Sunday, February 16, 2020

MEKONG: CÁI HAY, DỞ VÀ XẤU XÍ CỦA “DANUBE PHƯƠNG ĐÔNG”

(The Mekong: the good, bad and ugly sides to the ‘Danube of the East’)

Tim Pile – Bình Yên Đông lược dịch
South China Morning Post – 9 January 2020

Một góc của thác Li Phi trên sông Mekong ở Si Phan Don, nam Lào, gần biên giới Cambodia.  
Đập gây gián đoạn dòng chảy tự nhiên của sông. [Ảnh: Shutterstock]


*          Con sông dài thứ 12th trên thế nhất chảy qua Trung Hoa, Myanmar, Thái lan, Lào, Cambodia và Việt Nam, nuôi sống 70 triệu người.
*          Hạn hán, nước biển dâng và việc hấp tấp xây đập đang đe dọa cuộc sống của người dân dựa vào sông để sinh tồn.

Cái hay

Với người Tây Tạng, nó được gọi là Dza Chu, hay Sông của Đá, và với người Trung Hoa, nó là Lancang Jiang (Lạn Thương Giang), hay Sông Hung bạo.  Người [Thái Lan và] Lào gọi nó là [Mae Nam Khong, hay] Sông Mẹ Nước, ở Cambodia nó là [Tonlé Thom] Sông Cái và khi chảy vào Việt Nam, điểm cuối của hành trình dài 4.350 km, nó được gọi là Sông Cửu Long.
Sông Mekong, được biết đến nhiều nhất, là con sông dài thứ 12th trên thế giới, nhưng chỉ đứng sau sông Amazon về mức độ đa dạng sinh thái.  Từ nguồn trên cao ở Himalayas, “Danube phương Đông” xuyên qua 6 quốc gia, cung cấp thực phẩm, nước và sinh kế cho trên 70 triệu người trước khi đổ ra Biển Đông.
Hầu hết thủy lộ có thể đi lại được, thuyền chở du khách nở rộ ở nhiều nơi.  Bạn có thể mua một vé tàu qua đêm trên môt xà lan chở lúa được cải biến hay một vé tàu 2-ngày từ Thái Lan đến Lào.  Thám hiểm tàu tốc hành hay đi thuyền ngắm cảnh xuyên qua đồng quê với ruộng lúa vàng.  Nhiều chuyến đi bao gồm việc thăm viếng các hoạt động văn hóa trong làng và các đền thờ, chù chiền và pho tượng.
Mekong chỉ thuộc về thôn quê.  Nhưng cũng có một số thị trấn và thành phố thu hút du khách, đi cùng với Mekong.

Mức nước xuống thấp ở Nakhon Phanom, Thái lan. 
[Ảnh: Shutterstock]

Jinghong (Cảnh Hồng), trong vùng nhiệt đới Xishuangbana (Tây Song Bản Nạp) của Trung Hoa, là nơi cư trú của 13 nhóm dân tộc thiểu số (và 12 ngôn ngữ), trong khi thành phố Luang Prabang ở Lào là một sự pha trộn thích thú của Phật giáo và di sản thuộc địa Pháp.  Dòng sông có màu xanh nước biển hấp dẫn khi chảy qua thị trấn Nakhom Phanom của Thái Lan, và trên biên giới giữa Lào và Cambodia là Si Phan Don, hay Bốn Ngàn Đảo.  Vẻ đẹp của nó lẩn dưới tầm mắt của du khách nhưng rất đáng cho ai đã cố công để đến nơi hẻo lánh nầy qua một loạt ghềnh thác ầm ầm, các hố bơi ẩn mình và các bãi cát.
Du khách có thể mướn thuyền để khám phá các đảo và ngắm cá heo Irrawaddy.  Mặc dù được xem là sắp tuyệt chủng, có 13 cá heo Irrawaddy mới sanh ở Cambodia trong năm qua.

Nói về Cambodia, thủ đô Phnom Penh là nơi thuận tiện để tổ chức một chuyến đi thuyền đến Tonle Sap, hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á (ĐNA) với nền ngư nghiệp nội địa lớn nhất trên thế giới.  Chuyến du hành một ngày chấm dứt ở Siem Reap, cửa ngỏ của tàn tích Khmer cỗ Angkor Wat.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), được biết như “chén cơm của Việt Nam”, là nơi cư trú của 20 triệu người.  Nó là sự chắp vá xanh tươi của ruộng lúa, sông ngòi, ao hồ và đất ngập nước nơi nông dân trồng hoa màu, trẻ con đùa nghịch với trâu và con buôn bán hàng ở chợ nổi khi trời sáng.  Các chuyến đi chơi bằng thuyền máy cho thấy phần lớn đời sống ở ĐBSCL.  Điều hay nhất là số tiền chi tiêu cho các chuyến đi chơi nầy chắc chắn tìm cách đi vào túi của người dân địa phương.
Khi dân số dọc theo sông Mekong gia tăng và kinh tế nở rộ, nhu cầu năng lượng cũng tăng theo.  Việc phát triển đập thủy điện giúp hiện đại hóa cũng như tạo cơ hội để bán điện thặng dư vào lưới điện.  Mức độ để tăng trưởng rất đáng kể - chỉ có 10% tiềm năng thủy điện được ước tính của Hạ lưu Mekong được phát triển.

Cái dở

Phân vùng Đại Mekong, gồm có Trung Hoa, Thái Lan, Việt Nam, Cambodia, Lào và Myanmar, đang được biến đổi bởi phát triển liên quan đến một hệ thống bao la của “các hành lang kinh tế” mới. [Ảnh: Getty Images]

Đúng là một phần của sông Mekong đang có màu xanh hấp dẫn, nhưng như bất cứ người Á Châu lớn tuổi nào được biết, sông phải đục ngầu vì phù sa có nhiều chất dinh dưỡng mà nó mang theo.  Các nhà sinh thái học khẳng định sự thay đổi màu sắc là do tảo và việc thiếu phù sa do hạn hán đang diễn tiến khiến mực nước xuống đến mức thấp nhất trong hơn 100 năm.  Ngoài lượng mưa ít, cáo buộc cũng hướng về sự bùng phát trong việc xây đập thủy điện.

Trong số nhiều đập đang được xây cất hay được dự trù, dự án gần Khu Di sản Thế giới ở Luang Prabang có lẽ là dự án gây nhiều tranh cãi nhất.  Nếu được chấp thuận, kiến trúc khổng lồ nầy hầu như sẽ có ảnh hưởng tai hại đến các cộng đồng ở hạ lưu cũng như hệ sinh thái và quang cảnh của sông.  Nó sẽ chấm dứt các thuyền chở du khách nối Thái Lan với Lào.
Lời hứa năng lượng sạch và rẻ thật lôi cuốn, cũng như chuyện giảm nghèo, nhưng các kinh tế gia cảnh báo rằng các dự án hạ tầng cơ sở khổng lồ có thể khiến cho các nước chủ nhà mang nợ to.  Cũng có nguy cơ thật sự là vào lúc đập bắt đầu hoạt động, năm 2027, dòng chảy Mekong có thể chỉ còn là một dòng nước nhỏ, có nghĩa là công trình không thể sản xuất điện.  Nhưng điều đó vẫn không ngăn được các chánh phủ trong vùng cứu xét việc xây thêm 68 đập khác ở Hạ lưu Mekong vào năm 2030.

Mekong là nơi cư trú của nhiều chủng loại cá khổng lồ hơn bất cứ sông nào trên trái đất, nhưng con số đang sụt giảm.  Cá heo Irrawaddy vẫn còn trên danh sách sắp tuyệt chủng mặc dù có sự sinh sản như đã nói ở Cambodia.  Đánh bắt thái quá với lưới nhỏ và sử dụng chất nổ đe dọa loài cá nầy cũng như dân số gia tăng nhanh chóng cũng có vấn đề, từ việc gia tăng giao thông thủy đến ô nhiễm vi nhựa, kim loại nặng và chất ô nhiễm nông nghiệp chẳng hạn như thuốc trừ sâu.

Cái xấu xí

Một trại nuôi tôm trên sông Tonle Sap, Cambodia. 
[Ảnh: Shutterstock]

Hàng triệu người sống trong ĐBSCL của Việt Nam có nguy cơ mất nhà do bờ sông sụp đổ vì sạt lở trong khi mực nước biển dâng khiến độ mặn trong sông và các nhánh lên cao.  Không thể trồng hoa màu, nông dân đang chuyển sang nuôi tôm với nhiều nguy hiểm nhưng sinh lợi lớn.  Nhưng thiệt hại đối với hệ sinh thái rất nặng nề.

Rừng đước giúp duy trì đời sống dưới nước và làm chậm ảnh hưởng của thay đổi khí hậu, nhưng chúng bị phá trên diện rộng để làm vuông tôm.  Việc thi hành luật lệ môi trường ở Việt Nam rất yếu và hóa chất, kháng sinh và thuốc tẩy được dùng để giúp tôm lành mạnh.  Hầu hết các chất tai hại nầy chảy vào các thủy lộ công cộng.  Vốn đầu tư lúc ban đầu rất cao và chỉ cần thất thu 1 mùa cũng đủ làm cho người nuôi tôm mang nợ.

.

Monday, February 10, 2020

Mê Kông cạn cá






BVR&MT – Trong ngồi trong bóng râm của căn chòi tạm bợ trên bờ hồ Tonlé Sap, quanh anh là mấy đứa trẻ tò mò.
“Cá quả, cá trê, cá tai tượng… Trước đây, cách đây rất lâu, hồ có rất nhiều cá”, anh vừa nói vừa nheo mắt vì nắng.


Cá ở Tonlé Sap, hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á là nguồn chất đạm chính cho người Campuchia. (Ảnh: Getty)

Nhưng mọi thứ thay đổi chóng vánh. Các loài cá suy giảm, thực vật đang chết dần và toàn bộ hệ thống sông Mê Công tan rã. Đối với những đứa trẻ tụ tập quanh Tbong, một Tonlé Sap trù phú chỉ còn trong chuyện kể.
Nằm ở trung tâm lưu vực hạ nguồn sông Mê Công, Tonlé Sap là hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á. Hồ và vùng ngập lũ xung quanh được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển vào năm 1997, là nơi sinh sản, cung cấp nguồn thức ăn và là nơi thu hoạch hàng trăm loài cá và các sản phẩm thủy sản khác.
Nhưng năm nay, mực nước giảm xuống mức kỷ lục.
Marc Goichot, Cố vấn cao cấp cho Chương trình Mê Công của WWF nói: “Mực nước khắp hạ nguồn Mê Công chưa bao giờ xuống thấp như thế kể từ khi thành lập Ủy hội sông Mê Công (MRC) năm 1995, mà nước lại có màu xanh khác thường [do mất trầm tích lơ lửng].”

“Nước màu xanh có thể tốt cho vùng biển Caribbean nhưng với sông Mê Công thì điều đó không mang tính tự nhiên và là tin xấu. [Điều đó] là một thay đổi lớn trong hệ sinh thái sẽ gây ra hàng loạt tác động như: phơi bày các loài thủy sản dễ bị tổn thương trước những loài săn mồi, làm suy yếu bờ sông và không còn mang lại những chất dinh dưỡng phong phú cần thiết cho các cánh đồng lúa, rừng ngập mặn và cá”.

Đồng bằng sông Mê Công ở Campuchia vào tháng 1/2016. Tonlé Sap ở đỉnh góc tay trái. (Ảnh: NASA)


Cuộc khủng hoảng khí hậu đã làm trầm trọng thêm vấn đề khiến cả Jeremy Clarkson, người dẫn chương trình truyền hình Grand Tour nổi tiếng cũng lần đầu tiên thừa nhận ảnh hưởng của khủng hoảng khí hậu trong khi giới khoa học đã cảnh báo về những thay đổi trong lưu vực sông Mê Công từ nhiều thập kỷ.
Ý tưởng về việc xây đập ở hạ nguồn sông Mê Công bắt nguồn từ Chiến tranh Lạnh khi Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc coi thủy điện là một chiến lược tiềm năng để phát triển kinh tế. Việc xây đập rộ lên vào đầu những năm 2000, ở thời điểm đó, MRC ước tính bốn quốc gia thành viên – Campuchia, Việt Nam, Lào và Thái Lan – có thể thu lợi khoảng 30 tỷ đô la.
Nhưng chỉ mấy năm sau, MRC nhìn lại các dự báo và thừa nhận thiệt hại về môi trường đến từ đến các con đập lớn hơn bất kỳ lợi ích tiềm năng nào.
Bất chấp những cảnh báo này, Trung Quốc hiện vận hành tám đập lớn còn các quốc gia hạ nguồn sông Mê Công vẫn kiên trì với các kế hoạch riêng về xây đập thủy điện. Tính riêng Lào và Campuchia đã có hơn 140 đập được lên kế hoạch trên dòng chính và các dòng nhánh Mê Công.
Các đập thủy điện chia nhỏ Mê Công thành các hồ chứa, ngăn dòng chảy trầm tích giàu dinh dưỡng xuống hạ nguồn, thay đổi hình dạng và độ sâu của lòng sông, bờ sông. Theo WWF, từ năm 1992 đến 2014, tải lượng trầm tích lơ lửng ở lưu vực Mê Công đã giảm hơn một nửa.
Khi trầm tích bị chặn, nước biển xâm nhập vào sâu hơn, đe dọa hệ sinh thái nước ngọt mỏng manh của Mê Công. Con sông ăn vào bờ và lòng sông để lấy lượng trầm tích thay thế nhưng lại bị những người khai thác cát lấy nốt trầm tích còn lại nên vấn đề càng trầm trọng hơn.
Các con đập cũng ngăn chặn khoảng 160 loài cá di cư đường dài trong lưu vực sông.

Các con đập ở sông Mê Công có tác động tiêu cực đến cá da trơn khổng lồ di cư. 
(Ảnh: Zeb Hoga/EPA)

“[Cá] cần phải đi xa về thượng nguồn (phía bắc Lào) để đẻ trứng, còn cá con cần phải quay trở lại vùng ngập nước mênh mông ở đồng bằng sông Cửu Long và hồ Tonlé Sap để kiếm ăn. Bất kỳ trở ngại nào cho cuộc di cư này đều khiến chúng có nguy cơ tuyệt chủng rất cao”, Goichot phân tích.
Các loài cá lớn có lộ trình di cư dài hơn và do đó bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Năm 2010, quần thể cá tra dầu giảm 90% sau chỉ một thập kỷ.
“Cá tra Xiêm bị tuyên bố tuyệt chủng vào năm 2013. Trong số 692 loài cá nước ngọt được biết đến còn tồn tại ở vùng hạ nguồn sông Mê Công, 68 loài (10%) đang bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp độ toàn cầu và thêm 22 loài (3%) ở mức sắp bị đe dọa”, MRC nêu rõ trong báo cáo Tình hình Lưu vực năm 2018.
Sự suy giảm không chỉ do thay đổi môi trường. Thị trường chợ đen về cá nước ngọt Tonlé Sap là một ngành nghề phát triển mạnh ở mức quốc tế.
Rõ ràng đây là một chủ đề nhạy cảm với người dân ở hồ nên nhông ai muốn nói tới. Chủ thuyền không chắc chắn về những gì đã làm để kiếm sống, những người bán hàng ở chợ quên giá bán cá, một số người thậm chí không còn nhớ đã mua cá ở đâu. Điều này có thể do họ không chắc chắn rằng mình có bắt cá một cách hợp pháp hay không.

Sông Siem Reap chảy vào Tonlé Sap năm 2015. Năm nay mực nước xuống thấp kỷ lục. (Ảnh: David Wall/Alamy Stock Photo)

Nhiều thủ phạm là người dân địa phương, họ phải đánh bắt lậu vì cùng quẫn. Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc chỉ ra rất nhiều cách đánh bắt bất hợp pháp bằng thuốc nổ, bằng điện, chất độc và lưới trái phép.
Người dân cũng thường phớt lờ các lệnh cấm đánh bắt cá trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 khi một số khu vực nhất định bị hạn chế để cho phép cá đẻ trứng.
Rất nhiều loài cá bất hợp pháp lớn hơn bắt được ở Tonlé Sap được đưa ra nước ngoài tiêu thụ với giá cắt cổ ở những nhà hàng đặc sản, nhất là những loài cá được cho là mang lại may mắn và có tính cường dương. Việc buôn bán những con cá này bị cấm theo cả luật pháp quốc tế và nội địa của Campuchia nhưng việc thực thi còn yếu.

Các cộng đồng gần hồ từng thoải mái đánh bắt cá nhưng giờ đều phải đi mua dù giá tăng chưa từng có. (Ảnh: Zoe Osborne)

Tác động của buôn bán chợ đen bên cạnh việc xây đập, khai thác cát và các hoạt động khác của con người ngày càng trở nên rõ ràng.
Là một trong những nước có lượng cá nội địa lớn nhất thế giới, Campuchia phụ thuộc phần lớn vào sông Mê Công để đảm bảo an ninh lương thực. Trên khắp lưu vực hạ nguồn Mê Công, tỷ lệ chất đạm từ cá nước ngọt trong khẩu phần gấp 2,2 đến 8,6 lần trung bình thế giới.
Đối với những người sống gần Tonlé Sap, cá trước đây không mất tiền nhưng giờ họ phải mua với giá ngày càng tăng. Theo Vannak, một người bán cá ở chợ Xiêm Riệp, giá mua cao hơn gấp đôi vài năm trước.
“5 hay 10 năm trước, [chúng tôi đã mua] một cân cá với giá 4.000 hoặc 5.000 riel (1,20 đô la)”, anh vừa nói vừa chỉ vào con cá đang nướng. Bây giờ thì cá quả con (tiếng địa phương là trey rors) cũng có giá 10.000 riel/kg.
Tbong nhớ lại thời kỳ chỉ cần đặt lưới vào rừng ngập mặn là cá sẽ tự mắc vào.
“Bây giờ, khi tôi đi đánh cá, không chỉ một hai ngày đã được mà phải ở ròng rã trong hồ khoảng 10 hoặc 15 ngày”.

Ngư dân cho biết cá tự nhiên ngày càng hiếm. (Ảnh: Zoe Osborne)

Khi cá tự nhiên ngày càng hiếm, ngư dân lập ra các trang trại nuôi trồng thủy sản trong hồ, trong khi Campuchia cũng chuyển sang tìm các nguồn chất đạm thay thế. Những điều này có khả năng gây ra tác động sinh thái đáng kể.
“Các nguồn khác, có thể là thịt bò, đậu nành hoặc nuôi trồng thủy sản, tất cả đều sử dụng đất và nước [và] chúng gây ô nhiễm. Có nghĩa là các lựa chọn khác để sản xuất nguồn đạm sẽ gây áp lực lớn hơn đối với đất đai và có thể sẽ thúc đẩy chuyển đổi rừng nhiều hơn, cạnh tranh cao hơn với việc sử dụng nước của Campuchia”, theo Goichot.
Các chuyên gia cho biết những gì đang xảy ra ở Tonlé Sap là một dấu hiệu rất thực tế về những gì sẽ xảy ra cho toàn lưu vực Mê Công nếu việc khai thác tài nguyên tiếp tục không được kiểm soát. Phản ứng đưa ra còn rất chậm.
“MRC đã tương đối thành công trong việc tạo ra kiến thức nhưng không thành công trong việc tìm được tiếng nói chung hoặc sự đồng thuận với các quyết định quan trọng, đặc biệt là thủy điện hoặc quản lý trầm tích”, Goichot chua chát nhận xét.
Một số chiến lược được đưa ra. Năm 2017, Thủ tướng Việt Nam đã ký Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững ở đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2100. Các tổ chức môi trường cũng tiếp tục thúc đẩy hợp tác chặt chẽ hơn giữa chính phủ và doanh nghiệp.
Theo sáng kiến Resilient Asian Deltas (tạm dịch: Hồi phục các đồng bằng châu Á), WWF đang nỗ lực đảm bảo đầu tư tài chính và chính sách “xây dựng gắn với tự nhiên” khi hoạch địch các dự án phát triển. Theo một sáng kiến khác, tổ chức này cũng đang thực hiện chiến lược quản lý nguồn nước.

Rừng ngập mặn Tonlé Sap năm 2016. Rừng ngập mặn đang mất dần ngồn nước giàu dinh dương do bị các con đập chặn lại. (Ảnh: Panther Media GmbH/Alamy)

“Các sáng kiến này nhằm mục đích đánh động và lôi kéo các ngành cùng hành động tập thể để cùng giải quyết các thách thức của Mê Công chứ không chỉ bo bo lo cho mình, và cuối cùng có thể sẽ tạo được ảnh hưởng tích cực đến việc quản trị các hệ thống sông”.
Kiểu quản trị này không chỉ cần thiết cho tương lai của sông Mê Công mà đã rất cấp bách. Theo một nghiên cứu của MRC được thực hiện từ năm 2012 đến 2017, sinh khối dòng sông sẽ giảm 35-40% vào năm tới nếu không hành động nào được thực hiện.
“Phát triển thủy điện đến năm 2040 sẽ xóa bỏ cá di cư ở phần lớn sông Mê Công. Không có loài cá di cư nào sống sót được trong các hồ chứa được lên kế hoạch đến năm 2020 và 2040”, báo cáo cảnh báo.
Goichot kết luận: “Hệ hệ sinh thái sông Mê Công rõ ràng đang trải qua những thay đổi lớn rất đáng lo ngại. Chúng ta còn cách một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng bao xa?”.

Nhật Anh (Theo Guardian)

.

Sunday, February 9, 2020

ĐẬP DÒNG CHẢY GẶP PHẢI SỰ BẢO TỒN



(Run-off dam met with reservation)

Apinya Wipatayotin – Bình Yên Đông lược dịch
Bangkok Post – January 7, 2020


Vị trí đập Luang Prabang trên sông Mekong ở Lào. [Ảnh: RFA]

Người Thái lo sợ ảnh hưởng của các đập ở Lào nhưng quên rằng nhu cầu điện của họ cần phải được đáp ứng.

Giám đốc Quy hoạch và Chánh sách Năng lượng của Lào nói rằng nhà máy thủy điện được dự trù ở Luang Prabang sẽ không có ảnh hưởng xuyên biên giới đáng kể với Thái Lan, và thêm rằng, với sự ủng hộ của Thái Lan, dự án sẽ mang lợi ích đến tất cả mọi người.

Giám đốc Chansaveng Buongnong nói việc sản xuất thủy điện là trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế nòng cốt của Lào vì nguồn tài nguyên dồi dào thích hợp cho các dự án như vậy.  Ông nói: “Lào có các khách hàng quan trọng trong khu vực, như Thái Lan, thường mua điện từ các nhà máy của Lào.  Hơn nữa, những dự án nầy giúp giảm mức thất nghiệp và phát triển nông thôn.”

Ông cũng nhấn mạnh rằng kế hoạch thủy điện của Lào chỉ có ảnh hưởng giới hạn đối với hệ sinh thái sông của Thái Lan, vì “máng cá” được xây cất đặc biệt để cho phép cá tiếp tục sống và sinh sản dọc theo khúc sông bị ngăn đập.

Trong buổi họp đầu tiên của Thủ tục Thông báo, Tham vấn Trước và Thỏa thuận (Procedure for Notification, Prior Consultation and Agreement (PNPCA)) cho dự án ở Nakhon Phanom, ông cho biết: “Các bộ trưởng năng lượng của chúng tôi đã thảo luận về dự án, nâng cao lòng tự tin của chúng tôi về tương lai của dự án.  Đây sẽ là đập dòng chảy thứ hai sau đập Xayaburi, có thể bắt đầu hoạt động trong năm nay.”

Các buổi họp PNPCA thứ hai và thứ ba sẽ được tổ chức ở Amnat Charoen và Loei trong tháng tới.  Thủ tục được ấn định qua thỏa thuận hợp tác phát triển khả chấp Mekong được Cambodia, Lào, Việt Nam và Thái Lan ký kết hồi năm 1995.

Bất cứ nhà phát triển nào quy hoạch 1 dự án trên dòng chánh Mekong phải lắng nghe những quan ngại về dự án của các thành viên khác.  Nói như thế, thỏa thuận không cho các thành viên khác có quyền phủ quyết dự án.

Nhưng Hệ thống Nhân dân 8 Tỉnh dọc theo sông Mekong đả kích kịch liệt đập Luang Prabang, cho rằng thủ tục PNPCA không bảo vệ và bảo tồn tài nguyên sông Mekong.  Họ kêu gọi chánh phủ đầu tư vào các nguồn năng lượng thay thế để giảm nhập cảng điện từ Lào.  Họ nói rằng việc tiêu thụ điện rất cao ở Thái Lan là yếu tố chánh hình thành việc xây dựng thêm các nhà máy thủy điện ở Lào.

Dự án, do chánh phủ Lào và một tổ hợp công ty Thái Lan và Việt Nam đồng sỡ hũu, sẽ là một nhà máy thủy điện dòng chảy có công suất khoảng 1.460 MW xây trên sông Mekong, giữa đập Pak Beng ở phía bắc và đập Xayaburi ở phía nam.  Điện sản xuất được dự trù xuất cảng sang Thái Lan và Việt Nam.

Việc xây cất được dự trù sẽ hoàn tất vào năm 2027, và được thực hiện bởi CH Karnchang, công ty đứng sau đập Xayaburi.  Chansaveng nói rằng đập Luang Prabang, giống như đập Xayaburi, có thể chịu đựng được lũ và động đất lớn và cải thiện việc quản lý nước trong vùng.

Tuantong Jutagate, Khoa Nông nghiệp của Đại học Ubon Ratchathani, nói thách thức hiện nay là minh chứng các máng cá có giúp ích cho số cá trong sông hay không, vì một số chủng loại cá cần độ sâu để sinh sản.  Ông nói: “Có ít nhất 7 chủng loại cá địa phương sẽ biến mất vì không còn các cù lao nhỏ dọc theo sông mà chúng nương tựa.  Không có những biện pháp để giới hạn ảnh hưởng của đập, và đây chắc chắn là một vấn đề xuyên biên giới sẽ có ảnh hưởng đến số cá trong sông.”


Lào có kế hoạch xây tổng cộng 5 đập dòng chảy trên sông Mekong – Xayaburi, Don Sahong, Pak Beng, Pak Lay và Luang Prabang.  Suriya Kotamee, chủ tịch hệ thống nghiên cứu ở địa phương chú trọng đến hạ lưu sông Songkram, bày tỏ lo ngại vì dự án sẽ gia tăng áp lực lên sông Mekong và các phụ lưu đã bị việc xây cất đập Xayaburi ảnh hưởng.  Ông thêm rằng cư dân bị ảnh hưởng của đập Xayaburi chưa nhận được bất cứ trợ cấp nào từ chánh phủ.  Ông nói: “Lưu lượng giảm sẽ giáng 1 đòn chí tử vào số cá đã giảm và cộng đồng sống nhờ vào sông.  Một ngân khoản phải được thiết lập để giúp cho người dân ở hạ lưu Mekong bị ảnh hưởng bởi đập.”


Somkiat Prajamwong, tổng thư ký của Văn phòng Ủy ban Quốc gia Thủy Lợi, cam kết đệ trình tất cả ý kiến trong buổi họp với Ủy ban Mekong Quốc gia Thái Lan và Vientiane.  Ông cũng nói rằng mặc dù đập Luang Prabang có ảnh hưởng đối với Thái Lan ít hơn đập Xayaburi, bất cứ công tác nào của dự án phải được quản lý thích đáng để bảo đảm rằng chúng ít gây ảnh hưởng đến môi trường và nhu cầu ở địa phương phải được cứu xét.
Ông nói: “Những khiếu nại về đập Xayaburi phải được cứu xét.”

.

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: HÌNH ẢNH RỐI LOẠN CỦA SẠT LỞ BỜ



(The Mekong Delta: an unsettling portrait of coastal collapse)

John Reed – Bình Yên Đông lược dịch
The Financial Times – Juanuary 4, 2020

Một trong những vùng đất ngập nước lớn nhất Á Châu đang lún xuống biển – và thay đổi khí hậu chỉ chiếm một phần.


Một số thảm họa môi trường kéo dài nhiều năm; một số khác đến bất ngờ - hay nhanh như chớp.  Sự kiện sau xảy ra vào một ngày trong tháng 8, khi cư dân ở Bình Mỹ, một xã trù phú ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam, nghe một tiếng nứt rất lớn.  Họ túa ra để thấy khoảng 30 m quốc lộ chạy dọc theo nhà của họ sụp xuống sông khi lớp nhựa vỡ ra.  Một trong những vùng đất ngập nước lớn nhất Á Châu đang lún xuống biển, một phần do thay đổi khí hậu làm mực nước biển dâng.  Nhưng khi được hỏi lý do của việc sạt lở, một nông dân địa phương tên Bo chỉ vào cần trục trên tàu ở giữa sông – cách xa khảng 1 km – đó là khai thác cát.  “Họ làm cho đáy sông càng ngày càng sâu hơn,” anh vừa nói vừa ra bộ đào bới.  Các nhà nghiên cứu theo dõi Mekong nói khủng hoảng chồng chất từ nhiều năm đã trở nên khẩn cấp trong những tháng gần đây.  Họ cáo buộc 2 hiện tượng nhân tạo: khai thác cát từ đáy sông và xây cất các đập thượng lưu mới ở Lào và Trung Hoa làm thay đổi dòng nước, phù sa và màu nước.

Một phần của quốc lộ sụp xuống sông Hậu sau khi bị sạt ở phía dưới. 
[Ảnh: Hải Thanh/FT]

Tàu khai thác cát hiện diện ở khắp nơi trong ĐBSCL.  Cát là nhu cầu to lớn cần thiết cho bê tông trong việc xây cất các cao ốc ở thành phố Hồ Chí Minh và khai khẩn đất đai trên biển ở Singapore.  Nhưng tất cả các hoạt động che kín cái giá ngày càng tăng của việc khai thác cát, sôi nổi toàn cầu nhưng rất mờ ám và ít được kiểm soát.  Cái nguy hiểm không chỉ là một thiên đàng sinh thái, nhưng là một vùng đông dân quan trọng về kinh tế mà người Việt Nam gọi là “chén cơm”.  Tương đương về diện tích và dân số với Hòa Lan, ĐBSCL là sân vườn của thành phố Hồ Chí Minh và là nền ngư nghiệp nội địa lớn nhất của cả nước – nguồn cung cấp hàng đầu về tôm, cá và trái cây.  Đập đầu tiên trong 11 đập dự trù trên dòng chánh ở hạ lưu Mekong bắt đầu hoạt động, một sự kiện mà các khoa học gia nói là sẽ thay đổi dòng sông vĩnh viễn.  Hàng trăm km về phía thương lưu ở Lào, 2 trong số nầy bắt đầu hoạt động hồi năm ngoái, ngăn chận phù sa từng là phương pháp tự nhiên để bù đắp cát bị khai thác.  “Nó như nhà của anh: khi nền móng bị sạt lở, nó sẽ sụp đổ,” Dương Văn Ni, giám đốc Hệ thống Đại học Đất ngập nước (Wetland University Network), một nhóm nghiên cứu theo dõi ĐBSCL với nhiều cảnh báo.  Đối với thế giới nơi mà sự mất mát của cộng đồng ven bờ đáng lo ngại, ĐBSCL là hình ảnh rối loạn của tương lai trong hiện tại.  Người dân Bình Mỹ nói với Financial Times họ được thông báo phải di chuyển đồ đạc trong nhà và chuẩn bị di tản trong thời gian ngắn.

Đào cát dọc theo sông Mekong, gần Vientiane ở Lào. [Ảnh: Getty Images]


Ở phía bắc Thái Lan, người dân sống ven sông nói mực nước xuống rất thấp và nước thường đục ngầu trở nên trong xanh kể từ khi đập Xayaburi ở Lào bắt đầu hoạt động trong tháng 10.  Các nhà sinh học gọi hiện tượng nầy là “nước đói” vì nó chảy nhanh hơn và gây sạt lở nhiều hơn.  Giống như lân bang Trung Hoa khám phá trong 2 thập niên qua, thăng hoa kinh tế thường đi với nguy hại môi trường.  Tháng qua, Việt Nam đồng ý nhập cảng thêm điện từ các đập của Lào để duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức 7% - một trong những mức tăng trưởng nhanh nhất Á Châu.  Nhưng cả nước đang trả giá với ô nhiễm gia tăng, tận diệt tài nguyên và phát triển bừa bãi.  Marc Goichot của chương trình Đại Mekong WWF ở thành phố Hồ Chí Minh nói: “Hầu hết các công ty nghĩ rằng họ không tùy thuộc vào sông, nhưng nếu anh mất ngư nghiệp, thì thực phẩm lên giá và tiền lương cũng tăng.  Đó là một tiếng xấu nếu để các cộng đồng lâm nguy, và quản lý xấu nếu không cứu xét sự khan hiếm của nước hay cát.”  Ông nói thêm: “Tất cả là doanh nghiệp xấu.”


Người Việt Nam gọi đồng bằng “Cửu Long” (“chín con rồng”) vì dòng sông, sau khi chảy từ cao nguyên Tây Tạng qua 6 quốc gia, chia ra thành nhiều nhánh trước khi đổ ra Biển Đông.  Theo niên đại địa chất, nó rất trẻ, được hình thành khoảng 6.000 năm trước từ phù sa chảy ra biển, tạo thành các cồn cát rồi thành đất liền.  Rừng đước mọc lên, và là nơi cư trú của báo, cá sấu và thú hoang trước khi chúng bị con người thay thế.  Khoảng 20% dân số 96 triệu người của Việt Nam sống ở ĐBSCL, bao gồm nhiều công nhân đều đặn đi lại để làm thợ may, đồ gỗ và điện tử ở trong hay ở gần thành phố Hồ Chí Minh, đầu tàu kinh tế của cả nước.  Trong hơn một thế kỷ bị lôi cuốn hay đẩy tới ĐBSCL, từ thời Pháp thuộc qua Việt Nam Cộng Hòa được Hoa Kỳ ủng hộ và hiện nay dưới chánh phủ cộng sản.  Ngày nay, ĐBSCL là “một trong những nơi được kiến tạo nhất trên trái đất”, theo Brian Eyler, giám đốc đông-nam Á Châu của Trung tâm Stimson và tác giả quyển Những Ngày Cuối cùng của Mekong Hùng vĩ (Last Days of the Mighty Mekong).


Chánh phủ dời cư các gia đình sống ven sông vì lo sợ nhà của họ bị cuốn trôi. 
[Ảnh: Hải Thanh/FT]

Eyler nói: “Việc sử dụng ĐBSCL đã vượt quá khả năng tự quản lý của nó.  Cái chúng ta đang thấy là mất sản lượng (diminishing economic returns), và khu vực không theo kịp với tăng trưởng kinh tế.”  Hai thập niên trước, ĐBSCL vẫn còn lấn đất ra biển.  Ngày nay các nhà nghiên cứu nói rằng khu vực đang mất đi đến 12 m bờ biển ở nhiều nơi.  Mực nước cao và đất chìm xuống khiến nước mặn xâm nhập nhiều hơn, làm xáo trộn sự cân bằng giữa nước ngọt, nước mặn và nước lợ mà nông dân trồng lúa, trái cây và nuôi tôm ở ĐBSCL dựa vào.  Một bài viết vừa được Climate Central, một tổ chức bất vụ lợi, công bố đã làm cho nhiều người ở Việt Nam chú ý khi tiên đoán rằng vào năm 2050 hều hết ĐBSCL sẽ chìm dưới mặt biển.  Nhưng có một số nghi ngờ về phương pháp dùng để tiên đoán, và các nhà nghiên cứu nói rằng mực nước biển hiện nay dâng lên rất chậm, khoảng 3 mm mỗi năm.  Nguy cơ gần hơn, theo các nhà nghiên cứu và cư dân, là sạt lở đất.  Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên viên môi trường và cố vấn nghiên cứu ĐBSCL, nói: “Thay đổi khí hậu thì từ từ và có thể thích ứng.  Các bước phát triển sai có thể được sửa chữa bằng việc thay đổi chánh sách, và chánh sách đang thay đổi ở Việt Nam.  Nhưng ảnh hưởng của các đập ở thượng lưu rất nghiêm trọng, thường trực và không thể đảo ngược một khi đập được xây.”  Ảnh hưởng được cảm nhận trên cù lao Minh, một đảo nhỏ trong một nhánh của Mekong.  Người dân ở đây thường sinh sống bằng nghề đánh cá, nhưng mới đây đã trồng chôm chôm, bưởi, nhãn và các loại trái cây khác để bán theo nhu cầu.


Nhận thức của cộng đồng là họ đang sống vay mượn.  Bùi Hồng Nam, một phóng viên TV và đài phát thanh địa phương tường trình vụ sạt lở trong vùng nói: “Người dân đang mất nhà, đất và vườn.”  Hồ Văn Chiến, một giới chức địa phương trên đảo của xã An Bình, cho biết có 2 nhà sụp xuống sông trong tháng 10 và khoảng 10 gia đình đã dời vào “đất liền”.  Ông nói người dân địa phương muốn chánh phủ xây một con đê. “Nếu họ không làm, đất sẽ sụp đổ.”  Cũng như những người khác ở ĐBSCL, ông cáo buộc cho việc khai thác cát đã gây sạt lở.  Ông nói: “Tất cả các tàu đều về Sài Gòn,” tên cũ của thành phố Hồ Chí Minh.  Khi ĐBSCL sụt lún, các khu đô thị cũng bị ảnh hưởng.  Cần Thơ, thành phố lớn nhất vùng, có một cầu mới dài 3 km do Nam Hàn xây [Lời người dịch: Nhật bản chứ không phải Nam Hàn] bắc qua sông Hậu, một trong “chin con rồng” Mekong.  Khách sạn Vinpearl và Vincom Plaza cũng vừa được xây bởi Vingroup, một tổ hợp lớn nhất ở Việt Nam.  Cùng với khung cảnh của bờ sông, một hàng rào màu xanh che khuất một phần bờ sạt lở.

Ngư nghiệp chịu ảnh hưởng vì ô nhiễm, phát triển và đập ở thượng lưu thay đổi sông Mekong và các phụ lưu. [Ảnh: Hải Thanh/FT]


Sáu trong số 12 tỉnh của ĐBSCL nay cần phải có “những biện pháp khẩn cấp”, truyền thông nhà nước tường trình trong tháng 9, và đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp hay phong tỏa đất ven sông vì sạt lở.  Các nhà hoạch định cộng sản Việt Nam đã thông qua một kế hoạch khẩn cấp, Nghị quyết 120, sơ lược các biện pháp cần thiết để “phục hồi” cho ĐBSCL.  Phần lớn, nó chú trọng giúp cho các cộng đồng bị đe dọa đổi nghề hay đổi chỗ ở.  Hầu hết cát trên thế giới dùng cho việc xây cất là cát sông.  Nó là món hàng miễn phí, ngoại trừ luật lệ và giấy phép, và khai thác cát rất phổ biến ở Việt Nam, Cambodia, và Lào trong hơn 20 năm.  Mức sản xuất leo thang trong thập niên vừa qua do nhu cầu xây cất và hạ tầng cơ sở ở Việt Nam và các dự án khai khẩn đất ở Singapore.


Để đối phó với việc khai thác bừa bãi, Hà Nội tìm cách kiểm soát kỹ nghệ khai thác cát.  Bộ môi trường vừa báo cho những người khai thác cát nơi mà họ có thể hay không thể khai cát cát, với đe dọa truy tố.  Nhưng các nhà nghiên cứu nói rằng những quy định nầy rất dễ bị qua mặt.  Trên một chuyến phà ngang sông Cổ Chiên, một nhánh khác của Mekong, phóng viên Nam chỉ vào một tàu khai thác cát đậu ở giữa sông vào buổi sáng ngày thường.  Ông vừa nói khu vực mà tàu đang khai thác cát là bất hợp pháp, vừa trải một bản đồ của bộ môi trường cho thấy việc mua bán cát bị kiểm soát.  Các tàu khai cát cát dùng số giả.  Vì các nỗ lực thi hành luật pháp được hực hiện bởi các tỉnh, một số tàu nằm ở giữa sông, trên ranh giới tỉnh để sẳn sàng chạy qua tỉnh kế cận để tránh bị phạt.

Ngay nếu tàu khai thác cát phạm luật, tiền phạt rất thấp và tàu có thể đi qua tỉnh khác để lẩn tránh. [Ảnh: Hải Thanh/FT]


Họ cũng lợi dụng không gian của sông.  Nam nói: “Họ làm việc sau nửa đêm – 4 hay 5 tàu – vì nhà nước chỉ có lực lượng để bắt 1 tàu.”  Ngay khi người khai thác cát bị bắt, tiền phạt cũng rất nhỏ.  Theo các nhà nghiên cứu và cư dân, người dân trong cộng đồng bị sạt lở đe dọa nặng nhất thường xung đột bạo lực với nhân công khai thác cát, bằng súng cao su và gậy.  Sự kiện trùng hợp với kiến thức ngày càng tăng về cái giá mà ĐBSCL phải trả cho việc điều hành thêm các đập.  Ông Thiện, một nhà hoạt động môi trường, nói: “Dựa trên những gì chúng tôi được biết, trong tương lai, khi 11 đập hoạt động, sẽ không còn cát.  Cát chúng tôi có hiện nay, bao nhiêu đó.”  Giới chức Việt Nam càng ngày càng đặt thay đổi khí hậu vào trọng tâm của việc hoạch định chánh sách.  Vấn đề môi trường, tương tự như vụ tràn chất độc hại ở một nhà máy thép do Đài Loan sở hữu, đã gây bất ổn cho một quốc gia tự hào ổn định.  Nghị quyết 120 của chánh phủ, về “phát triển khả chấp và chống chọi khí hậu” cho ĐBSCL, nhắm giải quyết một số vấn đề địa phương.  Mai Trọng Nhân, phó chủ tịch của Nhóm Thay đổi Khí hậu Việt Nam (Vietnam Panel on Climate Change), nói: “Sạt lở gia tăng vì khai thác cát.”  Ông ước tính rằng phù sa trong sông đã sụt giảm ít nhất ½ so với thời kỳ trước khi các đập trên sông Mekong được xây cất khoảng 1 thập niên trước đây.  Ông nói chánh phủ đang áp dụng các biện pháp kỹ thuật như bờ kè bê tông, nhưng càng ngày càng bác bỏ các biện pháp dựa trên chi phí-lợi ích.

Tàu chở cát đậu ở xã Bình Phú. [Ảnh: Hải Thanh/FT]

Chánh phủ cũng chú trọng đến chiến dịch quảng bá, “để người dân có thể thấy sự nguy hiểm của sạt lở ngắn hạn”.  Họ lo sợ cho cuộc sống, ông Nhân nói thêm: “Họ có kinh nghiệm sông nước.”  Chánh phủ Việt Nam khuyến khích các công ty khai thác cát tìm cách khác để sản xuất cát: xay đá để làm cát xây dựng hay sử dụng cát biển cho bãi rác, ông Nhân nói.  Việt Nam cũng cấm xuất cảng cát từ năm 2017, nhưng các nhà môi trường tin rằng những người khai thác cát đang tìm cách để tránh việc cấm đoán.  Báo chí do nhà nước kiểm soát – chỉ dấu đáng tin cậy của ưu tư chánh thức và giới hạn của việc thảo luận – đã bắt đầu tường trình sự việc đang xảy ra ở ĐBSCL.  Câu chuyện gần đây ở Cà Mau, một trong những tỉnh giáp với biển nhiều nhất, nói rằng giới chức đã di tản dân và xây nhà mới cho 5.000 người.  Một số bài báo, với hình ảnh sụp đổ của đường sá và nhà cửa, làm cho người đọc thêm rối loạn.  Ông Eyler nói: “Chánh phủ Việt Nam đang thay đổi 180 độ.  Đó là cách thừa nhận sai lầm và rất có ích.”


.

Tuesday, February 4, 2020

DỰ ÁN CHUYỂN NƯỚC NAM-BẮC CỦA TRUNG HOA CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MEKONG HAY KHÔNG?


Nguyễn Minh Quang
Tháng 1 năm 2020

Sơ đồ dự án chuyển nước nam-bắc của Trung Hoa. [Ảnh: Wikipedia]


Phần dẫn nhập

Trong bài báo có tựa đề “Trung Quốc chuyển nước lên phía bắc: Mekong có lo hơn?” trên báo Đất Việt đề ngày 14 tháng 12 năm 2019, phó giáo sư tiến sĩ (PGS TS) Đào Trọng Tứ, phó chủ tịch Hội Tưới tiêu Việt Nam, nguyên phó tổng thư ký Ủy ban sông Mê Công Việt Nam, cho biết việc chuyển nước từ phía nam lên phía bắc của Trung Hoa “… là một vấn đề lớn, cần phải đánh giá thận trọng.”  Ông cũng nói thêm rằng: “Đối với tình trạng đổi màu của sông Mekong hiện nay,…  cần phải nghiên cứu xem nguyên nhân chính là do đâu, có tác động của việc Trung Quốc chuyển nước hay không.  Nếu Trung Quốc chuyển nước lên phía bắc, nước xuống hạ lưu sông Mekong ít hơn thì đó là vấn đề nghiêm trọng.” [1]
Dự án chuyển nước từ phía nam lên phía bắc của Trung Hoa như thế nào? Ảnh hưởng, nếu có, đối với sông Mekong ra sao?  Có nghiêm trọng như nhận định của PGS TS Đào Trọng Tứ hay không?  Bài viết nầy có mục đích trả lời những câu hỏi vừa nêu.

Dự án Nam thủy Bắc điều

Dự án Nam thủy Bắc điều hay dự án chuyển nước nam-bắc của Trung Hoa là một dự án hạ tầng cơ sở khổng lồ có một không hai trên thế giới.  Mục đích tối hậu của dự án là chuyển mỗi năm khoảng 45 tỉ m3 nước sông Yangtze (Trường Giang hay Dương Tử) ở phía nam nhiều mưa lên phía bắc khô cằn và kỹ nghệ hóa bằng kinh đào.  Dự án phát xuất từ ý tưởng của Mao Zedong (Mao Trạch Đông) vào năm 1952 để “mượn ít nước” từ miền nam thừa mứa cho miền bắc thiếu thốn [2].  Chi phí cho toàn thể dự án được ước tính khoảng 62 tỉ USD – hơn 2 lần chi phí của đập Three Gorges (Tam Hiệp).  Đến năm 2014, chi phí đã lên đến 79 tỉ USD, khiến nó trở thành dự án kiến tạo tốn kém nhất lịch sử, mặc dù chưa hoàn tất.  Dự án gồm có 3 nhánh kinh: nhánh phía đông, nhánh trung tâm và nhánh phía tây.

Nhánh phía đông

Nhánh phía đông lấy nước từ sông Yangtze qua các trạm bơm, đường hầm, kinh đào và máng nước (aqueduct) để cung cấp nước cho các tỉnh Shandong (Sơn Đông), Jiangsu (Giang Tô) và Hebei (Hà Bắc).  Tianjin (Thiên Tân) cũng sẽ nhận nước từ nhánh phía đông trong tương lai.  Khả năng chuyển nước của nhánh phía đông là 13 tỉ m3 mỗi năm.  Chiều dài khi hoàn tất là 1.152 km với 23 trạm bơm.  Qua khỏi sông Yellow (Hoàng Hà), nước trong kinh chảy bằng trọng lực.

Một đoạn kinh của nhánh phía đông. [Ảnh: IC]

Nhánh trung tâm

Nhánh trung tâm lấy nước từ hồ Danjiangkou (Đơn Giang Khẩu) trên sông Han (Hán Giang), một phụ lưu của sông Yangtze, vào kinh đào thẳng đến Beijing (Bắc Kinh) và Tianjin.  Để nước chảy bằng trọng lực, mực nước trong hồ được nâng lên từ 157 m đến 170 m trên mực nước biển trung bình.  Khả năng chuyển nước ban đầu của nhánh trung tâm là 9,5 tỉ m3 mỗi năm, và sẽ tăng lên 12-13 tỉ m3 mỗi năm vào năm 2030.  Chiều dài của nhánh trung tâm là 1.264 km.

Một đoạn kinh của nhánh trung tâm. [Ảnh: ECNS]

Nhánh phía tây

Nhánh phía tây vẫn còn trong giai đoạn quy hoạch, nhằm mục đích chuyển nước từ thượng nguồn sông Yangtze (từ các phụ lưu Tongtian, Yalong và Dadu) vào thượng nguồn sông Yellow.  Nhánh phía thây cần. những đường hầm dài xuyên qua cao nguyên Tibet (Tây Tạng) và Tây Yunnan (Vân Nam).  Khả năng chuyển nước của nhánh phía tây là 3,8 tỉ m3 mỗi năm.  Chiều dài tổng cộng của nhánh phía tây là 450 km gồm có 289 km từ Tongtian, 131 km từ Yalong và 30 km từ Dadu.

Ngoài ra, cũng có kế hoạch để chuyển 200 tỉ m3 nước mỗi năm từ thượng nguồn của 6 con sông ở tây nam Trung Hoa – kể cả Mekong (Lancang), Yarlung Zangbo (thượng nguồn của sông Brahmaputra), Salween (Nu) – vào sông Yangtze và Yellow và cuối cùng đến miền bắc khô cằn qua một hệ thống hồ chứa, đường hầm và sông.  Kế hoạch nầy có ảnh hưởng xuyên biên giới đối với Ấn Độ, Bangladesh, Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam; nhưng quá bao la và vô cùng tốn kém để thực hiện trong lúc nầy [2].

Ảnh hưởng đối với Mekong

Như được mô tả ở trên, mục đích chính của dự án Nam thủy Bắc điều là chuyển nước của sông Yangtze để cung cấp nước cho vùng khô cằn nhưng kỹ nghệ hóa ở phía bắc Trung Hoa, trong đó có thủ đô Beijing.  Do đó, dự án chuyển nước lên phía bắc của Trung Hoa hoàn toàn không có ảnh hưởng đến Mekong, trong hiện tại lẫn tương lai trước mắt.

Tuy nhiên, tình hình có thể thay đổi trong tương lai lâu dài nếu kế hoạch chuyển 200 tỉ m3 nước mỗi năm từ thượng nguồn của 6 con sông ở tây nam Trung Hoa, trong đó có sông Mekong, vào thượng nguồn sông Yangtze và Yellow.  Ảnh hưởng như thế nào tùy thuộc vào lưu lượng nước chuyển từ sông Mekong.

Mức độ nghiêm trọng

Như chúng ta đã biết, sông Mekong bắt nguồn từ Trung Hoa rồi chảy qua 5 quốc gia Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam trước khi đổ ra Biển Đông.  Lưu lượng trung bình hàng năm của toàn lưu vực Mekong là 475 tỉ m3 [3].  Phần lưu vực trong lãnh thổ Trung Hoa đóng góp 16% [4] lưu lượng của toàn lưu vực hay 76 tỉ m3 mỗi năm.

Vì nước được chuyển từ thượng nguồn, nên kế hoạch chuyển nước, nếu được thực hiện, chỉ có thể chuyển hàng năm một phần nhỏ của 76 tỉ m3 mà thôi.  Hơn nữa, Trung Hoa không thể chuyển nước ra khỏi thượng nguồn sông Lancang quá nhiều vì phải duy trì lưu lượng cho việc vận hành chuỗi đập thủy điện trên sông Lancang.  Do đó, ảnh hưởng của kế hoạch chuyển nước đối với sông Mekong sẽ rất hạn chế và không phải là một vấn đề nghiêm trọng.

Tuy nhiên, tình hình hoàn toàn thay đổi nếu Trung Hoa có kế hoạch chuyển nước sông Lancang từ hạ nguồn đập Jinghong (Cảnh Hồng), đập thủy điện cuối cùng của chuỗi đập thủy điện trên sông Lancang.  Vì không còn phải duy trì lưu lượng để vận hành nhà máy thủy điện, Trung Hoa có thể chuyển phần lớn, nếu không nói tất cả, lưu lượng xả ra từ đập Jinghong ra khỏi lưu vực Lancang-Mekong.

Trong trường hợp nầy, ảnh hưởng đối với Mekong tùy thuộc vào số lượng nước được chuyển ra khỏi sông Lancang-Mekong và mức độ sẽ giảm dần về phía hạ lưu; do đó, ảnh hưởng đối với Đồng bằng sông Cửu Long có lẽ không đáng kể.  Việc chuyển nước ra khỏi sông Lancang-Mekong sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc lưu thông của tàu bè trên sông Mekong ở Thái Lan và Lào và việc vận hành của các đập thủy điện dòng chảy (run-of-the-river) trên dòng chánh Mekong ở Lào, nhất là vào mùa khô, vì các đập nầy không có hồ chứa nước mà chỉ dựa vào lưu lượng của sông tại vị trí đập.

Các giải pháp khả thi

Như đã trình bày ở trên, dự án Nam thủy Bắc điều chỉ chuyển nước của sông Yangtze lên phía bắc; do đó, nó không đáng lo ngại vì hoàn toàn không có ảnh hưởng đến Mekong.

Việc chuyển nước của Trung Hoa sẽ là một vấn đề lớn nếu phần lớn, hay tất cả, lưu lượng của sông Lancang-Mekong được chuyển ra khỏi lưu vực ngay phía dưới đập Jinghong.  Đây là một vấn đề chung của các quốc gia thành viên trong Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC) gồm có Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam mà Thái Lan và Lào là 2 quốc gia chịu ảnh hưởng trực tiếp nặng nề nhất.  Mặc dù không phải là một thành viên, Trung Hoa cũng tham gia MRC với tư cách một “đối tác đối thoại”; vì thế, MRC có lẽ là một diễn đàn thích hợp nhất để các quốc gia thành viên MRC “đối thoại” với Trung Hoa về lưu lượng của sông Lancang-Mekong.

Việc đối thoại có thể dựa trên Điều 6 của Thỏa ước Hợp tác Phát triển Khả chấp Lưu vực Mekong (Agreement on the Cooperation for the Sustainable Development of the Mekong River Basin) được ký kết ngày 25 tháng 4 năm 1995 để thành lập MRC.  Điều khoản nầy đề cập đến sự hợp tác để duy trì lưu lượng trên dòng chánh - qua việc chuyển nước, xả nước từ hồ chứa, hay các hoạt động thường trực, ngoại trừ trường hợp hạn hán hay lũ lụt lịch sử - a) không thấp hơn lưu lượng tự nhiên tối thiểu hàng tháng trong các tháng mùa khô, b) ở mức chấp nhận được để sông Tonle Sap chảy ngược trong mùa mưa, và c) đỉnh lũ trung bình hàng ngày không vượt quá đỉnh lũ trung bình tự nhiên trong suốt mùa lũ. [4]

Các chi tiết về lưu lượng trong Điều 6, tuy nhiên, vẫn chưa được Ủy ban Hỗn hợp ấn định theo Điều 26 của Thỏa ước.  Do đó, công tác nầy cần được thực hiện càng sớm càng tốt để làm cơ sở cho việc đối thoại với Trung Hoa.

Ngoài diễn đàn MRC, Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)) cũng là một diễn đàn thích hợp để các quốc gia hạ lưu Mekong đối thoại với Trung Hoa, vì tất cả các quốc gia Mekong đều là thành viên của LMC.  Với nguyên tắc “chia sẻ dòng sông, chia sẻ tương lai” [5], sự hợp tác giữa các quốc gia LMC sẽ được đẩy mạnh để sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên nước qua việc thành lập trung tâm hợp tác nguồn nước Lancang-Mekong ở Trung Hoa để dùng như một diễn đàn hoạt động cho các quốc gia LMC [6].

Một giải pháp khác là các quốc gia hạ lưu Mekong gồm có Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam cùng thương thảo với Trung Hoa để đi đến một hiệp ước quốc tế, tương tự như Hiệp ước 1944 về việc Sử dụng Nước sông Rio Grande, Colorado và Tijuana giữa Hoa Kỳ và Mexico [7].  Theo hiệp ước nầy, Mexico được bảo đảm một lưu lượng tối thiểu hàng năm 1,85 tỉ m3 nước của sông Colorado [8], nhưng không ấn định phẩm chất của nước.  Tình trạng trở nên tồi tệ trong thập niên 1950s nên Mexico phản đối.  Một thỏa ước được ký kết vào năm 1974 bắt buộc nước sông Colorado xả xuống Mexico phải có phẩm chất tương tự như nước uống ở Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ đã xây và điều hành một nhà máy lọc nước ở Yuma, Arizona để tuân thủ tiêu chuẩn nầy [9].

Phần kết luận

Dự án chuyển nước từ phía nam lên phía bắc, mà người Trung Hoa gọi là Nam thủy Bắc điều, phát xuất từ ý tưởng của chủ tịch Mao Zedong vào năm 1952.  Mục đích tối hậu của dự án là đưa 45 tỉ m3 nước của sông Yangtze lên miền bắc khô cằn được kỹ nghệ hóa mỗi năm, trong đó có thủ đô Beijing.  Vì vậy, dự án chuyển nước lên phía bắc của Trung Hoa hoàn toàn không có ảnh hưởng đến Mekong, trong hiện tại lẫn tương lai trước mắt.

Trong tương lai lâu dài, nếu kế hoạch chuyển 200 tỉ m3 nước mỗi năm từ thượng nguồn của 6 con sông ở tây nam Trung Hoa, trong đó có sông Mekong, được thực hiện sẽ có ảnh hưởng đến Mekong, tùy theo lưu lượng nước được chuyển ra khỏi Mekong.  Tuy nhiên, ảnh hưởng sẽ rất hạn chế vì Trung Hoa phải duy trì lưu lượng cho việc vận hành chuỗi đập thủy điện trên sông Lancang.

Tình hình hoàn toàn thay đổi nếu Trung Hoa có kế hoạch chuyển nước sông Lancang từ hạ nguồn đập Jinghong.  Vì không còn phải duy trì lưu lượng để vận hành nhà máy thủy điện, Trung Hoa có thể chuyển phần lớn, nếu không nói tất cả, lưu lượng xả ra từ đập Jinghong ra khỏi lưu vực Lancang-Mekong.  Nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc lưu thông của tàu bè trên sông Mekong ở Thái Lan và Lào và việc vận hành của các đập thủy điện dòng chảy trên dòng chánh Mekong ở Lào.  Ảnh hưởng đối với Đồng bằng sông Cửu Long có lẽ không đáng kể vì ở quá xa về phía hạ lưu.  Tuy nhiên, Trung Hoa sẽ phải cân nhắc giữa lợi ích của việc chuyển nước với lợi ích của việc duy trì lưu lượng trong sông cho mậu dịch và vận chuyển.

Để bảo vệ quyền lợi của mình trong trường hợp Trung Hoa chuyển nước ra khỏi sông Lancang-Mekong ở phía dưới đập Jinghong, các quốc gia hạ lưu Mekong có thể hợp lực để đối thoại với Trung Hoa qua các diễn đàn quốc tế như MRC và LMC.  Một giải pháp khác là thương thảo với Trung Hoa để đi đến một hiệp ước quốc tế, tương tự như hiệp ước về việc sử dụng nước sông Colorado giữa Hoa Kỳ và Mexico.

Sơ lược về tác giả

Tác giả nguyên là Kỹ sư Công chánh Chuyên nghiệp (Professional Civil Engineer) của tiểu bang Florida và California.  Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh tại Trường Cao đẳng Công chánh, Trung tâm Quốc gia Kỹ Thuật Phú Thọ, Sài Gòn năm 1972.  Trưởng ty Kế hoạch, Ủy ban Quốc gia Thủy lợi, Bộ Công chánh và Giao thông, Sài Gòn đến tháng 4 năm 1975.  Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh (1983) và Cao học Thủy lợi (1985) tại Đại học Nebraska, Hoa Kỳ.  Chuyên viên Thủy học (Hydrologist) của Sở Quản trị Thủy lợi, Broward County, Florida đến năm 1989.  Từ năm 1990 đến 2015, Kỹ sư Giám sát Trưởng (Senior Supervising Engineer) của Stetson Engineers Inc., một công ty cố vấn về thủy lợi và ô nhiễm nguồn nước, thành lập năm 1957 ở Los Angeles.  Về hưu từ năm 2016.

Tài liệu tham khảo

[1]       Thành Luân. 14 tháng 12 năm 2019. “Trung Quốc chuyển nước lên phía bắc: Mekong có lo hơn?” Đất Việt. https://baomoi.com/trung-quoc-chuyen-nuoc-len-phia-bac-mekong-co-lo-hon/c/33310308.epi
[2]       Wikipedia. 28 September 2019. “South-North Water Transfer Project.”  Wikipedia. https://en.wikipedia.org/wiki/South–North_Water_Transfer_Project
[3]       Wikipedia. 25 January 2020. “Mekong”.  Wikipedia. https://en.wikipedia.org/wiki/Mekong
[4]       Mekong River Commission. 25 April 1995. Agreement on the Cooperation for the Sustainable Development of the Mekong River Basin.  Mekong River Commission. http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/agreements/95-agreement.pdf
[5]       Lancang-Mekong Cooperation.  March 25, 2016. “Li Keqiang’s address at the 1st Lancang-Mekong Cooperation Leaders’ Meeting.” LMC. http://www.lmcchina.org/eng/zywj_5/t1514128.htm
[6]       Lancang-Mekong Cooperation. March 23, 2016. “Sanya Declaration of the First Lancang-Mekong Cooperation (LMC) Leaders’ Meeting.” LMC. http://www.lmcchina.org/eng/zywj_5/t1513793.htm
[7]       Wikipedia. 22 October 2019. “Colorado river dispute”. Wikipedia. https://en.wikipedia.org/wiki/Colorado_river_dispute
[8]       Stratfor. May 14, 2003. “The U.S., Mexico and the Decline of the Colorado River”. Forbes. https://www.forbes.com/sites/stratfor/2013/05/14/u-s-mexico-the-decline-of-the-colorado-river/#26b5d5767df1
[9]       Lohman, Edward. May/June 2003. “Yuma Desalting Plant: 2003”.  Southwest Hydrology.  20:21. http://swhydro.arizona.edu/archive/V2_N3/feature5.pdf

.