồng lúa, hoa, trái cây và rau cải và đánh cá quanh năm ở ven biển miền nam Việt Nam. [Ảnh: Sonal Gupta]

 

·                    Trong những thập niên sau Chiến tranh US ở Việt Nam, chánh phủ Việt Nam đấu tranh cho những phương pháp thâm canh đã nâng cao thu hoạch lúa và biến quốc gia thành một sức mạnh xuất cảng.

·                    Mặc dù hầu hết Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được uốn nắn lại để hỗ trợ cho thâm canh, cù lao ven biển Cồn Chim có vẻ quá nhỏ để xây đê và cửa cống cần thiết, để cho nông dân ở đó tiếp tục lề lối truyền thống của nông nghiệp mùa mưa và nắng và đánh cá

·                    Nay, trong kỷ nguyên thống trị bởi những lo ngại khí hậu, Việt Nam dự định giảm canh tác lúa và chuyển sang những lối thực hành nông nghiệp dựa vào thiên nhiên.  Từng là một nơi cô lập, Cồn Chim nay là một cột hướng dẫn kiếm hoi cho tương lai nông nghiệp khả chấp hơn.

·                    Câu chuyện nầy được soạn với sự hợp tác với Global Reporting Program (Chương trình Báo cáo Toàn cầu) của School of Journalism, Writing and Media của Đại học British Columbia

 

CỒN CHIM, Việt Nam – Ở ngoài biển của tỉnh Trà Vinh là Cồn Chim, một mảnh đất tí hon nơi gió thổi văng nước, luồn qua những cây đước và xào xạc qua đồng lúa.  Đất nầy, tất cả  62 hectares (153 acres) của nó, là một thí dụ hiếm hoi của cái mà hầu hết ĐBSCL giống như trước khi canh tác lúa kỹ nghệ bành trướng ở Việt Nam trên 50 năm trước.

Khoảng 220 người sống ở đây, thực hành những phương pháp canh tác lúa truyền thống và đánh cá khả chấp trong khi đón du khách trong hoạt động du lịch sinh thái mới được phát động.

Trong kỷ nguyên thống trị bởi những lo ngại khí hậu, Cồn Chim lặng lẽ trở thành một biểu tượng của hy vọng cho một tương lai khả chấp ở Việt Nam.

“Đến Cồn Chim giống như trở ngược thời gian,” Nguyễn Hữu Thiện, một nhà sinh học địa phương , người đã dành trọn đời để tìm hiểu hệ sinh thái của đồng bằng, nói.  “Là một nhà bảo tồn, tôi ngạc nhiên vì Cồn Chim, vì lối sống mà người dân có thể thực hành.”

Thiện nhớ lại tuổi thơ của ông trong một làng ở đồng bằng, nơi ông học chuỗi canh tác và đánh cá.  Vào lúc đó, ông nói, tiền rất hiếm, nhưng đời sống thì phong phú và được định nghĩa bởi nước sạch, nhiều cá và – luôn luôn – lúa.  Nhưng ngày nay, ngay với có nhiều tiền hơn trong túi, họ không thể mua cái họ từng mua.  “Nó là một thiên đáng nay đã mất,” Thiện nói.

Ngày nay, những thách thức khí hậu như hạn hán, lũ lụt, nước biển dâng, và độ mặn cao ảnh hưởng đế canh tác lúa ở ĐBSCL.  Và sau 5 thập niên đấu tranh với nước – và những phương pháp nông nghiệp kỹ nghệ cần nhiều hóa chất, chánh phủ Việt Nam nay dự định giảm canh tác lúa ở ĐBSCL khoảng 300.000 hectares (741.000 acres) vào năm 2030.  Kế hoạch gồm có chuyển sang tính khả chấp bằng cách giới thiệu những lối thực hành nông nghiệp dựa vào thiên nhiên như những phương pháp được dùng trên cù lao nhỏ nầy.

 

Trên bờ sông Cổ Chiên, nông dân của cù lao duy trì một chấp vá của ruộng lúa và tôm dọc theo những con đường viền hoa và dừa. [Ảnh: Giang Pham]

 

Các chuyên viên đã xác định Cồn Chim như một trong những nơi còn lại ở ĐBSCL ở Việt Nam với dòng chảy theo mùa tự nhiên, cung cấp một cái nhìn vào quá khứ của quốc gia và có thể là cửa sổ hướng về tương lai của nông nghiệp khả chấp.

 

Lúa trên hết

Sau chiến tranh US ở Việt Nam trong thập niên 1970s, Việt Nam  thực hiện một chánh sách được biết là “Lúa Trên hết” nhằm để gia tăng sản xuất lúa qua những phương pháp thâm canh và quản lý nước.  Một hệ thống đê và kinh đào phức tạp được xây trên khắp đồng bằng, cho phép nông dân trồng lúa quanh năm.  Vào năm 1989, Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất cảng gạo lớn nhất trên thế giới – một đột phá quan trọng cho một quốc gia không thể tự nuôi sống sau chiến tranh.

Lợi ích kinh tế đã rõ, nhưng cái giá môi trường mất nhiều năm để đếm.  Những phương pháp trồng kỹ nghệ đòi hỏi những số lượng nước lớn lao, theo dõi luôn luôn và sử dụng phân bón cao.  Việc xây cất đê và hạ tầng cơ sở thủy nông trên khắp ĐBSCL làm xáo trộn những hệ sinh thái phức tạp của đồng bằng, và canh tác lúa kỹ nghệ đã đưa đến suy giảm phẩm chất đất.

“Đó là cái trên căn bản đã vít chặt của thành phần lúa của Việt Nam, vận dụng quá mức và kỹ thuật quá mức của đất ở đó,” Brian Eyler, giám đốc Chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Stimson, một tổ chức nghiên cứu ở Washington DC, nói.

Eyler nói kiểm soát dòng nước để cho phép làm 3 mùa một năm trên cùng mảnh đất, và dựa vào phân bón hóa học thay vì để cho đất được bổ sung bằng chất dinh dưỡng thiên nhiên, hạ thấp năng suất của đất theo thời gian và cuối cùng đẩy chi phí sản xuất lúa lên.  Một thế giới hâm nóng cộng thêm vào những thách thức đó.

“Khi thay đổi khí hậu nâng cao biển, nó sẽ mang nhiều nước và càng nhiều độ mặn.  Câu hỏi là, họ sẽ tiếp tục xây tường biển để quản lý nó hay họ sẽ giới thiệu các giải pháp dựa trên thiên nhiên hơn để cho phép người dân thích ứng với các điều kiện mới?” Eyler nói.

Mặc dù các phương pháp canh tác kỹ nghệ được giới thiệu trên khắp đồng bằng, Cồn Chim có vẻ quá nhỏ để đầu tư đòi hỏi đê và hạ tầng cơ sở thủy nông, được để nguyên.  Đời sống trên cù lao tiếp tục khi nông dân trồng hoa màu và khắc phục ảnh hưởng của thay đổi khí hậu.

 

Lùa thu hoạch được chế biến qua một máy đập lúa, nơi các hạt lúa được tách ra khỏi rơm, đoạn lúa được trải trên tấm nylon để phơi khô. [Ảnh: Sonal Gupta]

 XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Sunday, January 7, 2024

CÁC ĐỒNG BẰNG SÔNG BỊ ĐE DỌA NHIỀU HƠN THAY ĐỔI KHÍ HẬU

(River Deltas Are Threatened by More than Climat Change)

Murray Scown and Frances Eleanor Dunn –Bình Yên Đông lược dịch

Morning Star – December 29, 2023

 

[Ảnh: Shoreful]

 

Hàng trăm triệu người trong một số thành phố đông đúc nhất trên thế giới đang gặp rủi ro từ mực nước biển dâng, sụt lún đất và những thay đổi môi trường khác.

Nằm một cách nguy hiểm giữa mực nước biển dâng và áp lực từ thường lưu là những đồng bằng sông ven biển và khoảng ½ tỉ cư dân.  Những vùng nầy đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển xã hội từ thời băng giá sau cùng, cung cấp đất phì nhiêu bằng phẳng với vô số nước ngọt rất lý tưởng cho nông nghiệp.

Những lúc gần đây, các đồng bằng sông ven biển đã trở thành những trung tâm của mậu dịch chuyển vận toàn cầu, làm nổi lên những siêu thành phố tăng trưởng nhanh chẳng hạn như Dhaka, Cairo và Shanghai.  Nhưng những nơi nầy nay đang bị đe dọa.  Và không phải tất cả cáo buộc có thể đặt vào thay đổi khí hậu.

Một nghiên cứu mới đây cho thấy rằng 49 đồng bằng trên khắp thế giới, gồm có Niles, Mekong và Mississippi đang đối mặt với rủi ro gia tăng trong mọi tình huống trong tương lai của IPCC cho thay đổi khí hậu và phát triển.

Phân tích của chúng tôi cho thấy rằng một số rủi ro thì cấp bách hơn trong một số đồng bằng hơn các đồng bằng khác.  Những rủi ro nầy gồm có sụt lún đất, gia tăng mật độ dân số, thâm canh nông nghiệp, cai quản không có hiệu quả và thiếu khả năng thích ứng.

Sụt lún đất

Mực nước biển dâng và ảnh hưởng liên hệ của nó, chẳng han như mặn hóa, là một đe dọa then chốt đối với đồng bằng.  Nhưng không chỉ có mực nước biển dâng tạo nên những rủi ro như thế - các đồng bằng đang chìm.  Kết quả của chúng tôi cho thấy rằng sụt lún đất nhanh gấp 3 lần hơn mực nước biển dâng trong các đồng bằng chẳng hạn như Mekong ở Việt Nam và Krishma và Godavari ở Ấn Độ.

Tất cả đất đai lên và xuống khi vỏ của Trái đất thay đổi hình đáng một cách chậm chạp.  Nhưng, khi đất có một cột đất sâu hàng trăm m, như trong một số đồng bằng, tiến trình có thể xảy ra nhanh hơn.  Những hạt đất nén lại dưới sức nặng của mọi thứ nằm ở trên (gồm có những thành phố), và khi nước, hay thỉnh thoảng dầu khí, lấp tự nhiên những khoảng trống giữa các hạt được bơm đi, các hạt sụp đổ trên đầu của những hạt khác.

Sụt lún đất đưa đến mực nước biển dâng tương đối (kết hợp của mực nước biển dâng cộng với sụt lún đất).  Tiến trình nầy có thể làm cho hoa màu mặn hơn, gây ngập lụt lan tràn và, trong nhiều trường hợp cực đoan, đưa đến mất mát toàn thể vùng ven biển,  Nghiên cứu đề nghị rằng khoảng 25% của thủ đô Jakata của Indonesia, được xây dựng trên vùng đất thấp cạnh biển, sẽ bị ngập vào năm 2050.

Mật độ dân số và sử dụng đất cho hoa màu

Các đồng bằng Niles, Ganges và Pearl cũng nằm trong nhưng nơi có mật độ dân số đông đúc nhất trên thế giới.  Đặc biệt, đồng bằng Pearl của Trung Hoa, kẹt cứng với những siêu thành phố Guangzhou (Quảng Châu), Dongguan (Đông Quan) và Foshan (Phật Sơn), cùng nhau là nơi cư trú của trên 30 triệu người.  Nhiều đồng bằng sẽ trở nên đông đúc và đô thị hóa hơn trong những thập niên sắp đến.

Phát triển đô thị ngăn ngừa những tiến trình ngập lụt sông tự nhiên vận chuyển phù sa đến các đồng bằng và duy trì cao độ của mặt đất ở trên mặt nước sông và biển.  Điều nầy có thể làm cho đất của đồng bằng chìm xuống tương đối với mực nước biển và với tốc độ nhanh hơn.

Các đồng bằng cũng có tầm quan trọng lớn lao trong việc sản xuất thực phẩm.  Nông nghiệp dẫn tưới chiếm hầu hết đồng bằng sông Hồng ở Việt Nam, Po ở Italy và Yangtze ở Trung Hoa.  Nếu nước ngầm được bơm từ các tầng nước ngầm để tưới mùa màng, thì một lần nữa những đồng bằng sẽ lún nhanh hơn.

Việc sản xuất thực phẩm bị xáo trôn trong nhũng nơi nầy có thể có những hậu quả u ám trong tương lai – và không chỉ đối với đồng bằng có người ở.  Việt Nam là quốc gia xuất cảng gạo lớn thứ 2nd trên thế giới hầu hầu hết gạo đó đến từ Đồng bằng sông Cửu Long.

Khả năng để thích ứng

Các quốc gia đồng bằng có sự lựa chọn để quản lý nhiều rủi ro mà ho đối mặt – nó không chỉ là ơn huệ của nhũng quốc gia phống thích khí nhà kiếng lớn toàn cầu.  Tuy nhiên, tính sẵn sàng, khả năng và hiệu quả của chánh phủ để thích ứng rủi ro thì thấp trong nhiều đồng bằng.  Điều nầy đặc biệt đúng đối với đồng bằng Irrawaddy ở Myanmar và các đồng bằng ở Phi Châu gồm có Congo, Limpopo và Zambezi.  GDP mỗi đầu người của những quốc gia trong các đồng bằng nầy thuộc hạng thấp nhất trên thế giới, như là những chỉ số của hiệu năng của chánh phủ và tính sẵn sàng để thích ứng.

Hỗ trợ và đồng hợp tác quốc tế có thể và phải đóng một vai trò hỗ trợ ở đây.  Nhưng đây không phải là việc đơn giản.  Các quốc gia đang phát triển đòi hởi một số lượng tài trợ lớn lao để thực hiện những biện pháp thích ứng cần thiết.  Thật vậy, tài chánh thích ứng mà các quốc gia đang phát triển cần hiện nay lớn từ 10 đến 18 lần dòng tài tợ công quốc tế (ngân khoản di chuyển giữa các quốc gia thường với muc đích để hỗ trợ phát triển).

Và đó chỉ để thích ứng với thay đổi khí hậu.  Danh sách của những rủi ro của đồng bằng cho thấy phân tích của chúng tôi kéo dài xa hơn khí hậu và đòi hỏi phối hợp từ qui mô địa phương đến toàn cầu.

Giải pháp nào?

Các giải pháp phải được phát triển cứu xét tất cả những rủi ro nầy.  Những nỗ lực để hạn chế thay đổi khí hậu vẫn cấp bách, cũng như quy định về khai thác nước ngầm và nhiên liệu hóa thạch từ đồng bằng.

Các thành phố có thể được thiết kế để có tính chịu đựng hơn chống lại ngập lụt, trong khi những lối thực hành nông nghiệp có thể được thích ứng để đối phó với rủi ro.  Điều nầy có thể liên quan đến việc sử dụng những phương pháp như nuôi cá, trồng hoa màu chịu mặn, hay thăm dò những lối canh tác thay thế có thể chịu được các tiến trình ngập lụt và đồi lắng ở đồng bằng.

Những giải pháp kỹ thuật, chẳng hạn như tường biển, sẽ đươc đòi hỏi ở nơi các chiến lược khác không thể áo dụng,  Nhưng những phương pháp nầy không phải là đường lối khiếm diện.  Trên tất cả, những giải pháp phát triển phải bao gồm, việc tham gia không những của các chuyên viên mà còn của người dân địa phương, được thúc đẩy bởi sự cần thiết khẩn cấp của hành động và tài chánh của chánh phủ.

DỰ ÁN FUNAN TECHO KÊU GỌI ĐƯỜNG LỐI CHUNG ĐỂ PHÁT TRIỂN MEKONG

(Funan Techo Project Calls for Joint Approach to Mekong Development)

James Borton – Bình Yên Đông lược dịch

Geopolitical Monitor – January 1, 2024

 


Ở Cambodia, tất cả đường sá, cầu cống, và nay kinh đào đều đưa đến Trung Hoa.  Mặc dù có biên giới chung, hai quốc gia nầy đã thu gặt thành công một lịch sử kinh tế và văn hóa chung kể từ thế kỷ thứ 13th.  Trung Hoa với việc mở rộng bầu ảnh hưởng, đã xuất hiện như quốc gia ủng hộ chánh yếu của Cambodia, cung cấp tài chánh cho những đường sắt, cầu cống và cảng rộng lớn và dự án kinh đào lịch sử sắp đến có trị giá 1,7 tỉ USD được biết như “Funan Techo” hay thủy lộ được thiết kế để kéo dài sông Mekong đến biển.

Gần đây, một vài người bạn Khmer của tôi đã nhắc nhỡ tôi một tục ngữ nổi tiếng: “Nơi nào có nước, nơi đó có cá.  Nơi nào có đất, nơi đó có người Trung Hoa.”  Sự nối kết lịch sử nầy giữa Cambodia và Trung Hoa đã có được mức đáng kể mới, nhất là dưới ánh sáng của dự án sắp tới để phát triển 1 thủy lộ dọc theo dấu vết của một đường nước cỗ xưa.

Sáng kiến nầy được đưa ra để cải thiện giao thông thủy và hậu cần ở Cambodia, đưa đến sụt giảm trong chi phí vận chuyển và giúp nối kết với cộng đồng quốc tế, bỏ qua sự cần thiết phải đi qua Việt Nam.  Tuy nhiên, nhiều tiếng nói xuyên biên giới trong đồng bắng thấp hơn của Việt Nam đã bày tỏ lo ngại rằng thủy lộ nầy có thể ảnh hưởng đến dòng chảy ở hạ lưu thêm vào những thách thức môi trường đã có ở Đồng bắng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Kế hoạch kinh đào đầy tham vọng sẽ mất 4 năm để hoàn tất, đi qua 160 km với chiều rộng 80-100 m.  Nó bắt đầu từ sông Mekong nối với sông Bassac, và chảy ra vịnh Thái Lan.

Trong năm 2021, một công ty quốc doanh của Trung Hoa, China Communication Construction (Xây cất Viễn thông Trung Hoa) thực hiện một nghiên cứu khả thi của họ; và như là kết quả, các chuyên viên Mekong bày tỏ lo ngại.  “Đây là một dự án kinh đào nhân tạo có thể là cây đinh cuối cùng trên quan tài (ĐBSCL),” Brian Eyler, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á (ĐNA) của Trung tâm Stimson, nói.

Trải qua nhiều thế hệ, nông dân bản xứ ở ĐBSCL đã tùy thuộc hoàn toàn vào tài nguyên cá phong phú của sông và những mùa lúa cho cuộc sống của họ.  Mạch máu của sự hiện diện của họ được nối một cách phức tạp với dòng chảy cố định của sông.  Tuy nhiên, nhiều chuyên viên nước lưu ý rằng hệ thống phức tạp của hệ thống sông Mekong – bao gồm những phụ lưu và kinh đào quyến rũ của nó – đang đối mặt với một đe dọa nghiêm trọng.  Nhịp nước tự nhiên đang bị xáo trộn do ảnh hưởng tai hại của vấn đề dòng chảy phát xuất từ các đập thủy điện của Trung Hoa ở thượng lưu.

Eyler, cùng với những chuyên viên thủy học, lo ngại rằng dự án kinh đào có thể gây thêm tai hại cho các cộng đồng ở hạ lưu, nhất là nông dân Việt Nam ở đồng bằng thấp hơn, đã đang đối phó với những thách thức nghiêm trọng liên quan đến thay đổi khí hậu.  Vấn đề là kinh đào sẽ đòi hỏi trên 80 triệu m3 nước cho mậu dịch. sẽ làm cạn kiệt mực nước của sông Mekong và Bassac.

Ngày 27 tháng 4 năm 2020, một diễn đàn trên mạng được tổ chức bởi Mekong Environment Forum (Diễn đàn Môi trường Mekong), một tổ chức phi chánh phủ (NGO) ở trong nước, ở Cần Thơ, Việt Nam, các nhà nghiên cứu Philip Minderhoud và Sepher Eslami Arab của Đại học Utrecht, là một phần của Rise and Fall Project (Dự án Lên Xuống), chia sẻ kết quả của 6 năm điều tra.  Nghiên cứu của họ ở ĐBSCL kiểm chứng rằng dưới 5% của nước mặn xâm nhập do thay đổi khí hâu gây ra.  Thay vào đó, sự tăng trưởng của thủy điện được quy cho chánh yếu.  Hai nhà nghiên cứu nói rằng các đập ở thượng lưu được quy cho trên 90% của sự sụt giảm trong nguồn cung cấp phù sa của ĐBSCL.

Nghiên cứu của họ, cùng với những người khác, cho thấy ảnh hưởng của những thay đổi trong hạ tầng cơ sở thủy điện ở thượng lưu đối với những khía cạnh khác nhau chẳng hạn như sản xuất cá, đa dạng sinh học, ổn định đáy và bờ sông, vận chuyển phù sa và chất dinh dưỡng, và sinh học của chế độ dòng chảy trong lưu vực.  Sự cạn kiệt của dòng phù sa đến đáy và bờ sông đang xảy ra nhanh hơn những thay đổi khí hậu.

Bằng chứng hiện nay cho thấy rằng các đập ở thượng lưu đang gây ra thiệt hại không thể sửa được cho đồng bằng, làm xáo trộn những hệ sinh thái mong manh và gây nguy hại cho cuộc sống của nông dân canh tác dọc theo sông.  Kể từ năm 2010, ĐBSCL đã trải qua hạn hán kỷ lục và lặp lại mỗi 4 năm.

Đáng chú ý, Việt Nam và Cambodia có một lịch sử lâu dài cùng với sông Mekong, và vấn đề thiếu nước đang gia tăng trong vùng nay xác định hầu hết mối liên hệ của họ.  Những thách thức nầy tồi tệ thêm bởi các yếu tố chẳng hạn như tăng trưởng dân số, đô thị hóa, kỹ nghệ hóa, nhu cầu năng lượng, và ảnh hưởng của thay đổi khí hậu.  Khi trị giá kinh tế và chiến lược của nước gia tăng, sự cạnh tranh cũng gia tăng trong việc tiếp cận với tài nguyên càng ngày càng hiếm.

Ủy hội Sông Mekong (MRC), một tổ chức liên chánh phủ, được thiết lập bỏi 4 trong 5 của 6 quốc gia cùng chia sẻ sông Mekong, là, Cambodia, Lào, Myanmar, [Thái Lan], và Việt Nam.

Nhiệm vụ của nó là giám sát việc quản lý công bằng và khả chấp nguồn nước xuyên biên giới nầy.  Theo Cheang Vannarith, Giám đốc Điều hành của Viện Hợp tác và Hòa bình Cambodia (CICP), “Chủ quyền quốc gia vẫn là một thách thức của tổ chức liên chánh phủ nầy để đồng ý bất cứ nguyên tắc hay chánh sách ràng buộc để hướng dẫn việc quản lý sông.

Đập Xayaburi và những đập khổng lồ khác của Trung Hoa đã được xây cất trên thượng lưu của Mekong, đã có ảnh hưởng trực tiếp đối với an ninh lương thực trong ĐBSCL của Việt Nam, nơi có 18 triệu người sinh sống.  Việt Nam là quốc gia xuất cảng gạo đứng hàng thứ 2nd trên thế giới và ĐBSCL – đã là một vùng dễ bị tổn thương nhất với nước biển dâng sản xuất ½ lúa của Việt Nam.

Vì thế bất cứ dự án mới ở thượng lưu, là một đập khác hay kinh đào thoát nước từ sông Mekong, đòi hỏi những nghiên cứu độc lập.  Nó đã được công nhận bởi nhiều chuyên viên thủy học rằng Ùy hội Sông Mekong đã thất bại liên tục trong nhiệm vụ của nó để ngừng thiệt hại ở hạ lưu gây cho phù sa, nông nghiệp và sản phẩm thủy sản.  Phù sa đã chảy từ tỉnh Yunnan (Vân Nam) ở Trung Hoa đến Việt Nam từ hàng ngàn năm đã bị cạn kiệt nghiêm trọng vì một số đập thủy điện được xây trên khúc sông ở Trung Hoa, cũng như việc khai thác cát đại qui mô từ đáy sông.

Mặc dù có những nỗ lực gần đây của Thủ tướng Hun Manet để giảm nhẹ những lo ngại của Việt Nam trong chuyến viếng thăm Hà Hội của ông, bảo đảm rằng kinh sẽ không gây nguy hại cho sông Mekong chung rất quan trọng đối với an ninh lương thực trong khu vực Mekong.  Nghi ngờ của Việt Nam kéo dài về những dự án hàng đầu do Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Hoa tài trợ.

Dự án nước xuyên biên giới nầy [kinh đào hoàn toàn năm trong lãnh thổ Cambodia] cung cấp cho Cambodia và Việt Nam một cơ hội để các nhà khoa học và kỹ sư của họ tham gia việc xem xét cẩn thận kế hoạch kinh được đề nghị.  Tạm thời, gác qua một bên đường lối “dòng chảy của sông” của Trung Hoa có thể lót đường để áp dụng Quy ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Sử dụng những Thủy lộ Quốc tế không cho Thủy vận.  [Lời người dịch: Không thể áp dụng Quy ước của LHQ vì kinh đào Funan Techo được dùng cho thủy vận.]  Cả 2 quốc gia có được những ưu thế đáng kể trong việc bảo vệ Tonle Sap của Cambodia và ĐBSCL của Việt Nam qua những nỗ lực cộng tác.

Việc xây cất được đề nghị của thủy lộ này gồm có việc đi theo một con đường nước cỗ xưa, không chỉ có tác dụng như một phương tiện nối kết mà còn là một cây cầu biểu tượng giữa 2 quốc gia láng giềng cùng chia sẻ đời sống của sông.

TẠI SAO VIỆT NAM LO NGẠI VỀ DỰ ÁN KINH MEKONG CỦA CAMBODIA?

(Why is Vietnam Worried About Cambodia’s Mekong Canal Project?)

Sothearak Sok – Bình Yên Đông lược dịch

The Diplomat – January 2, 2024

 

Không ảnh của đảo Silk, một đảo trong sông Mekong ở phía bắc Phnom Penh.

[Ảnh: Depositphotos]

 

Kinh đào Funan Techo được đề nghị dự trù nối vùng biển của quốc gia với sông Mekong qua một hệ thống cửa đập và âu tàu.

Vào ngày 11 tháng 12 năm 2023, Thủ tướng Cambodia Hun Manet đã gặp đối tác Việt Nam Phạm Minh Chính trong chuyến viếng thăm chánh thức thủ đô Hà Nội của Việt Nam.  Trong chuyến viếng thăm 2 ngày, 2 phía đã tham gia vào những thảo luận đến những vấn đề như quốc phòng, vấn đề biên giới, mậu dịch và giáo dục.  Họ cũng ký những thỏa thuận hợp tác trong các lãnh vực khoa học và mậu dịch.

Trong những buổi nói chuyện với Manet, Chính bày tỏ lo ngại về dự án kinh đào Funan Techo của Cambodia.  Ông lo ngại rằng dự án sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường và hệ thống nước của sông Mekong, nhất là dòng chảy xuống hạ lưu từ Cambodia đến Việt Nam.  Để trả lời, Hun Manet tái bảo đảm với ông rằng những nghiên cứu sơ khởi của dự án cho thấy ảnh hưởng môi trường đối với Việt Nam sẽ tối thiểu.

Dự án Funan Techo, được ước tính tốn khoảng 1,7 tỉ USD, là một kinh đào nhân tạo sẽ nối các hải cảng của Cambodia trong vùng tây nam với sông Mekong.  Kinh đào dài 180 km sẽ nối tỉnh ven biển Kep với kinh Takeo hiện tại của sông Mekong qua một hệ thống cửa đập và âu tàu.  Điều nầy trên căn bản tạo nên một thủy lộ nối thủ đô Phnom Penh với bờ biển và quan trọng hơn cảng nước sâu duy nhất của quốc gia ở Sihanoukville.  Siêu dự án nầy nằm trong những dự án hạ tầng cơ sở ưu tiên được công bố bởi chánh phủ của Manet kể từ khi nhậm chức hồi tháng 8,  Một nghiên cứu khả thi cho dự án nay được hoàn tất và chánh phủ Cambodia ước tính rằng nó sẽ mất 4 năm để hoàn tất.  Nếu thành công, nó sẽ giảm chi phí vận chuyển hàng hóa từ cảng nước sâu đến thủ đô và ngược lại.

Những lo ngại mà Chính bày tỏ được xem như tiêu cực bởi nhiều nhà bình luận và khuôn mặt chánh trị của Cambodia, nói rằng những lo ngại của ông không thành thật và nhiều kinh tế-chánh trị hơn môi trường.  Đài Radio France Internationale phát thanh bằng tiếng Khmer trích dẫn một số nhà bình luận chánh trị và xã hội nói rằng Việt Nam không vui khi Cambodia tiến hành dự án.  Xoáy vào những lo sợ cũ của ảnh hưởng thái quá của Việt Nam đối với Đảng Nhân dân Cambodia của Hun Manet, một số đề nghị rằng Cambodia, là “quốc gia lệ thuộc” của Việt Nam, cần phải thông báo và “an ủi” ông chủ Việt Nam bằng cách thông báo từng bước của kế hoạch.  Một nhà bình luận khác đi xa hơn bằng cách đề nghị rằng Việt Nam lo ngại rằng Trung Hoa có thể dùng kinh đào nầy để tiến hành tham vọng quân sự của họ trong khu vực.

Ngược lại với những tuyên bố nầy, thực tế thì trần tục hơn: lo ngại của Việt Nam về siêu dự án kinh đào của Cambodia hầu hết là kinh tế trong bản chất.  Một điều, nó có thể là dự án có thể gây ra những vấn đề môi trường ở hạ lưu cho Việt Nam, ảnh hưởng thủy sản và nông nghiệp trong Đồng bằng sông Cửu Long.  Mặt khác, kinh đào Funan Techo sẽ làm giàm sự lệ thuộc của Cambodia đối với Việt Nam về giao thông đường biển.  Trong năm 2016,  Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) công bố một phúc trình cho thấy rằng Phnom Penh dựa vào các cảng của Việt Nam để vận chuyển xuất cảng vải sợi và nhập cảng nguyên liệu thô

Cambodia có 2 cảng quan trọng: Cảng Tự trị Sihanoukville ở tây nam và Cảng Tự trị Phnom Penh trên sông Mekong.  Hai cảng nối với nhau qua Quốc lộ 4 (và xa lộ vừa mới được xây cất E4) và đường sắt tây nam ọp ẹp.  Tuy nhiên, không có thủy lộ nối 2 cảng với nhau, và hiện nay, hàng hóa phải được vận chuyển từ Phnom Penh đến Cảng Tự trị Sihanoukville và ngược lại bằng đường bộ và đường sắt, rất tốn kém và chậm chạp.  Đó là nơi mà Việt Nam đi vào.  Phnom Penh là nhà của ½ hãng xưởng của thành phần vải sợi của Cambodia – là thành phần chế biến quan trọng nhất.

Thành phố có một nối kết thủy lộ với các cảng của Việt Nam qua sông Mekong.  Vì thế, việc xuất cảng vải sợi thường được vận chuyển bằng xà lan có gắn máy từ Cảng Tự trị Phnom Penh đến các cảng chung quanh Thành phố Hồ Chí Minh (thường là Cảng Cát Lái và Cảng Cái Mép).  Tương tự được áp dụng cho việc nhập cảng nguyên liệu thô của Phnom Penh cho kỹ nghệ vải sợi,  Nó rẻ hơn để chuyển hàng hóa qua Việt Nam đến Phnom Penh hơn phải vận chuyển bằng được sắt hay đường bộ từ Sihanoukville.

Việc vận chuyển giữa Cambodia và Việt Nam qua sông Mekong và các phụ lưu của nó được dễ dàng bởi Hiệp ước Giao thông Đường thủy, mà 2 quốc gia ký kết trong năm 2009, cho phép tàu bè của 2 quốc gia tình trạng “tối huệ quốc”.  Hiệp ước đơn giản các thủ tục quan thuế, và nó cũng đào sâu sự lệ thuộc kinh tế của Cambodia đối với Việt Nam.

Kinh đào Funan Techo trên căn bản lấp khoảng trống giữa Phom Penh và Cảng Tự trị Sihanoukville.  Nó sẽ cho phép việc vận chuyển dễ dàng của hàng hóa giữa 2 càng ở Phnom Penh và Sihanoukville, và giảm sự lệ thuộc của Cambodia vào các cảng của Việt Nam.  Đây là cái mà Thủ tướng Hun Manet vừa ám chỉ như “thở qua mũi của chúng ta.”  Khi kinh đào Funan Techo hoàn thành, chắn chắn Việt Nam sẽ mât cái lợi và ảnh hưởng kinh tế mà nó đã hưỡng thụ - và điều nầy có lẽ giải thích những lo ngại của Thủ tướng Việt Nam.