Monday, January 9, 2023

ĐẬP MEKONG GÂY TRANH CÃI Ở LÀO ĐỐI MẶT VỚI NHỮNG CHƯỚNG NGẠI KINH TẾ VÀ LUẬT LỆ

 (Controversial Mekong dam in Laos faces economic and regulatory hurdles)

Andrew Haffner – Bình Yên Đông lược dịch

The Third Pole – December 14, 2022

 

Đập thủy điện Phou Ngoy được đề nghị sẽ nằm ở phía nam của thành phố Pakse ở Lào, hình trên đây chụp trong trận lụt năm 2018.  Các chuyên viên nói đập sẽ cắt đứt gạch nối then chốt giữa các khúc sông Mekong ở thượng lưu và các đồng lụt đa dạng sinh học ở phía nam. 

[Ảnh: Liu Ailun]

 

Trong khi dân địa phương chờ được tái định cư và các nhà môi trường lo ngại về ảnh hưởng đối với sinh thái của Mekong, tương lai của đập Phou Ngoy được dự trù có vẻ bấp bênh.

 

Làng đánh cá Khoen Khen ở hạ Lào là một nơi im lặng, nép mình dọc theo bờ sông Mekong và bao quanh bởi một rặng núi.  Nhưng sự im lặng như có vẻ hiện nay, dân địa phương nói họ đang chờ một đợt xây cất sắp xảy ra hứa hẹn sẽ nhổ tận gốc toàn thể làng mạc của họ.

Đập Phou Ngoy 728 MW là một trong chuỗi 9 đập được đề nghị trên dòng chánh Mekong ở Lào.  Chi phí khoảng 1,96 tỉ USD theo Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)), đập được xem là sự bành trướng then chốt của thành phần thủy điện đang phát triển của quốc gia – một trụ cột kinh tế chiến lược mà các chuyên viên nói đang đòi hỏi một cái giá môi trường không thể tin được.

Tin tức tài chánh và yểm trợ chung quanh việc phát triển đập Phou Ngoy, cũng như các dự án thủy điện khác ở Lào, đã đục ngầu như Mekong.  Nhưng tin tức hạn chế có thể thu thập cho thấy rằng dự án Phou Ngoy đã chật vật vì thiếu hỗ trợ tài chánh, chướng ngại luật lệ, và lo ngại khả thi kinh tế.

Đồng thời, dân làng ở vị trí đập mà chánh phủ Lào dự định tái định cư cho dự án nói họ không biết gì về khi nào họ sẽ phải bỏ trống nhà của họ.

Những lo ngại sinh thái

“Nó có lẽ là việc phát triển đập gây nhiều lo ngại nhất ở Lào những ngày nầy,” Brian Eyler, người theo dõi việc phát triển Mekong là giám đốc chương trình Đông Nam Á (ĐNA) của Trung tâm Stimson, nói.

Eyler và những người khác đã cùng báo động về sự nảy nở của đập ở Lào, nói các dự án đang thay đổi từ căn bản các chức năng sinh thái của lưu vực sông bằng cách thay đổi dòng chảy theo mùa của nước và phù sa.  Các đập trên dòng chánh chẳng hạn như Phou Ngoy có nguy cơ ngăn chận các đường di chuyển then chốt và mặt khác ảnh hưởng thủy sản tự nhiên phong phú của Mekong.

Eyler nói vị trí được đề nghị của dự án Phou Ngoy – ngay phía nam của thành phố Pakse của Lào và khoảng 100 km về phía bắc của đập Don Sahong đang hoạt động trên biên giới với Cambodia – sẽ cắt đứt có hiệu quả gạch nối then chốt giữa các khúc sông Mekong ở thượng lưu và các đồng lụt quan trọng ở phía nam.

“Chúng ta thường so sánh việc di chuyển của cá Mekong với việc di chuyển ở Serengeti ở Phi Châu, trong đó người dân mê mệt để xem linh dương đầu bò, ngựa vằn và những con thú khác,” ông nói.  “Nhưng một số lượng thú vật cao hơn đi qua phần hạ lưu đó của Mekong – bạn không thấy vì chúng ở dưới nước.”

 

Đập trên sông Mekong ở Lào. [Ảnh: The Third Pole]

 

Đập Phou Ngoy gặp chướng ngại

Ngay nếu đập Phou Ngoy nhận được tất cả sự chấp thuận cần thiết để tiến hành, các chuyên viên kỹ thuật quen thuộc với dự án nói nó cũng bị trở ngại bởi những thách thức trong việc chứng tỏ tính khả thi kinh tế.

Nhà phát triển Thái (CEWA) là động cơ chánh của dự án Phou Ngoy.  Các ấn bàn mậu dịch thủy điện tường trình trong năm 2020 rằng CEWA đã ký hợp đồng với 3 công ty quan trọng của Korea để bắt đầu xây đập trong năm 2022, với mục tiêu hoàn tất là 2029.

“Điều đó không thể được, tôi nghĩ,” Yongpil Seo, giám đốc quốc gia của văn phòng Thái của Doosan Enerbility, một trong những đối tác Korea, khi được hỏi về mục tiêu.

Việc xây cất dự án Phou Ngoy được khởi sự với việc tham gia của Doosan cùng với Korea Western Power và Korea Overseas Infrastructure & Urban Development Corporation (KIND) – một công ty quốc doanh.

Quản đốc phát triển doanh thương Nathaphan Hansarphiphat của CEWA từ chối bình luận về dự án, nói rằng ông cần một bức thư đồng ý từ chánh phủ Lào để làm như thế.  Cuối cùng, một viên chức ở Nha Quy hoạch và Hợp tác Lào giải thích cho The Third Pole tình trạng của dự án qua một thông điệp trên app.  “Vẫn như vậy, không có nhiều tiến bộ.  Dự án ở giai đoạn đồng ý phát triển,” viên chức cho biết.

 

Hình nầy được chụp trong tháng 12 năm 2016, cho thấy việc xây cất trạm thủy điện trong tỉnh Luang Prabang ở thượng Lào. 

[Ảnh: Liu Ailun]

 

CEWA, thành lập trong năm 2007, là một phần của tổ hợp đang vươn ra của Nhóm CP, thừa hưởng sự liên hệ mật thiết với hoàng gia của quốc gia và Beijing.  Nhóm kiểm soát các cổ phần doanh nghiệp nông nghiệp quan trọng và chủ tịch là Chatchaval Jiaravanon, một thành viên của gia đình Chearavanout – một trong những gia đình giàu có nhất ở Á Châu.  Trang mạng của công ty không liệt kê dự án thủy điện khác, đề nghị đập quan trọng ở Phou Ngoy sẽ là đập đầu tiên.

Nhà phát triển Joonyoung của KIND nói với The Third Pole rằng công ty của ông và Korea Western Power ký một thỏa thuận 2 năm với CEWA trong năm 2020 để làm dự án.  Tuy nhiên, Joonyoung nói rằng các công ty “không bảo đảm quyện thực sự để tham gia” trước khi thỏa thuận hết hạn vào tháng 8 năm 2022.  Doosan và Korea Western thực hiện các thủ tục hợp lý và có giá trị kỹ thuật nhưng “không chắc chắn về tính khả thi của công việc.”

“Các quyết định của MRC bị trì hoãn đối với các vấn đề môi trường, và nó rất khó để bảo đảm tính khả thi kinh tế của dự án vì sự gia tăng trong các chi phí [kỹ thuật, mua sắm, và xây cất] vì lạm phát gần đây,” Joonyoung nói.  “Theo ý tôi, nó rất khó giải quyết hiện nay.”

Yongpil ở Doosan nói ông nghĩ các đối tác Korea “không thể” tiếp tục dự án, thêm rằng ông tin CEWA hiện đang tìm các đối tác Trung Hoa giá thấp hơn và đang chật vật để tìm đầu tư.

Kinh tế không vững chắc

Không có người mua được dàn xếp trước số điện do dự án thủy điện sản xuất, việc phát triển có thể bị sa lầy trong chi phí xây cất cao.

“Tính khả thi, lý do cho điện, không ở đó,” Pai Deetes, giám đốc vận động và liên lạc khu vực ĐNA của tổ chức bất vụ lợi International Rivers, nói, chỉ vào Thái Lan đã có thặng dư năng lượng cao.  “Đối với Phou Ngoy, chúng tôi chưa nghe một kế hoạch nhập cảng điện vào Thái Lan, nhưng chúng tôi không biết.  Không có nó, dự án đó sẽ không sống được, vì không có bảo đảm lợi tức.”

Deetes nói bước quan trọng nhất của các dự án đập ở Lào để khởi đầu là đạt được thỏa thuận mua điện (PPA) với công ty quốc doanh Cơ quan Phát Điện Thái Lan (EGAT).  Những thỏa thuận như vậy bảo đảm một giao dịch lâu dài để mua điện trong nhiều thập niên ở các giá cả mà các nhà phê bình thủy điện mô tả như những giao dịch được kỹ nghệ ưa thích.

Tính đến nay, không có PPA như thế cho đập Phou Ngoy.

“Một khi anh có PPA, dự án còn sống – anh có thể vay nợ, bắt đầu xây cất thích hợp, và lợi tức của anh sẽ được bảo đảm trọn đời của PPA, như 29 hay 35 năm tùy theo cái anh thương thảo,” Deetes nói.

Người địa phương chờ dời cư cho đập Phou Ngoy

Cư dân ở làng Khoen Khen thuộc số người sẽ bị ảnh hưởng tức thời nhất nếu đập Phou Ngoy được xây.  817 cư dân của làng đánh cá đang chờ tín hiệu để cuốn gói ra đi gần 3 năm nay.

Khoen Khen đã được bàn đến để dời cư để lấy đất cho việc xây đập.  Mặc dù cơ sở được quy hoạch là một đập “dòng chảy”, không có hồ chứa nước quan trọng, dân làng nói họ được viên chức tỉnh Champasak nói 3 hay 4 năm trước rằng họ sẽ được di chuyển để làm dễ dàng tiến trình xây cất. 

“Tôi không muốn đi, nhưng nếu cần cho chánh phủ, tôi sẽ làm điều đó,” Khamla, một dân làng, nói. “Hầu hết dân làng chung quanh đây không thỏa mãn, nhưng nếu cần để phát triển, chúng tôi không thể nói không,” bà nói thêm.

Cư dân ở Khoen Khen hầu hết kiếm sống bằng cách đánh cá trên sông, nhưng họ cũng canh tác các thửa đất ở gần và nhặt hàng hóa thiên nhiên ở trong núi, như dây mây mà họ dùng làm thủ công nghệ.  Những người nói chuyện với The Third Pole có vẻ hài lòng với cuộc sống của họ và lưỡng lự để di chuyển.

“Dân làng không muốn đi.  Họ sinh ra ở đây, sống ở đây, có đời sống ở đây,” Sonexay, một cư dân khác của làng, nói.  Ông giải thích rằng nhà nước hứa hẹn cho cư dân công ăn việc làm mới nếu cần sau khi họ tái định cư, và cung cấp một chọn lựa giữa 2 vị trí của làng mới.  Ông nói người dân địa phương hoài nghi về những công việc mới nầy, nhưng hy vọng họ sẽ được bồi thường đầy đủ bởi nhà phát triển cho việc mất mát tài sản của họ, nếu và khi ngày đó đến.  “Dân làng được hứa hẹn họ sẽ có đời sống tốt hơn.  Nhưng họ không mong mõi như thế - họ chỉ không muốn tồi tệ,” ông nói.

Tin tức không chắc chắn về dự án có vẻ không đến cộng đồng.

“Nếu chúng tôi cần phải đi hay bắt đầu trở lại, điều đó rất khó khăn cho chúng tôi,” Chanda, một cư dân Khoen Khen, nói.  “Tôi đã sống ở đây [trong làng] khoảng 30-40 năm, và tôi được sinh ra cách đây không xa.  Tôi muốn có thêm tin tức về đập, các kế hoạch cho mọi thứ.  Nó sẽ giúp chúng tôi hình dung cái sắp tới.”

PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN SÔNG MEKONG, BỒI THƯỜNG VÀ KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ TÁI ĐỊNH CƯ Ở LÀO PDR: TRƯỜNG HỢP ĐẬP LUANG PRABANG

 (Mekong River Hydropower Development, Compensation and the Resettlement Legal Framework in Lao PDR: The Case of Luang Prabang Dam)

 

Sypha Chanthavong – Bình Yên Đông lược dịch

Heinrich Böll Stiftung – 19 December 2022

 

Sông Mekong ở Luang Prabang, Lào PDR.

 

Như 2 mặt của mỗi đồng tiền, việc phát triển thủy điện cung cấp lợi ích và bất lợi.  Lào PDR đã xây nhiều đập, với nhiều dự án trong các giai đoạn hoàn tất khác nhau.  Nhưng cái gì là khuôn khổ pháp lý để bảo đảm bồi thường thích đáng cho cư dân bị ảnh hưởng?

Việc phát triển thủy điện trên dòng chánh Mekong được nói đến lần đầu trong phúc trình của Gilbert F. White năm 1966, liên kết sông Mekong với việc phát triển để sản xuất điện, thủy nông, thủy vận và ngừa lụt (White, 1966:10).  Hiện nay, bên trong Lào PDR (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), tổng số có 429 đập được xác định với công suất tổng cộng là 29.171 MW và 129.589 GWh/năm.  Trong số nầy, 246 dự án đã được ký kết để phát triển qua các Biên bản Ghi nhớ (MOUs), trong khi 35 dự án sẽ được hoàn tất trước năm 2025 và 58 dự án sẽ hoạt động trước năm 2030.  Những đập nầy bao gồm những đập trên dòng chánh Mekong chẳng hạn như Xayaburi, Luang Prabang, Sanakham (Xanakham), Pak Beng và các đập khác (Department of Energy Business and Planning, 2015).

Đập có thể tạo nên đầu tư ngoại quốc trực tiếp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, chuyển giao kỹ thuật, và mướn lao động địa phương.  Thí dụ, điện chiếm 8,9% GDP của Lào trong tài khóa 2021 (Bank of Lao PDR, 2022).  Tuy nhiên, thủy điện tạo nên những thách thức với đập ảnh hưởng người dân, chẳng hạn như các cách đang diễn ra tiếp tục cuộc sống của chúng qua việc tiếp cận với đất nông nghiệp, kể cả an toàn đập.  Bài viết nầy phác họa khuôn khổ pháp lý đối với việc tái định cư, bồi thường và việc thực hiện trong trường hợp của đập Luang Prabang.

 

Sông Mekong ở Luang Prabang,Lào PDR.

 

Đập trên dòng chánh Mekong và ảnh hưởng đến dân số

Mặc dù 9 đập thủy điện được xác nhận trên dòng chánh Mekong bên trong Lào PDR, chỉ có đập Xayaburi được hoàn tất.  Những đập khác, chẳng hạn như Pak Beng, Sanakham (Xanakham) và Pak Lay vẫn còn trong các giai đoạn xây cất sơ khởi.  Đập tiên tiến nhất trong việc phát triển là Luang Prabang.

Đập Luang Prabang là một trong chuỗi đập trên dòng chánh bên trong biên giới của Lào PDR.  Đập nằm ở vị trí cách hợp lưu với Nam Ou khoảng 4 km về phía thượng lưu và cách thành phố Luang Prabang khoảng 25 km về phía bắc,  Công suất thiết trí của đập là 1.460 MW, với điện được xuất cảng sang Thái Lan hay Việt Nam.

Đối với ảnh hưởng xã hội của đập Luang Prabang, 26 làng sẽ bị ảnh hưởng bởi dự án, phần lớn nằm trong huyện Chomphet và Pak Ou, tỉnh Luang Prabang, trong khi cũng có ảnh hưởng trong huyện Hongsa, tỉnh Sayabouri (Cũng được biết như Xayaburi) và huyện Nga, tỉnh Oudomxay ở phía bắc.  Trong số các làng nầy, 6 làng với tổng số khoảng 2.885 người và 581 gia đình hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi tịch thu đất.  Chín làng với khoảng 3.855 người và 692 gia đình sẽ bị ảnh hưởng một phần, trong khi 259 gia đình không cần tái định cư.  Liên quan đến đất canh tác, 8 làng với 2.330 người và và 671 gia đình sẽ bị ảnh hưởng.  Đối với ảnh hưởng môi trường, 3 làng với khoảng 904 người và 189 gia đình ở hạ lưu đập sẽ bị bụi bậm và tiếng ồn.

Tổng cộng, trên 10.000 người và trên 2.100 gia đình bị ảnh hưởng, trực tiếp hay gián tiếp, bởi đập Luang Prabang (Powry, 2019).  Cuộc sống của những gia đình nầy đa dạng và lợi tức trung bình của họ thay đổi từ 4.100 đến 5.371 USD một năm.

 

Vị trí của đập Xanakham trên sông Mekong.

 

Tái định cư và bồi thường: khuôn khổ pháp lý ở Lào PDR

Ở Lào PDR, luật lệ và quy định liên quan đến việc quản lý tái định cư từ các dự án phát triển thủy điện được bao gồm trong, nhưng không hạn chế bởi, những điều sau đây:  Luật Tái định cư và Nghề nghiệp (2018), Luật về Điện (2017) và Sắc lệnh về Quản lý Bồi thường và Tái định cư trong các Dự án Phát triển (2016).

Luật Tái định cư và Nghề nghiệp (2018) cung cấp nguyên tắc, quy định và biện pháp liên quan đến việc quản lý, theo dõi và giám sát việc phân phối đất và nghề nghiệp để làm cho công việc nầy có hiệu quả và đầy đủ, đúng, phù hợp với việc phát triển và thực tế ở địa phương để bảo đảm rằng tất cả các nhóm thiểu số người Lào trong vùng phân phối đất và nghề nghiệp có nhà, cuộc sống và công ăn việc làm ổn định nhằm để giải quyết việc di dân trái phép, loại trừ nghèo khó, cải thiện điều kiện sống của người Lào về mặt tinh thần và vật chất, tạo hòa bình và trật tự trong xã hội, tạo nên làng mạc phát triển, xây dựng các làng lớn thành các thị trấn nông thôn, và góp phần vào việc phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia và bảo vệ quốc phòng cho hòa bình.  Ngoài ra, luật cũng ghi rõ rằng tái định cư tổng quát cho người dân trong vùng nông thôn phải tiếp cận với phát triển, gồm có các dịch vụ công cộng căn bản chẳng hạn như đường sá, bệnh viện và giáo dục.  Trong khi việc tái định cư được xác định gồm có dời chỗ từ dự án phát triển, luật nầy cũng cung cấp nhiều quyền hạn và phác họa các bổn phận đối với người bị ảnh hưởng cũng như người chủ hay nhà phát triển dự án.

Điều 69 của Luật Điện (2017) ghi nhận tái định cư cung cấp việc xác định các đơn vị bồi thường, xác định vị trí và diện tích của đất sản xuất (cho hoa màu) và đất dùng cho mục đích xây cất, tiêu chuẩn của các nhà bị dời cư, hạ tầng cơ sở, trợ giúp chuyễn tiếp và các kế hoạch phục hồi cuộc sống.  Các đơn vị bồi thường phải dựa trên luật lệ hay quy định thỉnh thoảng được công bố bởi quốc gia.  Điều 70 của cùng luật cũng cung cấp bổn phận bồi thường và tái định cư đối với nhà phát triền dự án hay công ty dự án.

Sắc lệnh về Quản lý Bồi thường và Tái định cư trong các Dự án Phát triển (2016) phác họa các nguyên tắc, quy định và tiêu chuẩn về quản lý, theo dõi việc bồi thường các mất mát và quản lý các hoạt động tái định cư để thực hiện các dự án phát triển một cách thích đáng và có hiệu quả nhằm mục đích bảo đảm rằng bất cứ người dân bị ảnh hưởng nào cũng được bồi thường, tái định cư và trợ giúp với cuộc sống thay thế vĩnh viễn đưa đến việc cải thiện điều kiện sống tốt hơn hay giống như trước.  Cùng lúc, sắc lệnh cũng tạo ra 11 quyền và bổn phận đối với nhà phát triển liên quan đến việc bồi thường và tái định cư chẳng hạn như soạn các kế hoạch bồi thường,  tái định cư và phục hồi cuộc sống.

Những luật lệ nầy bố trí tái định cư và bồi thường cho người dân bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển bao gồm phát triển thủy điện.

 

Đập Xayaburi, trong chuỗi đập trên Mekong bắt đầu hoạt động từ tháng 10 năm 2019.

 

Tái định cư và bồi thường cho đập Luang Prabang

Theo luật lệ và quy định, nhà phát triển đập Luang Prabang đề nghị tái định cư cho người dân bị ảnh hưởng vào các vị trí khác nhau, cũng như bồi thường cho các tài sản bị ảnh hưởng.  Làng Houayngo sẽ được tái định cư khoảng 3 km từ làng hiện nay.  Làng Nasang sẽ được tái định cư cách đó 1 km, trong khi các làng Houaykhae, Kengken Khokkham và Lathan sẽ được dời về phía bắc.  Người dân bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi đập trong huyện Chomphet và Pak Ou sẽ nhận được 600 m2 đất (Powry, 2019).

Đồng thời, Tỉnh trưởng Luang Prabang cũng công bố Quyết định về Đơn vị Bồi thường cho Người dân bị Ảnh hưởng bởi đập Luang Prabang (No. 365/LPBG) (the Decision), ngày 16 tháng 8 năm 2021.  Theo tài liệu nầy, những thứ sau đây là thí dụ của bồi thường được nhận:

 

Đặc tính của đất

Giá đơn vị bồi thường bằng Lào kip

Đất ruộng lúa cạnh đường phụ

10.000 kip/m2

Đất ruộng lúa nối với giao lộ

7.000 kip/m2

Đất ruộng lúa không nối với đường

3.000 kip/m2

Đất vườn

3.000 kip/m2

Đồng cỏ (luân canh để canh tác)

500 kip/m2

Đất xây cất cạnh đường chánh

150.000 kip/m2

Đất xây cất nối với đường phụ

80.000 kip/m2

Đất xây cất nối với giao lộ

30.000 kip/m2

Đất xây cất không ở cạnh đường

10.000 kip/m2

Cây cao su (13-30 năm)

Đến 289.800 kip/cây

Cây cao su (1-13 năm)

46.800 kip/cây

Cây teak (đường kính 61-80 cm)

90.000 kip/cây

Cây teak (đường kính dưới 10 cm)

22.500 kip/cây

Cây bưởi (trên 5 năm)

229.000 kip/cây

Cây bưởi (1-4 năm)

38.500 kip/cây

Ghi chú: 10.000 kip = khoảng 0,57 USD vào lúc viết bài

Hoàng hôn trên sông Mekong ở Luang Prabang.

 

Đất ruộng lúa và đất chia khu để xây cất được cung cấp ở giá khác nhau, tùy theo vị trí và nối kết với các đường khác.  Cây nông nghiệp hay sản xuất và hoa màu cũng được kể, với cây ăn trái được bồi thường với giá thay đổi cho các loại khác nhau.

Giá đơn vị bồi thường là giá thỏa thuận giữa cư dân bị ảnh hưởng của đập và nhà phát triển, dưới sự dàn xếp của đơn vị hành chánh địa phương.  Tuy nhiên, cư dân bị ảnh hưởng nói rằng bồi thường cho đất thì thấp hơn giá thị trường thật sự, trong khi các bồi thường khác chẳng hạn như cây cao su và teak rất thích hợp và chấp nhận được.  Đây là vì giá cả đất trên thị trường ở làng Pak Ou thì cao hơn khi Quyết định được công bố - thí dụ, đất xây cất cạnh đường chánh vào khoảng 500.000 kip/m2.

Bên cạnh việc tái định cư và bồi thường cho người dân bị ảnh hưởng, chủ dự án cần giúp đỡ người dân tái định cư trong thời gian chuyển tiếp theo kế hoạch để phục hồi điều kiện sống của người dân và dụng cụ cần thiết để sản xuất, như được cung cấp trong Điều 26 của Luật về Tái định cư và Nghề nghiệp (2018) và Điều 16 của Sắc lệnh về Quản lý Bồi thường và Tái định cư trong các Dự án Phát triển (2016).

Việc tái định cư và bồi thường cho cư dân bị ảnh hưởng một cách thích đáng không phải là một công việc dễ dàng và đạt thỏa thuận từ mọi phía về cái đủ rất thách thức.  Đánh giá thường xuyên cuộc sống trước và sau tái định cư cần được duyệt xét bởi nhà phát triển dự án.

KHI KHÍ HẬU THAY ĐỔI, NÔNG DÂN MEKONG THỬ LÚA NỔI

 (As climate changes, Mekong farmers try floating rice)

Thanh Hue – Bình Yên Đông lược dịch

Mekong Eye – 12 December 2022

 

Nông dân Bùi Bích Tiên, 52 tuổi, cầm cây lúa nổi mọc cao hơn ông trong ruộng lúa của ông trong mùa nước nổi ở ấp Vĩnh An, tỉnh An Giang, Việt Nam. [Ảnh: Thanh Hue]

 

Nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) quay trở lại giống lúa bản xứ để chống lại lũ lụt không thể đoán trước khi các đập ở thượng lưu ảnh hưởng dòng chảy

 

AN GIANG, VIET NAM – Trước trận mưa đầu tiên trong tháng 8 của mùa lũ ở ĐBSCL của Việt Nam, Bùi Bích Tiên bắt đầu gieo hạt.  Trong 6 tháng tiếp theo, khi lũ lụt hàng năm từ thượng lưu làm ngập đất canh tác của ông ở ấp Vĩnh An, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, lúa mọc theo và nằm trên mực nước đang dâng.

Đây không phải là loại lúa bình thường.  Được gọi là lúa nổi hay lúa nước sâu, khi mực nước dâng lên, cây lúa mọc nhanh hơn nó, có thể cao đến 3 m.  Nó từng là thức ăn chánh, nuôi sống nông dân trên khắp 5 quốc gia Mekong.

Tiên, 52 tuổi, là một trong vài nông dân tiếp tục truyền thống nầy.  Ông đã trồng chủng loại nầy từ khi ông thừa hưởng 1,5 hectares đất trong năm 1999.

 


“Chúng tôi trồng lúa nổi chủ yếu để bồi dưỡng đất cho mùa tới và để gia đình tiêu thụ,” Tiên nói sau một buổi chiều đứng trong nước lũ sâu đến cổ và điều chỉnh các cây lúa đã mọc cao hơn đầu ông.  Vào mùa khô, đất canh tác của ông sẽ sẵn sáng để trồng khoai mì, đất giàu phù sa được lúa nổi giữ lại trước đây.

Tuy nhiên, lúa không có nhu cầu cao.  “Những người đến tìm lúa nổi hầu hết là những người ăn chay ở chung quanh đây vì nó sạch – nó không đòi hỏi phân bón hay thuốc trừ sâu,” Tiên nói thêm.  “Lúa thật sự không có mùi vị.”

Các nhà nghiên cứu ở Viện Thay đổi Khí hậu của Đại học An Giang đang cố gắng để thay đổi điều đó.  Từ năm 2012, họ đã cố gắng để phát triển một giống lúa nổi có sức chịu đựng và ngon hơn để bảo tồn loại lúa bản xứ nầy, trong khi cũng xem nó như một giải pháp để thích ứng với thay đổi và khủng hoảng khí hậu trong dòng chảy vì các đập thủy điện ở thượng lưu.

“Quay lại trồng lúa nổi truyền thống là một trong các mô hình mà chúng tôi hy vọng sẽ tạo thay đổi,” Lê Thanh Phong, phó giám đốc của Viện Thay đổi Khí hậu, nói.


Không ảnh ruộng lúa bị ngập trong tỉnh An Giang trong mùa nước nổi.

[Ảnh: Thanh Hue]

Cây lúa nổi trong ruộng lúa trong mùa nước nổi ở ấp Vĩnh An, tỉnh An Giang.

[Ảnh: Thanh Hue]

 

ĐBSCL là một đồng bằng thấp giàu đa dạng sinh học.  Lũ lụt hàng năm, được gọi là mùa nước nổi ở địa phương, mang phù sa, cá và tôm từ thượng lưu.  Đây thường là một mùa giàu có, vì “chúng tôi chỉ cần đi ra đồng và bắt cá tôm,” Tiên nhớ lại.  “Mọi thứ đều dễ dàng.”

Nhưng trong những năm gần đây, có ít cá hơn, trong khi lũ lụt trở nên khó đoán trước.  Tiên không còn dựa vào kinh nghiệm nhiều thập niên của ông để tiên đoán lũ lụt, nay đến quá sớm hay quá trễ và rút rất nhanh.

“Một năm, nước lũ dâng lên thình lình, lúa chưa phát triển đủ để thích ứng nên chết hàng loạt,” Tiên nhớ lại.

Trước năm 1985, lúa nổi là một dấu hiệu phổ biến ở ĐBSCL, trải rộng 500.000 hectares.  Nhưng từ khi cải cách kinh tế được gọi lài Đổi mới được bắt đầu trong năm 1986, chánh phủ nhìn vào đồng bằng để trở thành chén cơm của cả nước bị cấm vận và vẫn còn phục hồi từ Chiến tranh của Mỹ.

Cái tiếp theo là một nỗ lực tái kiến tạo đại qui mô phần thượng lưu của đồng bằng.  Một hệ thống thủy nông lớn lao với đê được xây cất, chuyển lũ lụt khỏi đất canh tác, cho phép nông dân trồng 3 vụ lúa một năm lần đầu tiên.

Với điều đó, lúa nổi dần dân được thay thế bởi lúa cao sản, lớn nhanh.  Từ một quốc gia trên bờ của nạn đói, Việt Nam đã trở nên quốc gia xuất cảng gạo lớn thứ 3rd trên thế giới.

Vào năm 2012, chỉ còn 40 hectares lúa nổi ở đồng bằng, được trồng hầu hết bởi nông dân như Tiên, để tiêu thụ cá nhân và để bón đất.

Nhưng hệ thống đê phức tạp đã làm cho đồng bằng là nạn nhân của sự thành công.  Trồng vụ lúa thứ 3rd trong mùa lũ có nghĩa là để chận nước lũ để lúa có thể mọc.  “Nước lũ, thay vì được hấp thụ vào đồng ruộng, bị chuyển hướng, tạo áp lực lên các vườn trái cây và vùng đô thị ở xa hơn về phía hạ lưu,” chuyên viên ĐBSCL độc lập Nguyễn Hữu Thiện nói.

“Phù sa không đên đất, và vì thế nó cần nhiều phân bón, làm nghèo đất.”

Trong năm 2020, thay vì chỉ là lũ trung bình, các vùng trồng cây ăn trái và vùng đô thị ở hạ lưu trải qua lũ lụt nghiêm trọng.  Vào tháng 10 của năm, Cần Thơ, thành phố lớn nhất ở đồng bằng, trải qua trận lụt lịch sử trong lúc triều cường kết hợp với mưa lớn.  Trong bối cảnh nầy, Phong của Viện Thay đổi Khí hậu lập luận rằng quay trở lại lúa nổi cung cấp một lối ra.  “Lúa nổi có thể thích ứng trong vùng thiếu nước ngọt, nhiễm phèn và ngập lụt,” Phong nói.

“Ông tiếp theo rằng hệ thống đê hiện nay, thay vì ngăn chận lũ, sẽ giữ nước lũ nên người dân có nguồn nước để canh tác trong khi giảm rủi ro lũ lụt cho vùng hạ lưu.”

Nhưng điều nầy không đủ để tái giới thiệu lúa nổi với quần chúng.  Các nhà khoa học ở Viện Thay đổi Khí hậu đang cải thiện hạt lúa bản xứ.  Họ đã có một số tiến bộ.

Từ năm 2016, họ cung cấp cho Tiên giống lúa có phẩm chất tốt và đồng nhất hơn, hạt lúa có màu nâu đỏ, không như hạt lúa cũ, có nhiều màu hơn.

Một nông dân cho thấy các hạt lúa nổi sau khi thu hoạch ở ấp Vĩnh An, tỉnh An Giang. 

[Ảnh: Thanh Hue]

 

“Để mô hình khả chấp, lúa cần được hoan nghênh bởi thị trường và nông dân có thể tạo lợi nhuận,” Phong nói.

Bắt đầu từ năm 2021, nhóm công ty nông nghiệp Lộc Trời cam kết mua 300 hectares lúa nổi trong các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Long An như một phần của nỗ lực để mang giống lúa nầy đến người tiêu thụ rộng rãi hơn.  Nông dân hợp tác trong mô hình nhận lúa giống miễn phí, hỗ trợ kỹ thuật và đang ký nhãn hiệu.

Tiên nói “sản lượng thì thấp,” nhưng với giá mua là 15.000 VND một ký (0,62 USD/kg), nay ông kiếm được 32 triệu VND/ha (1.335 USD/ha), chuyển thành một lợi nhuận là 20 triệu VND/ha (835 USD/ha).  Giá bán của gạo thường vào khoảng 6.000 VND/kg.

“Trồng lúa (nổi) rất dễ vì bạn để cho thiên nhiên làm việc.  Điều đó có nghĩa không có vấn đề.  Chuột và chim có thể tàn phá mùa màng, Tiên nói.  “Thu hoạch hàng năm vì (tôi) không thể mang máy móc vào sâu trong cánh đồng.”

 

Bùi Bích Tiên lội qua ruộng lúa nổi của ông. [Ảnh: Thanh Hue]

 

Bùi Bích Tiên với cá bắt được từ ruộng lúa của ông trong mùa nước nổi.

[Ảnh: Thanh Hue]

 

Trong tỉnh láng giềng Đồng Tháp, Lê Văn Mạnh, 68 tuổi, vừa trồng vụ lúa nổi đầu tiên của ông sau 30 năm trồng 3 vụ lúa cao sản.

Mạnh là một trong 4 gia đình tham gia vào dự án trồng lúa và nuôi cá trong mùa nước nổi, được thúc đẩy bời Phát triển Kinh tế của thành phố Hồng Ngự.  Dự án bắt đầu trong tháng 6 năm nay, bao gồm 11 hectares lúa nổi và 1 hectare để nuôi cá và tôm càng.

“Trong quá khứ, nơi chúng tôi trồng 3 vụ lúa một năm, chúng tôi kiếm đủ và có thể nghỉ ngơi trong mùa lũ,” Mạnh nói.  “Nhưng nay chúng tôi không thể cân bằng sổ sách của chúng tôi nữa vì giá phân bón càng ngày càng cao.”

Giá phân bón cao kỷ lục thúc đẩy bởi chiến tranh Ukraine đã đẩy nông dân trồng lúa trên khắp ĐBSCL tìm kiếm giải pháp thay thế,” Dương Phú Xuân, cầm đầu Phát triển Kinh tế của thành phố Hồng Ngự, nói.

Bằng cách nuôi cá và tôm nước ngọt trong lúa nổi, nông dân “có thể kiếm lợi nhuận 2-3 lần nhiều hơn cái họ kiếm được từ 3 vụ lúa.”

Nông dân Lê Văn Mạnh, 68 tuổi, cho cá ăn trong ruộng lúa của ông trong mùa nước nổi trong tỉnh Đông Tháp. [Ảnh: Thanh Hue]

 

 

Một nông dân bẻ càng của tôm càng khi ông thả nó vào ruộng lúa của ông trong tỉnh Đồng Tháp. [Ảnh: Thanh Hue]

 

Các nông dân tham gia nói tính đến nay kết hợp lúa nổi với nuôi cá đã mang cho họ nhiều lợi tức.  Sau mùa lũ, họ có thể trở lại lúa cao sản hay các hoa màu khác trong đất ẩm và tốt.

Vào năm 2016, Tiên mướn thêm 3 hectares đất để tăng diện tích trồng lúa nổi lên 4,5 hectares.  Từ năm 2021 đến 2022, tổng số diện tích lúa nổi trong huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tăng 1,7 lần, từ 72 hectares đến 125 hectares.

“Hiện nay, nhờ vào sự hỗ trợ chúng tôi hoàn toàn có lợi từ lúa nổi,” Tiên nói.  “Trong tương lai, nếu lúa nổi tìm được người tiêu thụ, thì đương nhiên chúng tôi sẽ bành trướng.”

 

Nông dân Bùi Bích Tiên và gia đình ăn cơm trưa ở nhà ông trong ấp Vĩnh An, tỉnh An Giang.  Từ nhiều năm nay, Tiên đã trồng lúa nổi để gia đình tiêu thụ.  Nay, ông hy vọng giống lúa sẽ trở nên phổ biến hơn. [Ảnh: Thanh Hue]

 

Bùi Bích Tiên chèo thuyền khi ông đánh cá trong ruộng lúa của ông trong mùa nước nổi. 

[Ảnh: Thanh Hue]

.

 

Mekong Dam Monitor (Update for Jan. 9 - 15)