Sunday, October 20, 2019

XÂY ĐẬP BIẾN LƯU VỰC MEKONG THÀNH ĐỊA NGỤC MÔI TRƯỜNG


(Damming the Mekong Basin to Environmental Hell)

Brahma Chellaney – Bình Yên Đông lược dịch
Project Syndicate – August 2, 2019-10-01

Đập Tiểu Loan (Xiaowan) trên sông Lancang ở Trung Hoa 
[Ảnh: Internet]


Việc xậy đập trên sông Mekong đe dọa nghiêm trọng đến kinh tế và hệ sinh thái của khu vực.  Cách duy nhất để làm giảm sự đe dọa đó là chấm dứt tình trạng đơn phương và chuyển qua cộng tác về cơ chế để bảo vệ quyền lợi của mỗi quốc gia và làm tròn trách nhiệm – đối với người dân, láng giềng và hành tinh.

BANGKOK – Các dự án xây dựng đập lớn đã trở thành quá khứ vàng son của một số chánh phủ chuyên quyền, dẫn đầu là Trung Hoa.  Nhưng, không phải để tránh tình trạng thiếu nước như hứa hẹn của những người ủng hộ, các đập lớn đang làm cho các dòng sông cạn kiệt và làm trầm trọng hơn tình trạng khô hạn.  Không có nơi nào rõ ràng hơn lưu vực Sông Mekong, đang ở mức thấp lịch sử.

Được gọi là “mẹ của nước” ở Lào và Thái Lan, Mekong chảy từ Cao nguyên Tây Tạng do Trung Hoa kiểm soát đến Biển Đông, qua Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam.  Nông dân trong lưu vực sông, Nồi cơm của Á Châu,  sản xuất đủ gạo để nuôi 300 triệu người mỗi năm.  Lưu vực cũng có nền ngư nghiệp nội địa lớn nhất trên thế giới, chiếm khoảng 25% số lượng cá nước ngọt đánh được trên toàn cầu.

Thủy lộ thiết yếu nầy hiện đang bị đe dọa, phần lớn từ loạt đập khổng lồ do Trung Hoa xây gần biên giới Cao nguyên Tây Tạng, trước khi sông chảy vào Đông Nam Á (ĐNA).  11 đập đang hoạt động có công suất tổng cộng 21.300 MW – nhiều hơn công suất thủy điện được thiết trí của tất cả các quốc gia ở hạ lưu gộp lại.  Và chúng hủy hoại môi trường , kinh tế và địa chánh trị của khu vực.

Đầu tiên, bằng cách giảm lượng nước ngọt và phù sa mầu mỡ từ Hy Mã Lạp Sơn vào Biển Đông, những đập khổng lồ nầy làm cho Đồng bằng sông Cửu Long ở miền nam Việt Nam tháo lui.  Nước mặn xâm nhập buộc nông dân phải chuyển sang nuôi tôm hay trồng lát. [Lời người dịch: Đập thủy điện có làm giảm phù sa, nhưng không làm giảm lượng nước ngọt của sông.  Chúng trữ nước trong mùa mưa, làm giảm lưu lượng lũ, và xả nước trong mùa khô, làm tăng lưu lượng kiệt và giúp đẩy lùi sự xâm nhập của nước mặn.]

Hơn thế, theo một nghiên cứu của Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)), phát triển thủy điện đến năm 2040 – bao gồm thêm một số đập khổng lồ đang xây cất hay dự trù – sẽ làm giảm 40-80% số lượng cá (sinh khối).  Di ngư sẽ không còn trong hầu hết lưu vực đứng hàng thứ nhì sau Amazon về loài cá.

Đập cũng làm gián đoạn chu kỳ lũ hàng năm của sông Mekong, giúp bón phân cho đất canh tác một cách tự nhiên bằng cách phủ một lớp phù sa mầu mỡ, bên cạnh việc nuôi cá khổng lồ.  Đầu mùa hè năm nay, công tác bảo trì làm nước xả cuồn cuộn từ đập Cảnh Hồng của Trung Hoa.  Kết quả là lũ ở Thái Lan và Lào đã phá hủy mùa màng và ảnh hưởng cá, gây thiệt hại cho cuộc sống của người dân địa phương.

Trung Hoa sau đó đã làm đầy đập Cảnh Hồng bằng nước sông Mekong.  Mực nước sông ở hạ lưu xuống thấp cùng với tình trạng thiếu nước do lượng mưa mùa thấp hơn trung bình 40% trong tháng 6 và 7.  MRC cho biết, thay vì chảy tràn trong mùa hè, sông xuống thấp đến mức kỷ lục, làm cho lượng cá giảm và sản xuất lúa đi xuống.  Ở Thái Lan, lượng nước trong hồ chứa giảm 24%, và hạn hán trầm trọng đến độ chánh phủ Thái của Tướng Prayuth Chan-ocha phải huy động quân đội để giúp đối phó. [Lời người dịch: Các hồ chứa nước ở Thái Lan không có liên quan gì đến việc xả nước của đập Cảnh Hồng vì chúng nằm trên phụ lưu của sông Mekong.]

Mặc dù thế, không có dấu hiệu nào cho thấy Trung Hoa giảm bớt việc xây đập điên cuồng của họ.  Đối với chánh phủ Trung Hoa, đập khổng lồ là biểu hiện tự hào của sự kiến tạo khác thường.  Vì thế không chỉ có nhiều đập khổng lồ đang hoạt động hơn tất cả phần còn lại của thế giới gộp lại; Trung Hoa còn có đập lớn nhất, đập Tam Hiệp (Three Gorges Dam), và dự trù xây một đập lớn hơn gần biên giới tranh chấp với Ấn Độ ở Hy Mã Lạp Sơn.

Nhưng xậy đập không chỉ vì tự hào quốc gia.  Khi hạn hán trở nên thường xuyên và nghiêm trọng hơn, hệ thống đập của Trung Hoa cho phép nước nầy gia tăng thế lực đối với các nước ở hạ lưu.  Để đối phó với trận hạn hán quan trọng ở các quốc gia hạ lưu vào năm 2016, Trung Hoa xả “nước khẩn cấp” từ một trong các đập của họ.  Ngày nay, một lần nữa, họ hứa hẹn sẽ xả nhiều nước hơn – một lời nhắc nhở khó nghe cho thấy phạm vi mà các quốc gia ở hạ lưu phụ thuộc vào lòng tốt của Trung Hoa.

Lần tới, Trung Hoa có thể yêu cầu một thứ gì đó để bù lại, và một quốc gia đang khát nước không thể chối từ.  Một cách vắn tắt, Trung Hoa có thể dùng đập làm vũ khí nước.

Hơn nữa, mặc dù là một nhà xây đập hàng đầu – với một chương trình chuyển nước xuyên lưu vực đầy tham vọng tính đến nay – Trung Hoa không phải là quốc gia duy nhất.  Nước Lào không có bờ biển đang tìm cách để xuất cảng thủy điện, đặc biệt sang Thái Lan và Trung Hoa, trụ cột của nền kinh tế của nước nầy.  Để đạt mục đích nầy, Lào vừa hoàn tất – mặc cho Việt Nam và Cambodia phản đối – đập Xayaburi do Thái Lan tài trợ, hiện đang thử nghiệm và sẽ bắt bắt đầu hoạt động từ tháng 10.

Mặc dù nhỏ hơn các đập khổng lồ của Trung Hoa, đập Xayaburi đã có ảnh hưởng.  Chỉ việc trữ nước và thử nghiệm đã ảnh hưởng đến lưu lượng của phụ lưu Mekong ở hạ lưu Thái Lan, làm cho hạn hán của nước nầy nghiêm trọng hơn.  Ảnh hưởng đủ mạnh để chánh phủ Thái – đồng ý mua 95% điện do đập sản xuất – đã yêu cầu Lào ngưng việc thử nghiệm cho đến khi hạn hán giảm bớt. [Lời người dịch: Việc trữ nước và thử nghiệm của đập Xayaburi không có ảnh hưởng đến lưu lượng của phụ lưu Mekong ở hạ lưu Thái Lan vì đập nầy nằm trên dòng chánh Mekong.]

Nhưng Trung Hoa cũng có một vai trò ở đây.  Là một nhà đầu tư lớn nhất ở Lào, Trung Hoa đang tài trợ và xây dựng trên ½ dự án đập lớn của nước nầy.  Tương tự, ở Cambodia, Trung Hoa vừa mới hoàn tất đập thứ 7 và không phải là đập cuối cùng.

Đập có khuynh hướng làm quốc gia ở thượng lưu thắng cuộc, nơi người dân được hưởng nước và thủy điện, và thua cuộc ở hạ lưu.  Trong khu vực Mekong, người thua cuộc nhiều hơn người thắng cuộc trong ngắn hạn.  Trong dài hạn, việc hủy hoại môi trường cho thấy không ai thắng.  Cách duy nhất để tránh cái tương lai đen tối như thế là chấm dứt việc xậy đập đơn phương bướng bỉnh và chấp nhập hợp tác về cơ cấu cho toàn lưu vực Mekong, chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của mỗi quốc gia và làm tròn trách nhiệm – đối với người dân, láng giềng và hành tinh.

Sơ lược về tác giả

Brahma Chellaney, giáo sư về Nghiên cứu Chiến lược của Trung tâm Nghiên cứu Chánh sách có trụ sở ở New Delhi và học giả của Viện Robert Bosh ở Berlin, tác giả của 9 quyển sách, gồm có Asian Juggernaut, Water: Asia’s New Battleground, và Water, Peace, and War: Confronting the Global Water Crisis

DUY TRÌ NHỊP TIM CỦA LƯU VỰC MEKONG


(Sustaining the heartbeat of the Mekong Basin)

Brian Eyler and Courtney Weatherby – Bình Yên Đông lược dịch
Chinadialogue -  March 11, 2019

Biển Hồ (Tonle Sap) ở Cambodia [Ảnh: Teseum]


Sông Mekong thường được cho là phát nguyên từ Thanh Hải trên Cao nguyên Tây Tạng.  Trên bản đồ, nó chảy về hạ lưu qua miền tây nam của Trung Hoa, trở thành biên giới hay chảy qua các nước Lào, Myanmar và Thái Lan, và xuyên qua Cambodia và Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam trước khi đổ ra biển sau một hành trình dài 4.500 km từ Hy Mã Lạp Sơn (Himalayas).

Tuy nhiên, Mekong còn có một nguồn khác: Biển Hồ ở Cambodia.  Hàng năm, đời sống vươn lên từ hồ, hầu hết là số lượng cá khổng lồ di chuyển đến các nhánh sông xa xôi của hệ thống Mekong ở cả thượng và hạ lưu.

Sự di chuyển hàng năm của cá cung cấp chất đạm chánh cho hàng chục triệu người trong toàn lưu vực Mekong.  Trong khi tổng số cá thiên nhiên đánh bắt được trong tất cả sông hồ của Bắc Mỹ là 160.000 tấn, hệ thống Mekong hàng năm cung cấp 2,6 triệu tấn.  Riêng Biển Hồ cũng cung cấp 500.000 tấn, chiếm 75% nhu cầu chất đạm của Cambodia và là nền ngư nghiệp nước ngọt lớn nhất trên thế giới.
Nhưng nguồn tài nguyên phong phú nầy đang bị đe dọa bởi việc xây đập ở thượng lưu, việc đánh bắt thái quá, các hoạt động nông nghiệp bừa bãi và thay đổi khí hậu.

Lựa cá [Ảnh: Julia Mauldin]

Vấn đề của đập

Chúng tôi vừa công bố một phúc trình nghiên cứu ảnh hưởng của con người trên quan điểm rộng lớn hơn.  Nó đưa ra các giải pháp thay thế để tối ưu hóa sự đánh đổi giữa nước, năng lượng và sản xuất thực phẩm.  Những giải pháp nầy gồm có việc quy hoạch nguồn nước và năng lượng cho toàn lưu vực và kết hợp mạnh mẽ nguồn năng lượng tái tạo phi thủy điện vào điện năng hỗn hợp của Cambodia trong tương lai.

Những giải pháp nầy có thể tránh cô lập Biển Hồ với phần còn lại của hệ thống Mekong.  Theo cách nầy, nhịp mưa mùa, khiến sông chảy ngược hàng năm và mang vào hồ một lượng nước hơn 70 lần với chất hữu cơ và cá, có thể được bảo tồn.

Nước lũ và nước rút hàng năm của hồ tạo thành nhịp tim bơm sự sống cho toàn lưu vực Mekong.  Tiến trình nầy bị đe dọa bởi việc xây cất và các kế hoạch cho các đập thủy điện và thủy nông ở thượng nguồn của Biển Hồ ở Cambodia, Lào, Việt Nam và Trung Hoa.  Đập và các công trình xây dựng khác sẽ ngăn chận hay giảm lưu lượng trong sông Mekong, làm giảm lượng nước, cá và chất dinh dưỡng chảy vào Biển Hồ hàng năm và giới hạn khả năng tìm nơi cư trú của cá ở thượng lưu.

Chỉ riêng ở Cambodia, sự liên kết của 11.000 km của hệ thống Mekong/Tonle Sap đã bị giảm 31% do việc xây cất 2 đập thủy điện và 6 hồ chứa thủy nông.

Sự liên kết của Biển Hồ và các phụ lưu Mekong ở Cambodia


Một trong những đập thủy điện đó, Hạ Sesan 400-MW, nằm ngay bên dưới hợp lưu của sông Sesan và Srepok, cắt đứt hơn 3.300 km phụ lưu với phần còn lại của hệ thống Mekong và Biển Hồ khi được hoàn tất vào năm 2017.  Máng cá được thêm vào bởi nhà xây đập, công ty quốc doanh Huaneng HydroLancang của Trung Hoa, dường như không đủ cho số lượng cá lên đến 30 tấn bơi qua trong một giờ trong mùa di ngư cao điểm.

Hơn thế, ngay cả số cá có thể vượt qua máng và sinh sản ở thượng lưu, trứng và ấu trùng trôi xuống hạ lưu để vào Biển Hồ bởi nhịp lũ hàng năm của Mekong có lẽ sẽ giảm và chết đi ở phía sau đập vì dòng nước chậm lại.  Một bài viết được hội đồng xét duyệt năm 2013 của Guy Ziy và đồng nghiệp, cứu xét ảnh hưởng của đập trên phụ lưu trong hệ thống Mekong, kết luận rằng đập Hạ Sesan 2 sẽ làm giảm hơn 9% số cá của Mekong.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các phụ lưu Mekong ở Cambodia đang được tuần tự xây đập mà không có kế hoạch tổng thể.  Xây đập ở phụ lưu (thay vì trên dòng chánh) có thể giảm 60% sự liên kết giữa Biển Hồ và phần còn lại của Mekong.  Hơn thế, việc xây các đập gây tranh cãi trên dòng chánh ở Sambor và Stung Treng có thể hủy diệt sự liên kết và chấm dứt nhịp đập của Biển Hồ.

Nhiều đập trong danh sách sắp được phát triển qua các biên bản ghi nhớ hay thỏa thuận chuyển nhượng với các nhà phát triển Trung Hoa.  Những đầu tư Trung Hoa nầy đóng vai trò như thế nào trong những năm sắp tới sẽ quyết định vận mệnh của Mekong ở Cambodia, sự sống còn của Biển Hồ và hàng chục triệu người phụ thuộc vào nó.

Chỉ có xây đập ở thượng lưu của Hạ Sesan 2 trong lãnh thổ Cambodia có thể là một giải pháp thực tiễn để bảo vệ Biển Hồ.  Một nghiên cứu cho thấy làm thế nào việc xậy đập nầy có thể sản xuất thêm trên 1.000 MW mà không có ảnh hưởng đến sự liên kết và sản lượng cá so với hiện nay.

Tuy nhiên, không nên cứu xét việc phát triển như thế ngoại trừ việc định cư của cộng đồng người thượng và thiểu số ở thượng lưu Hạ Sesan 2 được thanh thỏa.  Thành tích về định cư của Cambodia rất tồi tệ.
Dân làng ở đông bắc Cambodia, ảnh hưởng bởi Hạ Sesan 2, 
chào mừng Ngày Hành động Quốc tế vì Sông ngòi 
[Ảnh: International Rivers]

Vành đai điện mặt trời của khu vực?

Một cách khác, việc bành trướng thủy điện ở phía trên đập có thể được giảm hay thay thế bằng tiềm năng gió và mặt trời trong 2 tỉnh Mondulkiri và Ratanakiri của Cambodia, hay khai thác tài nguyên gió, mặt trời và sinh khối trên toàn vương quốc.

Cambodia có giá điện cao nhất trong toàn vùng Đông Nam Á, lên đến 0,25 USD/kW ở vùng đô thị, trong khi cư dân ở vùng nông thôn thường phải trả đến 0,80 USD/KW.  Cả nước hầu hết sử dụng máy phát điện diesel hay nhập cảng điện từ Việt Nam hay Thái Lan.  Áp lực để giảm giá điện, nhằm thúc đẩy kinh tế, đã đẩy Cambodia vào một hướng đi mới trong việc bành trướng sản xuất điện năng.

Cơ hội lớn nhất để đa dạng hóa năng lượng của Cambodia và chấm dứt phát triển thái quá thủy điện là những nguồn năng lượng tái tạo phi thủy điện.  Trên 65% lãnh thổ Cambodia, bức xạ mặt trời cao hơn 1.800 kWh/m2.  Như thế, nó có tiềm năng điện mặt trời lên đến 8.000 MW, so với tiềm năng thủy điện 10.000 MW của nước nầy.  Theo một nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Á Châu (Asian Development Bank (ADB)), tiềm năng điện gió của Cambodia có thể lên đến 6.500 MW.

Vào năm 2017, ADB loan báo việc hỗ trợ nhà máy điện mặt trời đầu tiên có công suất 10 MW ở Cambodia và tiếp theo, trong tháng 6 năm 2018, với đề nghị cho nhà máy 100 MW.  Từ đó đầu tư vào điện mặt trời đã trở nên một điểm nóng.  Vào tháng 1 năm 2019, Thủ tướng Hun Sen thăm Bắc Kinh và gặp nhà phát triển thủy điện Huaneng HydroLancang.  Thay vì ký kết thỏa ước cho các dự án thủy điện mới, ông đã đồng ý với điện mặt trời.
Mặc dù Cambodia chưa có những mục tiêu vững chắc cho việc phát triển điện mặt trời, những điều lệ và hướng dẫn mới cung cấp sự trong sáng cho các nhà đầu tư.  Thí dụ, những người tiêu thụ cao như các chung cư lớn, nhà máy và các cơ sở lớn có thể thiết trí điện mặt trời (trên 5 MW) trong khi nối kết với lưới điện quốc gia Cambodia.

Nhà máy xi măng Chip Mong Insee ở Kampot vừa thiết trí nhà máy điện mặt trời 9,8 MW trên nóc nhà và mặt nước của nhà máy.  Công ty tiện ích duy nhất của Cambodia, Điện lực Cambodge, cũng xúc tiến việc mua điện mặt trời từ các nhà sản xuất tư nhân.  Điều nầy có thể khiến cho việc sản xuất được phân phối đồng đều hơn trên cả nước và khuyến khích đầu tư tư nhân vào điện mặt trời.  Việc phát triển Luật Môi trường Quốc gia (National Environmental Code) cũng hỗ trợ các hệ thống điện mặt trời gia đình và giảm thuế cho các công ty sử dụng điện mặt trời.

Ngoài luật lệ, thách thức quan trọng đối với việc phát triển điện mặt trời là đất đai.  Cho phép “chuyển nhượng đất kinh tế” cho các nhà phát triển ngoại quốc, hầu hết là Trung Hoa, từ lâu được liên kết với các nỗ lực chiếm đất.  Một số chuyển nhượng đất đã bị thu hồi vì không phát triển và việc tái phân phối của chánh phủ, một số khác vẫn bỏ hoang vì giá nông sản vẫn thấp trong những năm vừa qua.  Một phần của những chuyển nhượng bị bỏ hoang, nếu được sử dụng, có thể dùng làm nhà máy điện mặt trời, đặc biệt ở những nơi có nhu cầu cao.

Bản đố dưới đây cho thấy hầu hết đất chuyển nhượng nằm trong vùng có nhiều bức xạ mặt trời thuận tiện cho việc thiết trí tấm điện mặt trời.

Chuyển nhượng đất kinh tế của Cambodia và tiềm năng điện mặt trời



Với sự trợ giúp của các nhà đầu tư ngoại quốc và các đối tác phát triển, hầu hết các quốc gia Mekong đang cứu xét một vai trò lớn hơn cho điện mặt trời và các nguồn năng lượng tái tạo phi thủy điện.  Mặc dù tầm quan trọng của năng lượng tái tạo trong việc giảm lượng phóng thích carbon càng ngày càng rõ hơn, vai trò mà năng lượng tái tạo phi thủy điện có thể đóng trong việc cải thiện các dịch vụ sinh thái, và lợi ích của tài nguyên thiên nhiên như nước và cá nước ngọt, vẫn còn bị xem thường.

Phúc trình của chúng tôi cho thấy làm thế nào để Cambodia có thể phát triển điện lực với một tầm nhìn lưu vực không chỉ để bảo tồn ngư nghiệp của Biển Hồ mà còn tạo cho mình một con đường để trở thành tiên phong trong các nỗ lực bảo tồn và khả chấp.

Brian Eyler and Courtney Weatherby – Bình Yên Đông lược dịch

.

Friday, October 18, 2019

Ngô Thế Vinh - Với Luang Prabang, từ 2007 Việt Nam đã ‘quy hàng’ chiến lược thủy điện Lào

16/10/2019


Khu vực dự kiến xây đập Luang Prabang 1410 MW trên dòng chính sông Mekong, chỉ cách thị trấn Luang Prabang 25 km.; hình chụp khúc sông Mekong chảy qua địa phận cố đô Luang Prabang, đã được UNESCO công nhận là Khu Di sản Thế giới / World Heritage Site từ nhóm lợi ích, và đã bị khuất phục và quy hàng trước chiến lược thủy điện của Lào. (Ngô Thế Vinh)

Với chính phủ Lào thì Biên bản Ghi nhớ – Memorandum of Understanding – năm 2007 về dự án thủy điện Luang Prabang với Việt Nam không thuần chỉ là một “quid pro quo – trao đổi dịch vụ giữa hai bên” nhưng có một ý nghĩa chiến lược lớn lao hơn một con đập rất nhiều: đó là Việt Nam đã bật tín hiệu đèn xanh đối với toàn chuỗi 9 con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào. Chính phủ Lào đã rất khôn ngoan hiểu rõ rằng từ nay 2007, trên thực tế – de facto, mọi phản đối của Việt Nam nếu có cũng chỉ là chiếu lệ; và giới am hiểu tình hình lưu vực sông Mekong đã thấy rõ một Hà Nội bị chi phối bởi các

Gửi tới 20 triệu cư dân ĐBSCL
không được quyền có tiếng nói
Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

CON DOMINO THỨ NĂM

Ngày 31/07/2019 chính phủ Lào chính thức gửi hồ sơ tới Ủy Hội Sông Mekong / MRC về dự án xây con đập dòng chính Luang Prabang với yêu cầu tiến hành thủ tục PNPCA ba giai đoạn: (1) Thủ tục Thông báo / Procedures for Notification, (2) Tham vấn trước / Prior Consultation, (3) Chuẩn thuận / Agreement. Thay vì ra thông báo ngay, MRC đã trì hoãn 7 tuần lễ sau mới đưa ra thông cáo báo chí về sự kiện này. Đến ngày 25/09/2019, MRC đã bào chữa cho quyết định im lặng 7 tuần lễ với lý do: “Thông báo của Lào gửi tới chưa đầy đủ để có thể tiếp cận với phần tổng quan của dự án / project overview và lộ trình tham khảo / roadmap for consultation, giúp quần chúng hiểu tốt hơn về dự án và tiến trình tham vấn.” Cũng vẫn ban Thư ký MRC giải thích tiếp, “Học được từ kinh nghiệm, lần này chúng tôi có kế hoạch thông báo chính thức khi có đủ những tài liệu cần thiết để quần chúng và các bên liên quan / stakeholders có thể khảo sát và đóng góp ý kiến cho tiến trình tham vấn thêm ý nghĩa. Chúng tôi sẽ duy trì cùng mức độ cởi mở và minh bạch / transparency trong suốt tiến trình tham vấn.” (2)


Luang Prabang, con Domino thứ 5, cũng là con đập dòng chính sông Mekong lớn nhất của Lào và điều rất nghịch lý: do công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation của Việt Nam là chủ đầu tư. Với 11 con đập dòng chính trên sông Lancang-Mekong thượng nguồn, Trung Quốc đã lưu trữ 40 tỉ mét khối nước, sản xuất 21300 MW điện; riêng Lào cũng lưu trữ 30 tỉ mét khối nước hàng năm và đang thực hiện giấc mơ trở thành “Bình điện Đông Nam Á / S.E. Asia’s Battery” bất chấp hậu quả môi sinh xuyên biên giới ra sao với hai quốc gia hạ nguồn là Cambodia và Việt Nam. [nguồn: Michael Buckley, cập nhật 2019 do Ngô Thế Vinh bổ sung]


TRAO ĐỔI GIỮA TOM FAWTHROP VÀ NGÔ THẾ VINH
Tom Fawthrop là một nhà báo Anh và nhà làm phim, từ năm 1979 đã từng sống lăn lộn 30 năm trong vùng Đông Nam Á, có tiếng nói bền bỉ chống lại các con đập thủy điện nhằm bảo vệ hệ sinh thái sông Mekong qua rất nhiều bài báo và các bộ phim phóng sự. Bài báo gần đây nhất trên báo Diplomat 26/8/2019 của Tom Fawthrop là: Something Is Very Wrong on the Mekong River, cho rằng hạn hán như năm nay sẽ trầm trọng hơn nữa nếu như các chính phủ trong lưu vực Mekong không thay đổi chính sách.

Và trong một email trao đổi với tiêu đề: Có mâu thuẫn khi Việt Nam đầu tư vào đập thủy điện mới ở Lào, Tom Fawthrop viết: “như anh Vinh đã biết, chính phủ Lào vừa thông báo cho MRC ý định tiến hành dự án đập Luang Prabang mà Hà Nội là nhà đầu tư chính, qua công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation, một quyết định sẽ làm cho cuộc sống của 20 triệu cư dân nơi ĐBSCL thê thảm hơn. Và anh nghĩ sao về nghịch lý này của Hà Nội?”
…
Và phần trả lời của người viết cho nhà báo Tom Fawthrop là: “Với một Việt Nam vừa thỏa hiệp vừa bị động từ sau 1975 cho tới nay. Việt Nam trước đó cũng đã xây những đập thủy điện với hồ chứa nơi các phụ lưu sông Mekong trên cao nguyên Trung phần, đi xa hơn nữa qua EVN Công ty quốc doanh Điện lực VN đã đầu tư vào đập thủy điện Hạ Sesan-2 của Cambodia… Hồ chứa những con đập phụ lưu của Việt Nam, Cambodia chẳng phải là vô can trong tình trạng thiếu nước khô hạn nơi ĐBSCL. Và nay, thêm một bước khổng lồ tiến xa hơn nữa, PetroVietnam Power Corporation, một công ty quốc doanh đã hợp tác với chính phủ Lào như một nhà đầu tư chính để tiến hành xây con đập Luang Prabang 1410 MW, với hồ chứa diện tích 90 km2 sản xuất 7380 Gwh và là con đập dòng chính thứ 5 lớn nhất của Lào. Ai cũng biết PetroVietnam Power Corporation vốn là một công ty của nhà nước với một lịch sử dài tai tiếng về tham nhũng đưa tới nhiều vụ bắt bớ tù tội của các viên chức cao cấp của công ty (5). Và Nhà nước Việt Nam luôn luôn bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, mà PetroVietnam Power Corporation là một điển hình. Và một câu hỏi khác được đặt ra là: Ủy ban Mekong Việt Nam sẽ phải ứng xử ra sao với tiến trình PNPCA về con đập Luang Prabang khi mà chính công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation lại là kẻ đầu tư chính? Một “chiến lược không chiến lược” lại có chính sách “nước đôi / double standard”, trước những tác hại hiển nhiên của các con đập trên sông Mekong và ĐBSCL: biến đổi dòng chảy, mất nguồn nước, mất nguồn phù sa và cá... không những Việt Nam đã không có tiếng nói quyết liệt ngăn chặn mà còn góp vốn đầu tư thực hiện dự án tai hại ấy, có thể ví như một hành động cầm súng tự bắn vào chân mình/ shoot oneself in the foot. Nói cho rõ hơn, thì đây là một hành động phản bội đối với đời sống của 20 triệu cư dân nơi ĐBSCL và cả với sự bất chấp vô cảm đối với quyền lợi của hơn 10 triệu cư dân Cambodia sống quanh Biển Hồ, cũng là trái tim của Cambodia. [Hết trích dẫn]

[BS Ngô Thế Vinh, tác giả cuốn CLCD BĐDS xuất bản từ năm 2000, cùng với nhóm Bạn Cửu Long, từng theo dõi và lên tiếng báo động liên tục về một Lưu Vực Sông Mekong và ĐBSCL trước nguy cơ. Và một bài viết cập nhật vào tháng 8/2019, với một nhận định khá bi đát là: Việt Nam đã bị thất thủ chiến lược trên địa bàn sông Mekong – và ĐBSCL đang đứng trước nguy cơ bị tan rã.] Viet Ecology Foundation
Bài viết dưới đây là một khai triển phần phát biểu của người viết với Tom Fawthrop về sự kiện Luang Prabang, đang được xem như một trái bom tấn nổ chậm / time-bomb mà Hà Nội ném trên đầu 20 triệu cư dân đang sống ngất ngư nơi ĐBSCL.

NHỮNG GÌ HÀ NỘI NÓI
Bấy lâu chính phủ Việt Nam đã từng bày tỏ mối quan tâm trong các tiến trình Tham vấn trước đối với những con đập dòng chính trên sông Mekong, do những tác động tiêu cực xuyên biên giới đối với các quốc gia hạ nguồn nhất là đối với ĐBSCL. Đối với con đập Xayaburi, là con đập dòng chính đầu tiên của Lào, chính phủ Việt Nam đã từng kêu gọi Lào “hoãn lại 10 năm” con đập Xayaburi và các con đập dòng chính khác.
Và gần đây nhất, chính Việt Nam kêu gọi sự quan tâm khai thác các nguồn năng lương tái tạo để thay thế cho thủy điện trong lưu vực sông Mekong, điều ấy có thể giúp “bảo vệ và khai thác bền vững nguồn tài nguyên nước sông Mekong, đồng thời tránh được những ảnh hưởng tác hại tiêu cực trên đời sống các cộng đồng cư dân ven sông.”

NHỮNG GÌ HÀ NỘI LÀM
Việt Nam sau khi đã xây tràn lan những con đập thủy điện lớn nhỏ thiếu tiêu chuẩn an toàn môi trường trên khắp lãnh thổ Việt Nam, phá hủy cả một hệ thống sông ngòi và cũng là cơn ác mộng của bao nhiêu triệu cư dân sống quanh các con đập.
Do Việt Nam, còn rất ít tiềm năng thủy điện ở các con sông trong nước nên Hà Nội đã hướng sang nước láng giềng Lào. Từ năm 2007, theo VOA [25/12/2007] có thể là sớm hơn, Việt Nam đã lập kế hoạch xây nhiều đập thủy điện trên lãnh thổ Lào; (4) trong đó có cả dự án đập thủy điện Luang Prabang lớn nhất trong số 9 con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào với kinh phí lên đến trên 2 tỉ đôla, ước tính theo thời giá lúc bấy giờ.

Với một Biên bản Ghi nhớ / Memorandum of Understanding (MoU) về Dự án đập thủy điện Luang Prabang đã được ký kết từ 2007 giữa công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation và chính phủ Lào, theo hãng thông tấn AFP trích đăng các nguồn tin từ Việt Nam cho biết công ty PetroVietnam Power Corporation đang hoàn thành luận chứng về kinh tế kỹ thuật cho dự án xây dựng đập thủy điện Luang Prabang gần cố đô của Lào. (4)
Lào, vốn được xem là một trong những nước nghèo Châu Á, đang xông xáo đi tìm các nguồn đầu tư nhằm tận dụng khai thác tiềm năng thủy điện từ các con sông chảy qua địa hình rất nhiều đồi núi của đất nước này. Từ ước mơ giàu có và trở thành một “nhà máy cung cấp điện của khu vực” với khách hàng láng giềng chính là Việt Nam và Thái Lan, là hai quốc gia đang có nhu cầu năng lượng điện có nền công nghiệp đang phát triển.

Cho dù đã được các nhà bảo vệ môi trường cảnh báo rằng xây dựng các đập thủy điện lớn sẽ tàn phá sinh cảnh của các con sông, cưỡng bách bao nhiêu chục ngàn cư dân địa phương phải di dời, gây tác hại nghiêm trọng đối với hệ sinh thái, làm mất nguồn cá, cả đe dọa diệt chủng một số loại cá hiếm quý như cá Pla Beuk, và cá heo Irrawaddy, nghiêm trọng hơn nữa là đe dọa an ninh lương thực trong toàn lưu vực.

Và hơn ai hết, Hà Nội biết rất rõ ĐBSCL, một vựa lúa của cả nước và Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn, sẽ gánh chịu tất cả hậu quả tác hại tích lũy xuyên biên giới từ những con đập thượng nguồn ra sao đối với nguồn nước, nguồn phù sa, nguồn cá, và thảm họa nước biển dâng càng trầm trọng hơn nữa khi thiếu nguồn nước ngọt đổ xuống từ khúc sông Mekong thượng nguồn. Xa hơn nữa, không còn nguồn phù sa, ĐBSCL sẽ theo một tiến trình đảo ngược thay vì được bồi đắp thì sẽ dần dần tan rã.

VỚI MoU LUANG PRABANG 2007
VIỆT NAM ĐÃ QUY HÀNG CHIẾN LƯỢC THỦY ĐIỆN CỦA LÀO

Hơn một lần người viết đã nhắc tới bước sai lầm chiến lược thứ nhất của Việt Nam khi ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đặt bút ký Hiệp định Ủy Hội Sông Mekong 1995 với 4 nước Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam chấp nhận từ bỏ quyền phủ quyết / veto power [có nghĩa là mỗi dự án phải có sự đồng thuận tuyệt đối / unanimous agreement], một điều cơ bản đã có trong quy định của Ủy Ban Sông Mekong 1957 / Mekong River Committee [hay còn có tên gọi: Statute of the Committee for Coordination of Investigations of the Lower Mekong, Basin Statute]. Và ai cũng biết Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn, sẽ gánh chịu tất cả những hậu quả tích lũy từ các con đập thượng nguồn.
Đến tháng 10/2007, tức 12 năm sau Việt Nam lại phạm vào bước sai lầm chiến lược thứ hai khi để cho công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation ký kết một Biên bản Ghi nhớ / A Memorandum of Understanding (MoU) với chính phủ Lào về Dự án đập thủy điện Luang Prabang. Lúc đó những dự án chuỗi 9 con đập dòng chính của Lào mới chỉ có trên giấy: chưa có Xayaburi, Don Sahong, Pak Beng, Pak Lay…

Kể từ đầu năm 2006, các công ty Trung Quốc, Thái Lan, và Mã Lai được phép tiếp tục thực hiện những cuộc khảo sát về tính khả thi / feasibility của những con “đập dòng chảy / run-of-river” thuộc Lưu Vực Dưới sông Mekong; thứ tự những dự án đập ấy từ bắc xuống nam: [Hình 1]

1.      Đập Pak Beng, Lào 1320 MW; bảo trợ dự án: công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co. và chánh phủ Lào.
2.      Đập Luang Prabang, Lào 1410 MW; bảo trợ bởi PetroVietnam Power Corporation và chánh phủ Lào.
3.      Đập Xayaburi, 1260 MW, tỉnh Xayaburi, Lào; bảo trợ bởi công ty Thái Lan Ch. Karnchang và chánh phủ Lào.
4.      Đập Pak Lay, Lào, 1320 MW tỉnh Xayaburi; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Sinohydro Co. tháng 6, 2007 để khảo sát của dự án.
5.      Đập Xanakham, Lào, 1000MW; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co.
6.      Đập Pak Chom, biên giới Lào Thái, 1079 MW
7.      Đập Ban Koum, biên giới Lào Thái, 2230 MW, tỉnh Ubon Ratchathani; bảo trợ bởi Italian-Thai Development Co., Ltd và Asia Corp Holdings Ltd. và chánh phủ Lào.
8.      Đập Lat Sua, Lào, 800 MW; bảo trợ bởi Charoen Energy and Water Asia Co. Ltd. /Thái Lan và chánh phủ Lào.
9.      Đập Don Sahong 360 MW, tỉnh Champasak, Lào: được bảo trợ bởi công ty Mã Lai Mega First Berhad Co. thực chất phía sau là một công ty “Trung Quốc”.
10. Đập Stung Treng, Cam Bốt, 980 MW; bảo trợ bởi chánh phủ Nga
11. Đập Sambor, Cam Bốt; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc”/ China Southern Power Grid Co./ CSG.

Với chính phủ Lào thì Biên bản Ghi nhớ – Memorandum of Understanding – ký kết năm 2007 về dự án thủy điện Luang Prabang với Việt Nam không thuần chỉ là một “quid pro quo – trao đổi dịch vụ giữa hai bên” nhưng có một ý nghĩa chiến lược lớn lao hơn một con đập rất nhiều, đó là: Việt Nam đã bật tín hiệu đèn xanh đối với toàn chuỗi 9 con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào. Chính phủ Lào đã rất khôn ngoan hiểu rõ rằng từ nay 2007, trên thực tế – de facto, mọi phản đối của Việt Nam nếu có cũng chỉ là chiếu lệ; và giới am hiểu tình hình lưu vực sông Mekong đã thấy rõ một Hà Nội bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, và đã bị khuất phục và quy hàng trước chiến lược thủy điện của Lào.

ĐẬP LUANG PRABANG VÀ MỐI QUAN TÂM VỀ MÔI SINH

KS Phạm Phan Long, sáng lập Hội Sinh Thái Việt / Viet Ecology Foundation có trụ sở tại California Hoa Kỳ hoạt động từ hơn 20 năm qua, phát biểu:
“Lào ngang nhiên tuyên bố sẽ xúc tiến dự án thủy điện Luang Prabang. Việt Nam tham gia làm đối tác, góp phần vốn nhiều nhất trong dự án. VN mất hết cơ sở pháp lý để phản đối Lào về bất cứ dự án thủy điện khác. Lào và nhóm kỹ sư cố vấn cổ võ cho thủy điện thường tuyên truyền trấn an dân cư là các thang cá / fish ladder sẽ bảo tồn các đoàn di ngư, nhưng trên 40 năm kinh nghiệm thủy điện Hoa Kỳ với cá hồi, loài di ngư lừng danh nhất đang trên đà suy thoái dần đến tuyệt chủng, các chuyên gia cho rằng sẽ phải phá gỡ cả bốn đập trên sông Columbia để cứu chúng. Lào xem thủy điện như là ân sủng thiên nhiên, là nguồn kinh tế “vạn đại dung thân”, cũng đã mướn chuyên gia làm thang cá, nhưng cá Mekong không biết nhảy qua thang cá, với kinh nghiệm thang cá đập Pak Mun trên một phụ lưu sông Mekong của Thái Lan. [Hình 3] Kinh nghiệm đắt giá thủy điện Columbia đang rơi vào bế tắc, dù trải qua mấy thập niên huy hoàng, nhưng nay không thể ngờ lại sắp bị tê liệt vì hệ quả sinh thái tiềm ẩn, chi phí ngày càng tăng, thu nhập giảm vì công nghệ cổ điển, lỗi thời. https://www.eenews.net/stories/1061110823

Mẫu thang cá / fish ladder vô dụng của đập Pak Mun; nay lại được đưa vào thiết kế cho con đập dòng chính Xayaburi. [Nguồn: International River]

Đây là bài học lớn cho Lào và Việt Nam để kịp nghĩ kỹ lại, trước khi để Thái Lan mang trang bị máy móc vào xây đập Luang Prabang. VN cần thức tỉnh.” Thêm nữa, thủy điện đang bị thách thức bởi năng lượng tái tạo từ gió và mặt trời, sạch và vô tận, trẻ trung hiện đại và chỉ cần 1 năm sinh ra là chúng trưởng thành hoạt động, và rất rẻ.”

Đặng Thùy Trang thuộc tổ chức Quỹ Động Vật Hoang Dã / WWF trong chương trình phát triển thủy điện bền vững ở Lào khi nói về “thang cá” đã phát biểu: “Chúng ta không nên dùng sông Mekong như phòng thí nghiệm để trắc nghiệm kỹ thuật này.” Nay cũng vẫn mẫu thang cá vô dụng ấy, được đưa vào thiết kế cho con đập dòng chính Xayaburi như một trang trí thay vì là một đáp số cho những đoàn di ngư ở một quy mô lớn lao hơn rất nhiều.

TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu về Biến đổi khí hậu (Dragon Institute – Mekong), Đại học Cần Thơ, phát biểu:
“Điều rất tệ hại nếu một công ty Quốc doanh Việt Nam tham gia đầu tư bất kỳ dự án thủy điện nào ở dòng chính sông Mekong. Sự kiện này phải được xem là một hành động cực kỳ nghiêm trọng, dẫn nhanh đến sự hủy hoại hệ sinh thái và cuộc sống ở Hạ lưu Đồng bằng Sông Cửu Long. Các quan chức Việt Nam đồng lõa với quyết định hợp tác xây dựng dự án thủy điện Luang Prabang phải chịu trách nhiệm lịch sử và chính trị với nhân dân Việt Nam.”

Maureen Harris, hiện là giám đốc chương trình Đông Nam Á của International River nhận định:
“Tôi bất bình về quyết định của Lào, đồng thời cũng chỉ trích nước này đã không hợp tác trong những kế hoạch phát triển mang tính chất vùng – more regional approach. Bằng chứng khoa học về những tác động tích lũy của những dự án đập này rất rõ ràng. Các tác hại bao gồm: hủy hoại nguồn cá, mất phù sa và làm biến đổi dòng chảy – đưa tới đe dọa an toàn lương thực và sinh cảnh sống của các cộng đồng cư dân trong lưu vực.”

Harris đã trả lời ký giả Andrew Nachemson, thuộc hãng thông tấn Al Jazeera như trên qua một email. Cô cũng nêu ra câu hỏi về hiệu quả của tiến trình tham vấn trước (Prior Consultation) có dám đối đầu với những nan đề đặt ra không: “Không đáp ứng mối quan tâm của quần chúng là một thực trạng đang diễn ra, đã đưa tới sự tẩy chay – boycott, đối với giai đoạn tham khảo trước của con đập Pak Lay”. Harris tiếp (1)

Brian Eyler, Giám đốc chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Stimson, tác giả cuốn sách Last Days of the Mighty Mekong 2019, cũng bày tỏ mối quan tâm về dự án Luang Prabang, Eyler đặt ra câu hỏi: “Liệu con đập Luang Prabang này có là một dự án con voi trắng / bạch tượng / white elephant project của chính phủ Lào?” (ghi chú của người viết: con voi trắng / bạch tượng được xem là biểu tượng của sự may mắn, giàu có, và sự thịnh vượng).
Cũng Brian Eyler tiếp: “Tại sao lại đồng ý với con đập dòng chính Luang Prabang này khi mà rõ ràng con đập dòng chính Xayaburi đầu tiên đã gây tình trạng hạn hán gia tăng nơi hạ nguồn?”

Toàn lưu vực sông Mekong đã trải qua một Mùa Khô kéo dài lẽ ra được kết thúc với Mùa Mưa năm nay. Nhưng do những con đập thượng nguồn giữ nước đã khiến cho tình trạng hạn hán thêm tệ hại hơn.

Ngày 23/09/2019 rất sớm các tổ chức NGOs xã hội dân sự của Thái Lan cũng đồng loạt lên tiếng chống lại dự án thủy điện Luang Prabang của Lào. (6)
Ngày 8/10/2019 Liên Minh Cứu Sông Mekong / Save The Mekong Coalition mạnh mẽ lên tiếng kêu gọi Hủy dự án Luang Prabang và các con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào. (7)

Ngày 10/10/2019 Mạng Lưới Sông Việt Nam / Vietnam River Network cũng có một Thông cáo báo chí nhưng chỉ với đề nghị yếu ớt hơn: yêu cầu Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) và các cơ quan chức năng xem xét lại việc đầu tư vào dự án Thủy điện Luang Prabang tại Lào. (8)

Còn với 20 triệu cư dân nơi ĐBSCL thì sao? Như từ bấy lâu, họ vẫn bị thiếu thốn thông tin và không được quyền có tiếng nói cho dù đó là “lẽ sống còn” của họ.

THAY LỜI KẾT: MÔI SINH VÀ DÂN CHỦ

Không phải bây giờ mà từ tháng 10/2007, cách đây 12 năm khi Hà Nội cho phép công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation ký bản Biên bản Ghi nhớ MoU với chính phủ Lào đầu tư xây con đập Luang Prabang, con đập dòng chính lớn nhất của Lào, cũng có nghĩa là Việt Nam đã gửi đi một tín hiệu “bật đèn xanh” cho toàn 9 dự án đập dòng chính của Lào.

Sự kiện này có thể ví như Hà Nội quyết định ném lên đầu 20 triệu cư dân đang sống ngất ngư nơi ĐBSCL những chuỗi bom tấn nổ chậm / time bomb, phá hoại không chỉ cuộc sống hiện tại của họ mà cả những thế hệ tương lai.

Việt Nam khi đặt bút ký trên vào Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong 1995: “Các quốc gia thành viên ký kết cùng đồng ý là bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường… do phát triển và sử dụng Lưu vực Sông Mekong.” Nhưng điều cơ bản ấy chưa hề được các quốc gia Mekong tôn trọng, trong đó phải kể cả quốc gia Lào nhỏ bé nhưng hung hãn do được chống lưng bởi nước lớn Trung Quốc.

Trong một tương lai không xa, con sông Mekong - con sông Danube của Châu Á ấy, sẽ chỉ còn là một con sông chết, chỉ để sản xuất thủy điện, dùng làm thủy lộ giao thông.
Rồi nhìn về Việt Nam với hình ảnh ước lệ của hơn nửa thế kỷ trước về một Đồng Bằng Sông Cửu Long, với ruộng vườn thẳng cánh cò bay, tôm cá đầy đồng - thì rồi ra tất cả đã đi vào quá khứ. Chỉ mới đây thôi có dịp trở lại viếng thăm, để chỉ thấy trên toàn cảnh là một ĐBSCL đang rất nhanh trên đà suy thoái và cứ nghèo dần đi. Và không biết một trăm năm sau, liệu có còn không một Đồng Bằng Sông Cửu Long và một Nền Văn Minh Miệt Vườn?

Rồi nhìn vào toàn cảnh các quốc gia trong lưu vực Sông Mekong từ Trung Quốc xuống tới Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam cho dù mang những tên gọi khác nhau nhưng đó vẫn là những đất nước chưa có dân chủ, vẫn là những “xã hội hình tháp – social pyramid” nói theo ngôn từ của nhà xã hội học Miến Kyaw Nyein, với đỉnh tháp là thiểu số thống trị và dưới đáy vẫn là đa số những người dân nghèo khổ bị khai thác và bóc lột.

Từ năm 2000, người viết cũng đã đưa ra nhận định: “Và hiển nhiên không có giải pháp đơn lẻ cho vấn đề môi sinh mà phải là bước chuyển hóa cơ bản và đồng bộ của các hệ thống xã hội từ “Toàn Trị” tiến lên “Dân Chủ”. Có dân chủ là có cơ hội mở mang dân trí và chính cư dân sống hai bên bờ sông Mekong sẽ có ý thức và tiếng nói bảo vệ dòng sông như là mạch sống của chính họ. Và người dân sẽ có cơ hội đồng đều, có quyền được uống một ngụm nước trong lành, được hít thở một bầu không khí tinh khiết và có tự do, đó chính là “nhân quyền” chỉ có được trong một đất nước dân chủ.”

Vấn đề cốt lõi: Môi Sinh và Dân Chủ sẽ mãi mãi là một “Bộ Đôi Không Thể Tách Rời / Inseparable Duo.”

NGÔ THẾ VINH
Columbus Day, 14.10.2019

Source:

THAM KHẢO:

1/ Laos to go ahead with Luang Prabang dam project despite warnings, by Andrew Nachemson, 24 Sept 2019

2/ Mekong River Commission Defends Seven-Week Silence on Lao Dam Project Submission. 2019-09-25

3/ Laos' Luang Prabang dam reaches key development stage by Ekaphone Phouthonesy; 3 October 2019 http://annx.asianews.network/content/laos-luang-prabang-dam-reaches-key-development-stage-105442

4/ Việt Nam lập kế hoạch xây nhiều đập thủy điện trên lãnh thổ Lào; VOA 25/12/2007; https://www.voatiengviet.com/a/a-19-2007-12-25-voa17-81755767/795551.html


6/ Thai NGOs Speak Out Against Proposed Dam in Laos 2019-09-23; https://www.rfa.org/english/news/laos/laos-luang-prabang-dam-mekong-09232019161400.html

7/ Save the Mekong Coalition Calls for the Cancellation of the Luang Prabang Dam. https://www.rfa.org/english/news/laos/save-mekong-coalition-luang-prabang-10082019144557.html

8/ Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam lên tiếng về việc xây dựng Thủy điện Luang Prabang. Thông cáo Báo chí: Ngày 10 Tháng 10 năm 2019 https://tapchilaoviet.com/tin-bai-noi-bat/mang-luoi-song-ngoi-viet-nam-len-tieng-ve-viec-xay-dung-thuy-dien-luang-prabang-10685.htmlShare424



Tuesday, October 15, 2019

ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN TRONG LƯU VỰC SÔNG LANCANG VÀ HẠ MEKONG


(China’s Influence on Hydropower Development in the Lancang River and Lower Mekong River Basin)


Nathaniel Matthews và Stew Motta – Bình Yên Đông lược dịch
CGIAR Challenge Program on Water and Food – July 2013


Mạn Loan, đập đầu tiên trên sông Lancang ở Trung Hoa [Ảnh: Mapio.net]


Tại sao Trung Hoa phát triển thủy điện trong lưu vực sông Lancang và Hạ Mekong?

Trung Hoa dẫn đầu thế giới trong việc xây dựng thủy điện.  Trong Kế hoạch 5 Năm thứ 12 (2011-2015), Trung Hoa loan báo ý định bành trướng khả năng thủy điện của mình qua việc phát triển 8 vùng thủy điện với trên 60 dự án thủy điện đại qui mô, nâng tổng số công suất thiết trí của thủy điện lên đến 284 GW (GEV 2011).

Một bộ phận quan trọng của việc phát triển thủy điện ở trong nước và chiến lược năng lượng của Trung Hoa là việc xây dựng chuỗi Lancang nằm trong tỉnh Vân Nam.  Sông Lancang1, chính là Sông Mekong khi chảy ra khỏi biên giới phía nam của Trung Hoa, có một tiềm năng thủy điện 30.000 MW.  Để khai thác cái tiềm năng nầy, chánh phủ Trung Hoa có kế hoạch xây dựng một chuỗi gốm 8 đập trên dòng chánh Lancang, với 5 đập đang hoạt động.  Khi hoàn tất, chuỗi đập nầy có thể sản xuất 15.720 MW hay 52,4% tiềm năng thủy điện của Lancang (Grumbine, Dore and Xu, 2012).  20 đập khác đang được dự trù hay xây cất trên các phụ lưu của Lancang (Kummu and Varis, 2007).

Với điện giá rẻ, việc phát triển thủy điện dọc theo Lancang tạo cơ hội cho việc phát triển kinh tế ở các thành phố kỹ nghệ như Côn Minh (Kunming) và Quảng Châu (Guangzhou).  Thủy điện là một trong 5 trụ cột của kinh tế Vân Nam.  Nó được xem như là nguồn năng lượng sạch và một bộ phận quan trọng để Trung Hoa giảm bớt sự lệ thuộc nặng nề vào nhiên liệu hóa thạch và việc phóng thích CO2, hiện cao nhất trên thế giới.  Theo Thống kê Nhanh của Kỹ nghệ Điện lực Quốc gia, công suất thủy điện thiết trí trong năm 2010 chiếm 22,18% tổng số năng lượng cung ứng.

Nhưng ảnh hưởng thủy điện của Trung Hoa không giới hạn ở Lancang.  Trung Hoa cũng là một diễn viên chánh trong việc phát triển thủy điện ở Hạ lưu Mekong (Lower Mekong Basin (LMB)).  Qua các công ty như Công ty Điện Nước Quốc tế Trung Hoa (China International Water and Electric Coorporation), HydroLancang và Sinohydro, Trung Hoa đang tham gia vào hàng chục đập ở LMB gồm có đập Hạ Sesan 2 (400 MW) ở Cambodia vừa mới loan báo.  Những đập nầy tạo cơ hội cho Trung Hoa xuất cảng chuyên môn, gia tăng ảnh hưởng chánh trị, phát triển liên lạc mậu dịch, và tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp nhà nước (state-owned enterprises (SOEs)).  Đối với các quốc gia chủ nhà, những dự án nầy bơm tài chánh vào nền kinh tế quốc gia, và cung cấp hạ tầng cơ sở và điện lực.  Những đập nầy, do đó, được các nhà phát triển Trung Hoa xem như là những dự án “ai cũng có lợi (win-win).”

Kết luận: 
Chuỗi đập Lancang là một bộ phận quan trọng trong kế hoạch của Trung Hoa để phát triển năng lượng giá rẻ, tái tạo và ít carbon để cung ứng cho nhu cầu điện năng ngày càng tăng ở trong nước.  Phát triển thủy điện ở LMB tạo cơ hội cho Trung Hoa gia tăng ảnh hưởng chánh trị và kinh tế của mình trong lưu vực và để các SOEs tăng lợi nhuận và xuất cảng chuyên môn về thủy điện.

Vài nét về Phát triển Thủy điện Lancang

Phát triển thủy điện trên Lancang bắt đầu từ năm 1956, khi Công ty Kiến tạo HydroChina Kunming (HydroChina Kunming Engineering Corporation (HCKEC)) khởi sự nghiên cứu vị trí đập.  Từ 1957-58, HCKEC xác định 21 vị trí có tiềm năng dọc theo sông, và hoạch định sơ khởi cho đập Tiểu Loan (Xiaowan).  Do bất ổn chánh trị và kinh tế vì Bước Nhảy Vọt (Great Leap Forward) và Cách mạng Văn hóa (Cultural Revolution), quy hoạch thủy điện được tạm ngừng cho đến cuối thập niên 1960s.

Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, năm 1988, việc xây cất bắt đầu ở đập Mạn Loan (Manwan), đập đầu tiên trên dòng chánh Lancang-Mekong, mà không được thông báo với các quốc gia ở hạ lưu.  Từ thập niên 1990s đến 2000s, việc phát triển thủy điện của Trung Hoa dọc theo sông Lancang đã tiến triển nhanh chóng, và đến năm 2008, có 4 đập trên dòng chánh đã hoạt động: Mạn Loan (1.550 MW) bắt đầu hoạt động từ năm 1992; Đại Chiếu Sơn (Dachaoshan) (1.350 MW) trong năm 2003; Cảnh Hồng (Jinghong) (1.750 MW) năm 2008 và Tiểu Loan (4.200 MW) năm 2010.  Tính đến tháng 6 năm 2013, Nọa Trác Độ (Nuozhadu (5.850 MW) đã hoạt động, nhưng chưa vận hành tất cả máy phát điện, và Công Quả Kiều (Gongguoqiao) (750 MW) đang được xây cất.

Sự phát triển nhanh chóng của Lancang từ năm 2000 trùng hợp với việc thành lập Công ty Phát triển Thủy điện Yunnan Lancang (Yunnan Lancang Hydropower Development Corporation (YLHDC) vào năm 2001.  Trước năm 2001, trách nhiệm phát triển Lancang được chia sẻ bởi Hội đồng Quy hoạch Phát triển Tổng hợp Yunnan Lancang (Yunnan Provincial Lancang Integrated Development Planning Commission), Bộ Năng lượng (Ministry of Energy (MoE)) và Công ty Đầu tư Năng lượng Trung Hoa (China Energy Investment Corporation).  Vào năm 2001, YLHDC có trách nhiệm tổng quát trong việc phát triển chuỗi đập Lancang.  Vào năm 2002, YLHDC được đổi tên là Công ty Thủy điện Sông Lancang Huaneng (Huaneng Lancang River Hydropower Corporation (HLHC).

HLHC là một công ty cổ đông của Tập đoàn Huaneng Trung Hoa (China Huaneng Group (CHG)), Tập đoàn Hongta (Hongta Group (HG)) và Công ty Đầu tư Vân Nam (Yunnan Investment Corporation (YIC)).  CHG là một công ty quốc doanh dưới quyền của Chánh phủ Trung ương Trung Hoa, và là một trong 5 công ty lớn nhất trong ngành thủy điện.  HG là một công ty quốc doanh cùng với Tobacco Trung Hoa (China Tobacco).  HG kiểm soát một số hiệu thuốc lá lớn nhất ở Vân Nam và có danh sách đầu tư ngày càng tăng bao gồm năng lượng, xây dựng, an ninh, sản suất giấy, dược phẩm, hóa học nhẹ, và tiếp tân.  Trong Phúc trình Doanh nghiệp Mạnh nhất 2010 của Trung Hoa, HG đứng đầu ở Vân Nam và thứ 104 trên toàn quốc (ETMOC 2010).  YIC là một công ty đầu tư của Tỉnh Vân Nam.

Kết luận: 
Sự phát triển nhanh chóng của chuỗi đập Lancang từ năm 2000 trùng hợp với sự hoán chuyển trách nhiệm từ Hội đồng Quy hoạch Phát triển Tổng hợp Yunnan Lancang, Bộ Năng lượng và Công ty Đầu tư Năng lượng Trung Hoa qua Công ty Thủy điện Sông Lancang Huaneng (HLHC).  HLHC là một công ty quốc doanh có thế lực với một danh sách đầu tư đa dạng.

Hậu quả của thủy điện Lancang đối với chánh trị, kinh tế và môi trường ở hạ lưu ra sao?

Mặc dù Trung Hoa có quan hệ chánh trị, kinh tế và môi trường với LMB, tất cả các đập hiện hữu trên Lancang được hoàn tất đơn phương mà không có tham vấn với hạ lưu.  Điều nầy khiến cho các quốc gia ở hạ lưu lên tiếng phản đối.  Những phản đối nầy lên đến cực điểm trong mùa khô 20102, khi mực nước sông Mekong xuống thấp ở hạ lưu Trung Hoa trùng hợp với việc trữ nước ở các đập Lancang (Hirsch 2010).  Trung Hoa nói mực nước thấp là do hiện tượng thời tiết khô bất thường chứ không phải do các đập, nhưng đồng ý gia tăng chia sẻ dữ kiện về lưu lượng và việc xả nước, và cải thiện đối thoại với các quốc gia duyên hà ở hạ lưu.

Goh (2009) thừa nhận rằng việc phát triển chuỗi đập Lancang của Trung Hoa có những hậu quả chánh trị và sinh thái đối với các cộng đồng ở hạ lưu.  Nhưng Trung Hoa vẫn khẳng định rằng “bất cứ hoạt động nào nhằm khai thác tiềm năng của Mekong thuần túy là chuyện nội bộ” (Dupont 2001:129).

Tuy nhiên, những phản đối ở hạ lưu năm 2010 khiến cho Trung Hoa phải chánh thức tuyên bố rằng bất cứ việc phát triển thủy điện trên sông sẽ cứu xét kỹ lưỡng ảnh hưởng ở hạ lưu (China Daily 2012).  Tuyên bố còn thêm rằng lợi ích của đập gồm có ngừa lụt và cải thiện việc sử dụng nước và cứu hạn ở hạ lưu bằng cách trữ nước trong mùa mưa và xả nước trong mùa khô (China Daily 2012).  Trung Hoa có luật lệ rộng rãi để giám sát việc phát triển thủy điện, gồm có Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Đánh giá Ảnh hưởng Môi trường, Luật về Nước của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (People’s Republic of China (PRC)), Luật Bảo tồn Đất và Nước của PRC, và Quy định về Tài nguyên Thiên nhiên của PRC.  Nhưng những luật lệ nầy không có mấy điều khoản nói về ảnh hưởng xuyên biên giới của các đập thủy điện.

Tuy thế, một số nghiên cứu cho thấy chuỗi đập của Trung Hoa sẽ làm mực nước giảm 30% đến tận thành phố Vientiane của Lào PDR (People’s Democratic Republic (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân)), gia tăng sự xâm nhập của nước mặn vào châu thổ và ngăn chận phù sa, ảnh hưởng sâu xa đến ngư nghiệp, nông nghiệp và đời sống trong toàn thể LMB (Kummu and Varis 2007; Räsänen et al. 2012; etc.).

Lưu vực Lancang là một nguồn phù sa quan trọng của LMB.  Gần ½ chiều dài của sông Mekong chảy qua Trung Hoa.  Nó chiếm 35% lưu lượng trong mùa khô và trên 55% lượng phù sa, do đó thiết yếu cho hệ sinh thái của toàn lưu vực (Kummu and Varis 2007; CPWF SOK Mekong Sediment Basics 2013).  Đặc điểm của thủy học Mekong là những nhịp lũ (flood-pulse) đẩy phù sa giàu dinh dưỡng qua hệ thống trong mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10.  Chất dinh dưỡng nầy hỗ trợ cho các dịch vụ sinh thái và sản suất nông nghiệp của khu vực mà đa số người dân trong vùng tùy thuộc vào (Kummu and Varis 2007).  Trên lý thuyết, 8 đập của chuỗi Lancang có thể giữ lại 94% lượng phù sa của sông (Kummu and Varis 2007).

Bồi lắng cũng là yếu tố quan trọng đối với những người thiết kế đập vì nó làm giảm tuổi thọ và khả năng vận hành của đập do khả năng chứa nước bị giảm.  Độ xói mòn trong lưu vực Lancang rất cao, ảnh hưởng đến tuổi thọ của đập dọc theo sông.  Lượng phù sa ở Mạn Loan rất cao, 1,21 kg/m3 (Plinston and Damming, 1999:238).  Nếu không can thiệp, dung tích “chết” của hồ Mạn Loan sẽ đầy trong vòng 15-20 năm, nhưng việc xây đập Tiểu Loan ở thượng lưu sẽ kéo dài tuổi thọ của Mạn Loan vì khả năng giữ phù sa của đập nầy (ibid).

Sự bồi lắng cũng có thể gây thiệt hại cho máy phát điện, mà việc sửa chữa rất tốn thì giờ và tiền bạc.  Các cửa xả phù sa có thể được thiết trí để tống phù sa xuống hạ lưu, nhưng chúng phải được lưu ý ngay từ đầu.  Chúng cũng tốn kém và có thể làm giảm tiềm năng thủy điện của dự án (Xin xem chi tiết về bồi lắng và ảnh hưởng trong lưu vực Mekong ở CPWF SOK Mekong Sediment Basics).

Về chánh trị, chuỗi đập Lancang cho phép Trung Hoa kiểm soát số lượng nước chảy xuống LMB.  Điều nầy cực kỳ quan trọng đối với sinh kế, an ninh lương thực và kinh tế của Lào, Cambodia và Việt Nam.  Räsänen et al. (2012) nhận thấy rằng chuỗi đập Lancang gia tăng lưu lượng trong mùa khô từ 34 đến 155% và giảm lưu lượng trong mùa mưa từ 29 đến 36%, do đó, thay đổi thời biểu và biên độ của nhịp lũ.  Ảnh hưởng của các đập hiện hữu đối với ngư nghiệp và thủy học, trong lưu vực và ở châu thổ, chưa được hiểu rõ, nhưng sẽ được các quốc gia ở hạ lưu theo dõi sát sao trong nhiều năm sắp tới.

Chưa có những thỏa thuận chánh thức giữa chánh phủ Trung Hoa và các nước ở hạ lưu về việc quản trị lưu vực.  Trung Hoa chỉ có “tư cách đối thoại” với Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)), là tổ chức lưu vực sông (river basin organization (RBO)) chánh yếu trong khu vực, được chia sẻ dữ kiện thủy học của Lancang, nhưng cho đến nay vẫn từ chối tham gia như một thành viên.  Mặc dù lập trường về chuỗi đập Lancang là một vấn đề quốc gia và không muốn thảo luận, Trung Hoa vẫn tiếp tục giao kết với các quốc gia ở hạ lưu trong chánh sách phát triển thủy điện.

Các chánh phủ ở hạ lưu cũng miễn cưỡng thảo luận với Trung Hoa về ảnh hưởng của chuỗi đập Lancang vì thế lực quân sự và chánh trị của nước nầy cùng với những khoản đầu tư và viện trợ khổng lồ vào LMB.

Kết luận: Trung Hoa dàn dựng việc phát triển thủy điện như một tình huống có lợi cho họ và các quốc gia ở hạ lưu.  Chuỗi đập Lancang ngăn chận phù sa và cho phép Trung Hoa kiểm soát lưu lượng trong mùa khô.  Điều nầy có thể có hậu quả nghiêm trọng về chánh trị, kinh tế và sinh thái của các quốc gia hạ lưu.  Trung Hoa đã gia tăng sự minh bạch và chia sẻ dữ kiện với các quốc gia ở hạ lưu, nhưng vẫn chưa có thỏa thuận chánh thức về việc quản trị lưu vực.

Ảnh hưởng thủy điện của Trung Hoa ở Hạ Lưu vực Mekong như thế nào?

Vai trò của Trung Hoa như một nhà tài trợ và phát triển đập ở LMB đã gia tăng đáng kể trong thập niên vừa qua.  Động lực chánh của việc bùng phát thủy điện gần đây ở Trung Hoa gồm có mối quan hệ mật thiết với các nước láng giềng, mở rộng thị trường cho các SOEs, an ninh năng lượng, mục tiêu cắt giảm phóng thích khí nhà kiếng, và chi phí gia tăng cho các vấn đề xã hội và môi trường ở trong nước.  Từ năm 2000, Bắc Kinh gia tăng ảnh hưởng trong khu vực qua các chánh sách khuyến khích đầu tư ở nước ngoài.

Trung Hoa tích cực cải thiện và tăng cường quan hệ với Đông Nam Á (ĐNA), đặc biệt với LMB vì có cùng biên giới.  Việc cải thiện quan hệ sẽ giúp Trung Hoa củng cố sức mạnh chung quanh vì lý do an ninh quốc gia và kinh tế.  Sau cuộc xung đột với Việt Nam trong năm 1979, gián đoạn ngoại giao với Lào PDR từ 1979 đến 1999, và hỗ trợ cho Khmer Đỏ ở Cambodia, Trung Hoa có nhiều việc phải làm để phục hồi niềm tin của các láng giềng trong khu vực.  Quan hệ giữa Trung Hoa với Cambodia và Lào PDR được bình thường hóa vào năm 2000, khi cựu chủ tịch Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) trở thành chủ tịch đầu tiên đến thăm hai nước nầy (Thayer 2001).

Tuy nhiên, sự biến chuyển từ thù sang bạn rất đáng kể và kịp lúc, hầu hết do các sáng kiến chánh trị và kinh tế của Bắc Kinh trong thập niên qua.  Một số thay đổi chánh trị đáng chú ý như sau:

·        Trung Hoa không phá giá đồng Nhân dân tệ (Renminbi) trong những xáo trộn của cuộc khủng hoảng tài chánh Á Châu và thay vào đó là cung cấp hỗ trợ tài chánh (Thái Lan nhận trên 1 tỉ USD; Halloran 1998).
·        “Chánh sách Đi ra Ngoài” của Trung Hoa, được đề ra trong Kế hoạch 5 Năm lần thứ 10 (2001-2005) và đặt căn bản cho việc đầu tư nước ngoài trực tiếp của Trung Hoa.
·        Trung Hoa, Cambodia, Lao PDR, Thái Lan và Việt Nam được thu nhận vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới (World Trade Organization (WTO)).
·        Soạn thảo và ký kết Thỏa ước Mậu dịch Tự do Trung Hoa ASEAN (China ASEAN Free Trade Agreement (CAFTA)) thiết lập khu vực tự do mậu dịch lớn thứ ba trên thế giới vào ngày 1 tháng 1 năm 2010 (Tong 2010).
·        Sáng kiến Chiang Mai, chú trọng đến an ninh tiền tệ trong khu vực, do Trung Hoa tiên phong vào đầu thập niên 2000s.
·        Chương trình Đại Phân vùng Mekong của Ngân hàng Phát triển Á Châu cũng khuyến khích việc liên lạc qua các dự án hạ tầng cơ sở khổng lồ trong khu vực (Cronin 2012).

Những chánh sách nầy phản ánh một sự chuyển tiếp của Bắc Kinh sang việc hợp tác khu vực và cho thấy tham vọng mở rộng thị trường, chống lại ảnh hưởng của Tây phương ở trong vùng, và tạo vị thế lãnh đạo ở ĐNA và toàn cầu.  Những chánh sách đã có hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu, và cung cấp cho các quốc gia LMB một giải pháp thay thế cho Tây phương – thường với điều kiện cao – đầu tư.

Sáng kiến chánh trị của Bắc Kinh ở LMB song hành với động lực phát triển kinh tế của Trung Hoa.  Trung Hoa là đối tác mậu dịch lớn nhất của Myanmar, Việt Nam và Lào PDR; lớn thứ nhì của Thái Lan, và thứ ba của Cambodia (Gronholt-Pederson 2013; Chen Y.W. 2012; Heng 2012).  Trên căn bản quốc gia, trị giá mậu dịch của Trung Hoa trong năm 2010 là 46 tỉ USD với Thái Lan, 27,3 tỉ USD với Việt nam, 4,7 tỉ USD với Myanmar, 1,3 tỉ USD với Cambodia và 1 tỉ USD với Lào.  Trung Hoa cũng xây hầu hết các hạ tầng cơ sở của Cambodia và là nước viện trợ và đầu tư lớn nhất.  Chương trình viện trợ của Trung Hoa cho Lào PDR, Cambodia và Myanmar hiện lớn hơn viện trợ của Hoa Kỳ (Kurlantzick 2007).  Để hiểu chính xác ảnh hưởng của Trung Hoa ở LMB, mậu dịch, viện trợ và đầu tư phải được xem như một gói thay vì những sáng kiến riêng rẽ.  Urban et al. (2013:312) mô tả cách các bộ phận nầy được gói chung trong việc giao dịch ở LMB:

Người Trung Hoa thường gộp chung viện trợ, mậu dịch và đầu tư bằng cách cung cấp, thí dụ, cả đầu tư và các khoản nợ để xây đập và liên kết với việc xuất cảng điện, nhập cảng hàng hóa của Trung Hoa, và các thỏa thuận mậu dịch cho các công ty Trung Hoa.

Phát triển thủy điện của Trung Hoa trong LMB đem lại nhiều lợi ích hơn đối với an ninh năng lượng khi so sánh với các dự án xây đập ở nơi khác.  Một trong những khác biệt chủ yếu giữa phát triển thủy điện trong LMB và các dự án ở Phi Châu hay Nam Mỹ là sự nối kết với lưới điện của Trung Hoa.  Vị trí lân cận của LMB cho phép Trung Hoa nhập cảng điện đến các trung tâm đô thị đang lớn nhanh (Urban et al. 2013).  An ninh năng lượng là mối quan tâm chánh của giới chức Trung Hoa, đặt chỉ tiêu 15% cho năng lượng không phát xuất từ nhiên liệu hóa thạch vào năm 2015, với ½ được dự trù từ thủy điện (CEP 2012).  Những mục tiêu năng lượng năng nổ nầy được mô tả trong Kế hoạch 5 Năm thứ 12 (2011-2015) đã kích thích sự náo động của việc xây cất đập lớn và chuỗi đập.  LMB hiện đang trãi qua một đợt dự án đập lớn, với hơn 50 đập đang được các công ty Trung Hoa tiến hành (trên 50 MW), và nhiều đập khác được đề nghị (Urban et al. 2013).

Sự phân phối các đập lớn của Trung Hoa trong khu vực như sau: Myanmar 30, Lào PDR 13, Cambodia 7, Việt Nam 3, và Thái Lan với một vài dự án đập nhưng dưới 50 MW (Urban et al. 2013).  Những dự án nầy được tài trợ, phát triển, xây cất và hợp đồng với SOEs của Trung Hoa.  Sinohydro đóng ít nhất 1 vai trò trong số 30% dự án đập lớn ở LMB, và chịu trách nhiệm về tài trợ, phát triển và xây cất 5 trong số 13 đập lớn của Trung Hoa ở Lào PDR (Urban et al. 2013).  SOEs như Sinohydro thường có khả năng và qui mô lớn hơn, được sự ủng hộ chánh trị mạnh hơn, có kinh nghiệm nhiều hơn từ các dự án xây cất ở trong nước, và thường xây đập với giá rẻ hơn các đối thủ (McDonald et al. 2009).  Những dự án qui mô lớn nầy thường đòi hỏi sự chấp thuận ở cấp cao nhất ở Bắc Kinh và các quốc gia LMB, và vì thế giao tiếp với quốc gia là một lợi thế.  Ở LMB, hầu hết các dự án xây đập quan trọng đều có liên hệ đến SOEs của những người khổng lồ nổi tiếng toàn cầu, nhưng Myanmar cho thấy sự tương phản với các công ty nhỏ và ít nổi tiếng hơn (Urban et al. 2013).

Kết luận: Qui mô rộng lớn của các dự án đập Trung Hoa trong LMB là kết quả của các mục tiêu chánh trị, kinh tế, an ninh năng lượng, và cắt giảm phóng thích khí nhà kiếng.  Tất cả dấu hiệu hướng về sự gia tăng trong việc xây đập và “gộp” việc hợp tác kinh tế qua các SOEs lớn trong những năm sắp tới.  Câu hỏi quan trọng là làm thế nào để SOEs của Trung Hoa quản lý những ảnh hưởng xã hội và môi trường của các dự án trong LMB.

Chánh sách đối ngoại của Trung Hoa về xã hội và môi trường liên quan đến thủy điện như thế nào?

Trung Hoa đã nhiều lần tuyên bố rằng họ tuân thủ luật lệ và chánh sách của các quốc gia nơi họ đầu tư và phát triển dự án.  Điều nầy gồm có chánh sách không can thiệp vào nội bộ bị xã hội dân sự chỉ trích vì thiếu sự bảo vệ xã hội và môi trường (Xem WWF 2008 và International Rivers 2012).  Vào năm 2012, có lẽ để trả lời cho những chỉ trích và quan tâm của Trung Hoa đối với thanh danh của mình,  Hội đồng Điều hành Ngân hàng Trung Hoa (China Banking Regulatory Commission) sửa đổi Quy định Tín dụng Xanh (Green Credit Guidelines) về điều hành hoạt động môi trường của các ngân hàng Trung Hoa.  Ngày nay, những quy định nầy bắt buộc các ngân hàng phải cải thiện việc quản lý môi trường và rủi ro xã hội cho các dự án ở nước ngoài và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế.

Bước tiếp theo trong việc quản lý môi trường được thể hiện vào tháng 2 năm 2013, khi Bộ Thương mại và Bảo vệ Môi trường công bố Hướng dẫn về Bảo vệ Môi trường trong Đầu tư và Hợp tác Hải ngoại (Guidelines on Environmental Protection in Foreign Investment and Cooperation).  Những hướng dẫn nầy khuyến khích các công ty Trung Hoa “nhận diện và tiên đoán những rủi ro môi trường kịp lúc, giúp các công ty của chúng ta tích cực hoàn thành nhiệm vụ xã hội trong việc bảo vệ môi trường, tạo một hình ảnh tốt đẹp cho các công ty Trung Hoa ở nước ngoài và hỗ trợ phát triển khả chấp của các quốc gia chủ nhà.” (Xem chi tiết về Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp Trung Hoa (CSR) ở CPWF SOK: Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp trong việc Phát triển Thủy điện Mekong (CPWF SOK: Corporate Social Responsibility in Mekong Hydropower Development).

Vào năm 2011, Sinohydro soạn thảo Khuôn khổ Chánh sách cho Phát triển Khả chấp (Policy Framework for Sustainable Development) quy định các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và an ninh, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm sự đồng ý trước và tự do của người dân bị ảnh hưởng.  Những chánh sách và tiêu chuẩn nầy sẽ được thực hiện đến đâu trong lưu vực Mekong thì chưa được rõ; tuy nhiên, nó cho thấy một triễn vọng, theo sau bước muộn màng của Trung Hoa trong việc phát triển thủy điện khả chấp.

Kết luận: 
Ban đầu, Trung Hoa theo đuổi chánh sách không can thiệp, hạn chế cam kết với các diễn viên và các biện pháp bảo vệ xã hội và môi trường được quy định bởi luật lệ và chánh sách của các quốc gia chủ nhà.  Gần gây,  Trung Hoa đã cải thiện trong việc đối thoại với các diễn viên trên khắp Mekong và tăng cường luật lệ bảo vệ môi trường và xã hội và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cho các dự án quốc tế.

Kết luận Tổng quát

Trung Hoa có những lợi ích kinh tế và chiến lược đáng kể trong lưu vực Lancang và Mekong, trong đó thủy điện là một bộ phận then chốt.  Việc phát triển thủy điện của Trung Hoa trong lưu vực Mekong được đón nhận một cách e dè bởi các quốc gia tìm kiếm đầu tư cho nguồn nước và việc phát triền kinh tế đi cùng với nhà nước Trung Hoa và các SOEs.  Những đầu tư nầy, tuy nhiên, bị các tổ chức xã hội dân sự và giới học thuật chỉ trích vì thiếu sự bảo vệ xã hội và môi trường.  Mặc dù không có sự giao kết với xã hội dân sự, giới học thuật và cộng đồng khu vực hay quốc tế trong quá khứ, Trung Hoa và các SOEs càng ngày càng được chú ý vì những rủi ro và ảnh hưởng xã hội và môi trường liên quan đến những dự án hạ tầng cơ sở đại qui mô.  Vì thế, Trung Hoa và SOEs đã tích cực tham gia đối thoại với các quốc gia ở hạ lưu qua MRC, ASEAN, NGOs và các diễn đàn như Diễn đàn về Nước, Thực Phẩm và Năng lượng (Mekong Forum on Water, Food and Energy (MFWFE)) của Chương trình Thách thức về Nước và Thực phẩm (Challenge Program on Water and Food (CPWF)) ở Phnom Penh trong năm 2011 và ở Hà Nội trong năm 2012.  Thí dụ, HLHC đã thử nghiệm Thể thức Đánh giá Tính Khả chấp của Thủy điện (Hydropower Sustainability Assessment Protocol) cho đập Cảnh Hồng và trình bày kết quả ở MFWFE.  Trung Hoa tiếp tục và gia tăng liên lạc với nhiều diễn viên và sự tuân thủ các tiêu chuẩn và hướng dẫn của các SOEs sẽ là thuốc thử cho lời hứa thúc đẩy phát triển khả chấp “ai cũng có lợi”.

Tài liệu tham khảo

EMTOC.2010. China’s 500 Strongest Enterprises was announced and Hongta Group ranks the first in tobacco industry. (2010, September 14). Tobacco Market of China. Retrieved from: http://www.etmoc.com/eng/looklist.asp?id=178

CEP. 2012. Energy Policy. Retrieved from: www.cep.ca/docs/en/policy-917-e.pdf
China Daily. 2012. Largest hydropower station on Mekong River starts operation. Retrieved from: http://www.chinadaily.com.cn/business/2012-09/07/content_15742514.htm

Chen, Y.W. 2012.Sino-Thailand Trade and Economic Relations Analysis and Prospect. Paper Presented to First Thai-Chinese Strategic Research Seminar, Bangkok, 24-26.

Cronin, R. 2012. China and the Geopolitics of the Mekong River Basin: Part 1. World Politics Review. Retrieved from: http://www.worldpoliticsreview.com/articles/11761/china-and-the-geopolitics-ofthe-mekong-river-basin-part-i

Dupont, A. 2001. East Asia Imperilled: Transnational Challenges to Security. Cambridge: Cambridge University Press, 2001.

Goh, E. 2009.China in the Mekong River basin: the regional security implications of resource development on the Lancang Jiang.

Grumbine, R.; Dore, J. and Xu, J. 2012. Mekong hydropower: Drivers of change and governance challenges. Frontiers in Ecology and the Environment 10(2): 91-98.

Gronholt-Pederson. 2013. Chinese Investment in Myanmar Falls Sharply. The Wall Street Journal.

Halloran, Richard. 1998.China’s Decisive Role in the Asian Financial Crisis. Global Beat Issue Brief No. 24.27 January 1998. CRS Report: The 1997 Asian Financial Crisis. Retrieved from: http://www.bu.edu/globalbeat/pubs/ib24.html

Heng, P. 2012 Cambodia–China Relations: A Positive-Sum Game?.Journal of Current Southeast Asian Affairs, 31.

Hirsch, P. 2010. The changing political dynamics of dam building on the Mekong.Water Alternatives 3(2): 312-323.

Information Office of the State Council 2012. Full text: China’s Energy Policy. China Internet Information Center.

International Rivers. 2012. The New Great Walls: A Guide to China’s Overseas Dam Industry. Retrieved from: http://www.internationalrivers.org/resources/the-new-great-walls-a-guidetochina%E2%80%99s-overseas-dam-industry-3962

Kummu M. and Varis O. 2007. Sediment-related impacts due to upstream  reservoir trapping, the Lower Mekong River. Geomorphology (85):275–93.

Kurlantzick, J. 2007. Charm Offensive: How China’s Soft Power is Transforming the World. New Haven: Yale.

McDonald, K., Bosshard, P., and Brewer, N. 2009. Exporting dams: China’s hydropower industry goes global. Journal of Environmental Management, 90, S294–S302.

Plinston, D. and H. Daming. 1999. Water resources and hydropower. Chapter in: Policies and Strategies for the Sustainable Development of the Lancang River Basin, Project TA 3139-PRC. 235-266

Räsänen, T. A., J. Koponen, et al. 2012. Downstream Hydrological Impacts of Hydropower Development in the Upper Mekong Basin. Water Resources Management: 1-19.

Tong S., and Keng, C. 2010. China-ASEAN Free Trade Area in 2010: A Regional Perspective”, EAI Background Brief no. 519: 7–8.

Thayer C. 2001. China and ASEAN: Developing Multilateral Cooperation. Comparative Connections: An E-Journal on East Asian Bilateral Relations, 3:3:71-9

The Daily Mail. 2013. China invades India: Tensions mount as platoon of soldiers slip across border to claim disputed territory. Retrieved from: http://www.dailymail.co.uk/news/article-2318389/Two-Chinese-incursion-leaves-India-verge-crises.html#ixzz2XEVUjC3D

The Diplomat. 2013. How Involved is Xi Jinping in the Diaoyu Crisis?.

Urban, F., Benders, R. M. J., and Moll, H. C. 2009. Renewable and low-carbon energy as mitigation options of climate change for China. Climatic Change,94(1–2), 169–188.

WWF. 2008. Rethinking Investments in Natural Resources: China’s Emerging Role in the Mekong Region. Policy Brief.Retrieved from: http://awsassets.panda.org/downloads/final_cc_reportlowres_3.pdf