Sunday, January 12, 2020

CÁC SÔNG Ở ĐÔNG NAM Á BỊ ĐE DỌA (Southeast Asia’s rivers under threat)



The ASEAN Post Team – Bình Yên Đông lược dịch
The ASEAN Post – 12 December, 2019

Một công nhân đang nhặt rác trên sông Marilao ở Bulacan, phía bắc Manila, Philippines. [Ảnh: AFP]


Từ những dòng suối nhỏ cho đến các dòng sông trong khu vực, Đông Nam Á (ĐNA) có hàng chục con sông quan trọng.  Con sông nổi tiếng nhất ở ĐNA là sông Mekong – chảy qua 5 quốc gia trong vùng.

Mekong, cũng là con sông dài đứng hàng thứ 12th trên thế giới, là nguồn nước để uống, đánh cá và trồng trọt của hàng chục triệu người.  Nhưng cái mà nhiều người không biết là nó cũng là nơi đổ rác và chất thải, khiến cho nó trở thành một trong những dòng sông ô nhiễm nhất ở trong vùng.

Ô nhiễm sông ngòi không có gì mới lạ.  Thật vậy, ô nhiễm đang xảy ra trong vùng bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước.  Tài nguyên thiên nhiên của ĐNA chịu áp lực nặng nề vì dân số gia tăng, đô thị hóa và thay đổi khí hậu.

Phát triển kinh tế nhanh chóng và đô thị hóa làm suy thoái và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, kể cả nước và các dịch vụ hệ sinh thái liên hệ.  Nhiều con sông trong vùng bị ô nhiễm trầm trọng với chất thải đô thị, kỹ nghệ và canh nông, khiến cho Chỉ số Phẩm chất Nước (Water Quality Index (WQI)) lên đến mức nguy hiểm.

Các con sông ô nhiễm nhất

Con sông nổi tiếng nhất là sông Marilao chảy qua thủ đô Manila của Philippines.  Mức độ ô nhiễm của nó là mối quan tâm lớn của cả chánh phủ Philippines lẫn thế giới.  Những vật nguy hiểm và không thể tái chế như các chai plastic và dép nhựa, cùng những thứ khác thường trôi trên sông.  Các chất thải kỹ nghệ độc hại được đổ vào sông mỗi ngày trong khi một số rác gia dụng khổng lồ cũng được thải vào sông.

Dựa trên phúc trình Tóm lược Chánh sách của Nghiên cứu tính Khả chấp Cao cấp (Advanced Study of Sustainability’s Policy Brief), mức độ ô nhiễm trong các sông trong vùng thủ đô Manila cao đến nỗi chúng có thể xem như “cống lộ thiên”.  Nguyên nhân chánh là chất thải gia dụng không được thanh lọc được xả thẳng vào nguồn nước.  Theo thống kê chánh thức, chỉ có 20-30% đơn vị gia cư trong thành phố được nối với hệ thống nước thải.  70% còn lại sử dụng hầm cầu (septic tank), trong nhiều trường hợp chất thải của con người ngấm vào nước ngầm.

Một con sông nổi tiếng khác ở trong vùng là sông Citarum chảy qua một tỉnh ở Tây Java của Indonesia.  Sông Citarum là nguồn nước quan trọng cho nông nghiệp, cấp thủy, kỹ nghệ, ngư nghiệp và sản xuất điện.

Nhưng nay nó chứa hàng tấn chất thải gia dụng và kỹ nghệ và nồng độ thủy ngân trong sông cao hơn mức cho phép 100 lần.  Ngoài ra, có 3 nhà máy thủy điện dọc theo sông, nhưng với vấn đề ô nhiễm, các nhà máy nầy không thể hoạt động, khiến cho các cộng đồng ở chunh quanh không có điện.

Nguồn: Nhiều nơi

Những sông khác trong vùng đang đối mặt với ô nhiễm gồm có sông Irrawady ở Myanmar, Chao Phraya ở Thái Lan và Kinabatangan ở Malaysia.  Nguyên nhân và ảnh hưởng ô nhiễm của chúng giống nhau và tương tự như các sông trong vùng.

Yasmin Rasyid, nhà sinh học và chủ tịch của Ecoknights, nói với The ASEAN Post qua một cuộc phỏng vấn trên điện thoại rằng nguyên nhân của ô nhiễm dòng sông gồm có “ô nhiễm kim loại nặng và thiếu thực thi luật pháp về vấn đề xả thải từ kỹ nghệ, lấn chiếm bờ sông và hoạt động khai thác cát bất hợp pháp, phát triển bừa bãi dọc theo sông, và xả chất thải rắn và hữu cơ vào nguồn nước.”

Các con sông được phục hồi

Một số chánh phủ đã cứu xét chuyện nầy một cách đúng đắn.  Thí dụ, ý định của chánh phủ Malaysia biến các con sông trong thủ đô của liên bang thành một điểm du lịch vào năm 2020 đang hình thành với công tác dọn dẹp dưới dự án Dòng sông của Đời sống (River of Life (ROL)).  Dự án dọn dẹp sông suốt 110 km hiện đã hoàn tất 86% và sẽ có đủ an toàn cho mục đích giải trí trong nay mai.

Công tác dọn dẹp gồm có nhiều giai đoạn, chẳng hạn như thiết lập các bẫy rác, và nâng cấp các hồ chứa nước lũ, nhà máy thanh lọc nước thải và hệ thống ống cống.

Khi được hỏi về những công tác khác mà chánh quyền có thể làm để hạn chế vấn đề và làm cho các sông trong vùng sạch hơn, Yasmin giải thích rằng “chúng ta cần phải thúc đẩy việc thực thi luật pháp và gia tăng mức phạt vạ đối với bất cứ vi phạm nào ở trong sông.”

Cô nói thêm, “Chúng ta cũng có quá nhiều cơ quan chánh phủ phụ trách các lãnh vực khác nhau trong việc quản trị sông mà tôi nghĩ nên được thiết kế lại để tránh việc dẫm chân nhau và bảo đảm sự toàn vẹn và hài hòa hoạt động của các cơ quan chánh phủ.”

Phúc trình “Tóm lược Chánh sách” đề nghị rằng để có thể đối phó với vấn đề nầy và cỗ vũ cho một biện pháp có hiệu quả trong việc phát triển đô thị khả chấp trong vùng, các nhà hoạch định chánh sách cùng với lãnh vực tư nhân và cộng đồng viện trợ quốc tế phải công nhận một biện pháp thống nhất để bảo vệ các nguồn nước ở đô thị, kể cả việc soạn thảo các khuôn khổ pháp lý thích hợp và các cơ chế thực thi luật pháp.

Cũng có nhu cầu phải khởi sự nghiên cứu tổng thể về giá trị của lợi ích liên quan đến nước.  Trị giá thành tiền của việc cải thiện phẩm chất nước là một biến số thích hợp trong các phân tích chi phí-lợi ích các chánh sách liên quan đến phẩm chất nước trong cả hai lãnh vực công và tư.

Sau cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng, nhận thức của quần chúng phải được khuyến khích qua các chiến dịch vận động và giáo dục cũng như sự minh bạch qua các chương trình tranh thủ quần chúng.

.

NƯỚC NGỌT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LÂM NGUY VÌ KHAI THÁC CÁT VÀ XÂY ĐẬP



(Mekong Delta Freshwater In Peril By Sand Mining And Dam Construction)

Utrecht University – Bình Yên Đông lược dịch
Water Online – December 9, 2019



Các nhà nghiên cứu của Đại học Utrecht thấy rằng triều và sự xâm nhập của nước mặn gia tăng ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có liên hệ đến hiện tượng đói phù sa do các đập ở thượng lưu và việc khai thác cát ở địa phương.  Thủy triều dâng cao có 2 ảnh hưởng quan trọng đối với sạt lở bờ sông và ngập lụt trong thành phố đang sụt lún và gia tăng tính dễ tổn thương của các thành phố và khu đô thị.  Nghiên cứu được công bố trong Phúc trình Khoa học cho thấy mực nước biển dâng và thay đổi khí hậu chỉ chiếm một phần nhỏ của các chiều hướng nầy; phần còn lại do các đập ở thượng lưu và khai thác cát khiến cho các lòng lạch chánh sâu thêm từ 2 đến 3 m trong vòng 15 năm qua.  Sự liên hệ giữa hiện tượng đói phù sa với xâm nhập mặn đã được quan sát ở nhiều vùng châu thổ khác trên khắp thế giới.

Phù sa bị chận và nhu cầu cát to lớn

Đề đạt được mục tiêu phóng thích CO2, Trung Hoa đầu tư mạnh mẽ vào thủy điện.  Lào dự tính trở thành bình điện của Á Châu  cũng bằng thủy điện.  Và việc hoàn tất đập Xayaburi gây tranh cãi được nối tiếp bởi các mực nước thấp lịch sử trên khắp hạ lưu vực Mekong.  Trong thời kỳ nước thấp đó, sự xâm nhập của nước mặn sẽ xảy ra đáng kể trong mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4.  Ngoài những đập trên dòng chánh, có khoảng 350 đập rải khắp lưu vực Mekong không chỉ ảnh hưởng đến dòng chảy mà còn ngăn chận phù sa.

Cùng lúc, tình trạng đô thị hóa nhanh chóng ở các quốc gia hạ lưu Mekong đòi hỏi một số lượng cát lớn lao để xây dựng đường sá, nhà cửa và hạ tầng cơ sở.  Nghiên cứu cho thấy việc khai thác cát ở ĐBSCL tăng hơn trước đây gấp 4 đến 8 lần.  Điều nầy có nghĩa là chỉ ở Việt Nam, không kể Cambodia và Lào, số cát được khai thác nhiều hơn số cát do sông Mekong cung cấp.

Xâm nhập của nước mặn, đáy sông sâu hơn và thủy triều dâng cao

Các kết quả mới đây của Dự án Lên Xuống của Đại học Utrecht liên kết thủy triều dâng cao và nước mặn xâm nhập với hiện tượng đói phù sa do các đập ở thượng lưu và việc khai thác cát ở ĐBSCL.  Vì đói phù sa, đáy sông sâu hơn từ 2 đến 3 m, thủy triều dâng lên khoảng 2 cm mỗi năm và độ mặn tăng gấp đôi trong một số lòng lạch trong vòng 2 thập niên qua.  Thủy triều dâng cao ảnh hưởng đến tình trạng ngập lụt của thành phố đang sụt lún và gia tăng tính dễ tổn thương của các thành phố và sạt lở bờ sông trong khu đô thị.  Nghiên cứu cho thấy rằng nước biển dâng và thay đổi khí hậu, trong 2 thập niên vừa qua, chỉ góp một phần nhỏ của chiều hướng nầy.  Phần còn lại do sự can thiệp của con người.

Hành động tập thể có thể ảnh hưởng 10-20 lần lớn hơn

Nước biển dâng không thể giải thích các chiều hướng quan sát được.  Khi tất cả được cứu xét, mực nước biển dâng khoảng 3 mm mỗi năm do thay đổi khí hậu, mặt đất sụt lún khoảng 20-30 mm mỗi năm do khai thác nước ngầm bừa bãi và đáy sông chìm xuống khoảng 200-300 mm mỗi năm do khai thác cát và xây đập ở thượng lưu.

Mặc dù thay đổi khí hậu có những nguy cơ cuối cùng trong các thập niên sắp tới, nếu giải quyết không đúng, nó làm mất tính cấp thiết giữa các cộng đồng và chánh quyền địa phương vì nó có vẻ “quá lớn để giải quyết”.  Tuy nhiên, nếu công chúng hiểu rằng hành động tập thể, ở địa  phương hay khu vực, có thể ảnh hưởng gấp 10 đến 20 lần, có thể có cơ hội tạo nên một chánh sách đúng đắn.  Với các chiều hướng bất lợi được xác định, các chánh phủ lưu vực Mekong phải cấp bách cùng hướng vào việc quản trị nguồn tài nguyên nước xuyên biên giới một cách có hiệu quả, trước khi những thiệt hại không thể hàn gắn đổ xuống Mekong và cư dân của nó.


Saturday, January 11, 2020

Có gì đó sai nghiêm trọng trên sông Mê kông



Tom Fawthrop
The Diplomat, 26.8.2019
Tôn Thất Thông dịch

Hạn hán năm nay chỉ là một bản dạo đầu của các vấn đề nghiêm trọng hơn sẽ xảy ra  nếu nhà nước không thay đổi chính sách.

Low water levels in the Tonle Sap in June 2019.
Credit: Tran Van Tu

Sông Mê Kông đang quay cuồng với sự tấn công của biến đổi khí hậu, khai thác cát và xây đập không ngừng, chúng tổng hợp lại đã tạo nên vụ hạn hán vào tháng Bảy, được xem là tồi tệ nhất ghi nhận trong hơn 100 năm qua.

“Đây là thảm họa sinh thái tệ hại nhất trong lịch sử khu vực sông Mê Kông”, chuyên gia tài nguyên thiên nhiên Thái Lan Chainarong Setthachua tuyên bố.

Mực nước ở hồ Tonle Sap, Campuchia, hồ nước nội địa to lớn, “nhịp tim đập để điều hòa sông Mê Kông”, đã bị giảm xuống mức thấp chưa từng có tiền lệ, đến nổi có ngôi làng chài trên nước hoàn toàn bị biến mất. Hầu như không thể tin được đối với người dân địa phương Tonle Sap, vì điều này xảy ra không phải vào mùa khô, mà đã hai tháng trong mùa mưa.
Youk Sengleng, một chuyên gia thủy sản NGO hoạt động ở vùng Tonle Sap, đã chia sẻ những quan sát của mình: “Nhiều cá chết vì nước cạn, nhiệt độ nóng và nước độc hại do thiếu oxy. Khoảng 2,5 triệu người sống phụ thuộc vào hồ với nghề đánh cá đã bị ảnh hưởng trực tiếp”.
Lấy quá nhiều nước từ một con sông về cơ bản sẽ hút sự sống ra khỏi nó. Các chất ô nhiễm trở nên đậm đặc hơn và nước chảy chậm lại, dẫn đến sự tích tụ các trầm tích làm tắc nghẽn lòng sông.
Trong một mùa mưa bình thường, hồ Tonle Sap mở rộng kích thước của nó lên hơn 40 phần trăm nhờ mực nước dâng cao 7-8 mét ở sông Mê Kông sau những cơn mưa dầm lớn. Hiện tượng “xung lũ” tuyệt vời này thường xảy ra vào giữa cuối tháng 8 và giữa tháng 9, qua đó, nhánh sông Tonle như một nguồn dự trữ, đưa nước sông Mê Kông đổ về hồ lớn.

Một đám mây nặng nề của sự lo lắng và vô định đang treo trên số phận của dòng sông. Tình trạng của nó thay đổi hàng năm, nhưng hiếm khi có xung lũ giảm mạnh như vậy. Nó đã quá yếu để hỗ trợ nghề nuôi cá và bảo đảm lương thực để nuôi sống 60 triệu người đang sinh sống ở hạ lưu sông Mê Kông. Ngay cả khi cuối cùng, dòng sông có thể hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng của các vị Thần Angkor để thay đổi tình trạng tồi tệ đó, sự khan hiếm cá và thiếu protein vẫn còn tồn tại đến năm thứ một triệu, cho đến khi lượng cá hiện thời được hồi phục.
Ian Cowx, giám đốc Viện Thủy sản Quốc tế Hull thuộc Đại học Hull ở Anh (HIFI: Hull International Fisheries Institute), giải thích rằng trở ngại lâu dài lớn nhất đối với sự phục hồi của nghề thủy sản không phải là sự biến đổi khí hậu và hạn hán này, mà là từ các con đập ở thượng nguồn.

Theo nghiên cứu của HIFI, “tất cả các loài cá đều thích nghi với chu kỳ hạn hán và lũ lụt” và yếu tố khí hậu không gây ra nguy cơ tuyệt chủng. “Vấn đề lớn ở đây là liệu các hoạt động khác như điều tiết dòng chảy và hiệu ứng rào cản gây ra bởi thủy điện, chất ô nhiễm và khai thác trầm tích có làm hủy hoại môi trường sống và làm tăng nguy cơ tuyệt chủng hay không”, theo Cowx. “Có lẽ vấn đề lớn nhất ở đây là dòng chảy giảm sút do những con đập ở Trung Quốc, đập Lower Sesan 2 [trên một nhánh sông Mê Kông ở Campuchia] và mất hẳn kênh Hou Sahong vì đập Don Sahong”.

Thêm vào đó, đập Xayaburi, con đập đầu tiên được xây dựng và gần như hoàn thành ở hạ lưu sông Mê Kông, là một thí dụ khác về dự đoán thiệt hại lâu dài cho hệ sinh thái, lớn hơn nhiều so với vấn đề tạm thời hao hụt nguồn nước.

Lý do chính khiến mực nước hạ thấp ở sông Mê Kông vào tháng 7 năm nay là do thiếu mưa, nhưng hoạt động tại đập Jinghong ở Trung Quốc và đập Xayaburi khổng lồ sắp xây xong ở Lào, cũng liên quan đến việc làm cho cuộc khủng hoảng nước trầm trọng thêm. Trung Quốc đã quyết định “tắt vòi nước sông Mê Kông” từ Jinghong với lý do họ phải tiến hành “bảo trì lưới điện”.

Đồng thời, các nhà phê bình cũng xác định rằng đập Xayaburi là thủ phạm tham gia vào các thử nghiệm đặc biệt đã đóng cửa ngăn lũ lụt. Điều đó càng tăng nổi giận giữ của người nông dân Thái Lan sống ở tỉnh Chiang Rai, hơn 220 km về phía hạ lưu.
Trong khi công ty xây dựng đập Thái Lan CK Karnchang từ chối mọi trách nhiệm đã làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng nước, các tổ chức phi chính phủ Thái Lan đã kiến ​​nghị lên Tòa án Hành chính Thái Lan, yêu cầu EGAT, Ủy ban Điện lực Thái Lan, trì hoãn việc mua điện từ đập Xayaburi, chờ điều tra thêm về vai trò thủ phạm tiềm năng của nó trong vụ hạn hán bất hợp lý. Vụ kiện này có thể trì hoãn việc khánh thành con đập dự kiến vào tháng 10 này.
Mọi thứ đang thay đổi dọc theo sông Mê Kông. Hạn hán đang gia tăng; tài nguyên nước đang giảm. Sự phong phú của nghề thủy sản và đa dạng sinh học đang bị đe dọa cả từ biến đổi khí hậu và sự xây dựng đập bừa bãi thiếu kiểm soát dọc theo sông.

Chainarong, người giảng dạy ngành sinh thái chính trị và quản lý tài nguyên thiên nhiên tại Đại học Maha Sarakham, khẳng định rằng, “hôm nay chúng ta có thể thấy từ trường hợp các đập Trung Quốc ở thượng nguồn và đập Xayaburi [Lào] rằng, chính phủ các nước trên giòng sông Mê Kông và chính sách của họ đã tạo ra một thảm họa sinh thái ở lưu vực sông lớn nhất trong khu vực”.

Nhưng bất chấp những cảnh báo khoa học khác nhau về sự xuống dốc nghiêm trọng của Mê Kông, các nhà hoạch định chính sách và chính phủ đã không chú ý đến các yêu cầu của xã hội dân sự nhằm áp đặt các biện pháp kiểm soát môi trường qui mô hơn để bảo vệ con sông Mê Kông đang bị uy hiếp.

Một cảnh báo quan trọng đã được đưa ra bởi Ủy ban sông Mê Kông (MRC: Mekong River Commission), bao gồm bốn quốc gia thành viên: Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. MRC chính thức công bố vào năm 2018 báo cáo Nghiên cứu của Hội đồng về tác động của thủy điện. Một trong số nhiều kết luận đáng báo động là, khối lượng sinh thái cá sẽ giảm 35-40% vào năm 2020. Hơn nữa, báo cáo cảnh báo rằng phát triển thủy điện đến năm 2040 sẽ hủy hoại khả năng cá di chuyển ở phần lớn các vùng của sông Mê Kông. Không có loài cá nào trên sông Mê Kông có thể sống sót trong các hồ chứa của các đập sẽ được xây dựng vào năm 2020 và 2040.


Theo kết quả của các cơ quan thủy sản MRC đã báo cáo, giá trị của nghề thủy sản sông Mê Kông – nghề thủy sản nước ngọt lớn nhất thế giới – đạt mức 11 tỷ đô la trong việc đánh bắt tự nhiên (chưa kể các trang trại cá) cho các nước MRC, các nhà quan sát có thể chờ đợi một cách hợp lý về viễn cảnh thảm khốc của tình trạng cá bị tuyệt chủng.
Tuy nhiên, ba trong số bốn quốc gia thành viên – Lào, Thái Lan và Campuchia – đã bất ngờ từ chối chấp nhận tài liệu mang tính chiến lược này vốn đã dựa trên năm năm nghiên cứu, và họ cũng ít bày tỏ mong muốn tranh luận về báo cáo. Chỉ có Việt Nam hoan nghênh và tán thành báo cáo.
“Chính phủ các nước Mê Kông thực sự cần thức tỉnh trước các báo động của những năm gần đây và cần bắt đầu làm việc cùng nhau vì lợi ích chung”, nhà sinh thái học vùng ngập nước, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Thiện, người đã làm việc trên một số báo cáo quốc tế về Mekong với tư cách là cố vấn cho WWF và ICEM, khẩn thiết kêu gọi.

Trong một cuộc phỏng vấn với Thiện ở Cần Thơ, ông đã bày tỏ mối quan ngại lâu dài của mình đối với quốc gia trong tương lai: “Vùng tam giác [Mê Kông Delta] đang chìm vì hầu hết các trầm tích giàu chất dinh dưỡng quan trọng để bổ sung cho đồng bằng bị kẹt ở thượng nguồn bởi các con đập. Điều này gây ra suy thoái môi trường ở quy mô lớn và cũng liên quan đến sự mất ổn định và căng thẳng trong khu vực. Trong tương lai, vùng tam giác sẽ không còn có thể duy trì 18 triệu dân. Họ sẽ phải chạy trốn như những người di cư và tị nạn. Thủy điện ở khu vực sông Mê Kông đang gieo mầm cho sự bất ổn của khu vực và nó có thể trở thành một vấn đề an ninh khu vực”.

Nghiên cứu mới được công bố bởi Viện Môi trường Stockholm (Stockolm Environment Institute) vào năm 2018 cho thấy, 96% trầm tích giàu chất dinh dưỡng của sông Mê Kông sẽ không bao giờ đến được vùng đồng bằng tam giác, nếu tất cả 11 đập theo kế hoạch dự kiến được xây dựng ở Hạ lưu sông Mê Kông.
Nếu việc xây đập ở thượng nguồn và suy thoái môi trường dẫn đến việc Việt Nam “mất” vùng đồng bằng, điều đó có nghĩa là mất nguồn chính về gạo, trái cây và rau quả, tổng số chiếm gần 25% GDP. Tiến sĩ Thiện tự hỏi, “nếu về lâu dài, không có đồng bằng, Việt Nam có thể tồn tại như một quốc gia?”
Khi việc ngăn đập có thể dừng lại, chủ tịch về tài nguyên nước của WWF, Marc Goichot giải thích rằng điều đó sẽ có nhiều lợi ích cho dòng sông: “Việc giữ cho dòng sông ở hạ lưu chảy tự do sẽ khiến khoảng 28 triệu người ở Campuchia và Việt Nam sống vững chãi hơn với thảm họa khí hậu và nước, đồng thời cải thiện sự ổn định thực phẩm”.

Hy vọng đang tăng lên, khi các đập thủy điện có thể sớm bị coi là lỗi thời so với năng lượng tái tạo từ mặt trời và gió vốn đang bắt đầu phát triển trong khu vực. Nhà phân tích năng lượng của Mekong, Brian Eyler, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Stimson có trụ sở tại Hoa Kỳ tin rằng các quốc gia MRC đang bắt đầu khai thác năng lượng tái tạo và cuối cùng sẽ chuyển hướng ra khỏi thủy điện. Ông nói, “Nhiều chuyện đã được thay đổi, kể từ khi đập Xayaburi bắt đầu xây dựng vào năm 2012. Tôi chắc chắn rằng một số quan chức của chính phủ Thái Lan, sẽ lấy làm tiếc khi thấy đập Xayburi (được tài trợ bởi Thái Lan) là một dự án hoàn toàn không cần thiết”.

Ước mơ ban đầu của Thỏa thuận MRC 1995 là một dòng sông có sự hợp tác quốc tế và chia sẻ công bằng tài nguyên nước. Nhưng Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Giám đốc Học viện Kinh tế Hà Nội, phát biểu tại một Diễn đàn Mê Kông vài năm trước, than thở rằng ước mơ đó không đạt được theo cách mà nó đang được giải quyết. “Chúng ta chỉ có thể cứu sông Mê Kông bằng cách loại bỏ tâm lý hẹp hòi theo kiểu ‘ao nhà’ để kiếm lợi nhuận [từ mỗi phân khúc có chủ quyền quốc gia trên dòng sông] nhân danh sự phát triển”.

Một số nhà bình luận bi quan có thể cho rằng đã quá muộn để cứ loanh quanh với các vấn đề, mà cần vạch ra một con đường mới và bền vững hơn cho sông Mê Kông. Tuy thế, vào thời điểm mà tình trạng của sông Mê Kông đang bị đe dọa nguy hiểm chưa từng có, học giả Chainarong người Thái Lan thuyết phục hơn: “Không phải là quá muộn khi bảo vệ dòng sông bằng cách ngăn chặn tất cả các dự án đập đang nằm trong danh sách, và phát triển một chính sách khác cho Mê Kông dựa trên việc tuân thủ các qui định của Ủy ban Đập Thế giới và sự tham gia đầy đủ của xã hội dân sự và cộng đồng dân cư ở ven sông”.

Chain Chainarong nói tiếp: “Tất cả các chính phủ của Mê Kông nên hợp tác để ngăn chặn tác động xấu nhất của thiên tai, thiệt hại sinh thái và cướp bóc tài nguyên thiên nhiên bằng một chính sách khác về Mê Kông, trên cơ sở cân bằng giữa bảo vệ môi trường và phát triển quốc gia”.

Nguồn: Diễn Đàn
Bài gốc tiếng Anh: 

.


Wednesday, January 8, 2020

Lê Hồng Hiệp - Thế khó của Việt Nam trước các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào


Thanh Hà
8.1.20


Vào ngày 4 tháng 1 năm 2020, trong kỳ họp lần thứ 42 của Ủy ban Liên Chính phủ Việt – Lào, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) đã ký năm hợp đồng mua từ tập đoàn Phongsubthavy và tập đoàn Chealun Sekong của Lào 1,5 tỷ kWh điện mỗi năm trong hai năm, bắt đầu từ năm 2021. Thỏa thuận này, trong khi minh họa cho tầm nhìn của chính phủ Lào về việc biến đất nước này thành “bình ắc quy của Đông Nam Á”, cũng đồng thời cho thấy những thách thức về an ninh năng lượng cũng như thế lưỡng nan của Việt Nam trong việc đối phó với kế hoạch xây dựng hàng loạt các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào.

Việt Nam sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu điện ngày càng nghiêm trọng trong những năm tới, ước tính sẽ lên mức 3,7 tỷ kWh vào năm 2021 và gần 10 tỷ kWh vào năm 2022. Ngoài nguyên nhân nhu cầu tăng do tăng trưởng kinh tế, một số yếu tố khác cũng đã góp phần dẫn tới sự thiếu hụt này.

Thứ nhất, trong số 60 nhà máy điện lớn đang được xây dựng, 35 dự án với tổng công suất 39.000 MW đang phải đối mặt với tình trạng chậm tiến độ từ một đến năm năm. Việc Quốc hội Việt Nam hồi năm 2016 thông qua việc dừng kế hoạch xây dựng các nhà máy điện hạt nhân cũng dẫn đến những thay đổi bất ngờ trong quy hoạch phát triển nguồn điện của cả nước.

Thứ hai, các dự án mới đang gặp khó khăn vì chính phủ không còn cấp bảo lãnh tín dụng cho các nhà máy điện. Do đó, các nhà phát triển điện lớn của Việt Nam như EVN, PetroVietnam và Vinacomin hiện phải dựa vào các khoản vay thương mại tốn kém hơn để tài trợ cho các dự án của mình. Do đó, thu xếp tài chính cho các dự án mới mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành.

Thứ ba, do chất lượng không khí suy giảm ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng như việc chính phủ nhấn mạnh hơn vào năng lượng tái tạo đã khiến Việt Nam tìm cách giảm phụ thuộc vào các nhà máy nhiệt điện than tuy rẻ nhưng gây ô nhiễm, hiện chiếm khoảng 41% tổng sản lượng điện của Việt Nam. Các nguồn năng lượng sạch hơn, như các nhà máy điện khí hay các trang trại điện mặt trời và điện gió, hiện được ưu tiên trở thành các nguồn điện thay thế.

Tuy nhiên, các nhà máy điện khí rất tốn kém và Việt Nam chưa có các kho khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) để phục vụ cho các nhà máy như vậy. Trong khi đó, mặc dù các trang trại điện gió và điện mặt trời xây dựng nhanh hơn nhưng công suất của chúng khá hạn chế. Dù Việt Nam hiện là nước đi đầu về năng lượng tái tạo ở Đông Nam Á, tổng công suất của 82 trang trại điện mặt trời đang hoạt động tới cuối tháng 6 năm 2019 chỉ là 4.464MW, chiếm 8,28% tổng sản lượng điện của cả nước. Việc phát triển các dự án năng lượng tái tạo mới trong tương lai sẽ phải đối mặt với thách thức do mức giá mua điện mà chính phủ phê duyệt thấp hơn cũng như việc Việt Nam chậm nâng cấp hệ thống truyền tải điện nhằm hấp thụ lượng điện bổ sung từ các dự án này.

Để giải quyết tình trạng thiếu điện trong ngắn hạn và trung hạn, Việt Nam sẽ phải tăng nhập khẩu điện từ các nước láng giềng, đặc biệt là Lào. Tuy nhiên, lựa chọn này đặt ra cho Việt Nam một vấn đề nan giải trong cách đối phó với các kế hoạch của Lào nhằm xây dựng thêm các đập thủy điện trên sông Mê Kông và các phụ lưu. Do lo ngại về tác động môi trường đối với đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam từ lâu đã phản đối kế hoạch của Lào nhằm xây dựng ít nhất 9 đập thủy điện lớn dọc theo con sông này. Mặc dù hai nước có mối quan hệ thân thiết, cho đến nay Việt Nam vẫn không thể thuyết phục được Lào xem xét lại kế hoạch của mình.

Sự kiên định của Lào, nay cộng với tình trạng thiếu điện ngày càng tăng của Việt Nam, dường như đã khiến Hà Nội dần cân nhắc một cách tiếp cận mới. Ví dụ, vào tháng 6 năm 2019, PV Power, một công ty con của PetroVietnam, đã tổ chức một cuộc hội thảo để thảo luận việc tham gia vào dự án đập thủy điện Luang Prabang trên sông Mê Kông. PV Power được cho là đang nắm giữ 38% cổ phần của dự án. Một số chuyên gia cho rằng do Việt Nam không thể ngăn cản Lào xây dựng các con đập, sẽ là một điều khôn ngoan nếu Việt Nam tham gia vào các dự án này để kiểm soát việc thiết kế và vận hành các con đập nhằm giảm thiểu tác động môi trường lên đồng bằng sông Cửu Long. Cách tiếp cận này mang tính thực dụng và có lẽ là giải pháp tốt nhất đối với Việt Nam vào lúc này, nhưng nó cũng không hoàn hảo. Việt Nam không thể tham gia vào tất cả các dự án và việc tham gia vào bất kỳ dự án nào trong số đó cũng sẽ làm suy yếu lập luận của Việt Nam khi phản đối các dự án tương tự ở Lào và các nước khác.

Về lâu dài, Việt Nam cần tự giải quyết các vấn đề của mình để đảm bảo một nguồn cung điện bền vững, giá cả phải chăng và thân thiện hơn với môi trường để phục vụ sự phát triển của đất nước. Ngay cả khi Việt Nam tham gia vào một số dự án xây dựng đập thủy điện ở Lào, chúng ta vẫn cần tiếp tục phản đối việc xây dựng các con đập mới trên sông Mê Kông. Trong trường hợp Lào quyết định tiến hành xây dựng các đập mới, chúng ta cần phải yêu cầu Lào lựa chọn các thiết kế đập và công nghệ thủy điện phù hợp để giảm thiểu tác động môi trường. Xét cho cùng, đồng bằng sông Cửu Long rất quan trọng đối với an ninh lương thực của không chỉ Việt Nam mà còn của cả khu vực.

Lê Hồng Hiệp

* Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được đăng trên ISEAS Commentary.
(Nghiên cứu Quốc tế)

.

Tuesday, January 7, 2020

Đập Cảnh Hồng giảm xả làm cạn dòng Mekong ở VN dịp Tết.



Mực nước sông Mekong còn giảm đến nửa sau tháng 1/2020 vì đập Cảnh Hồng của Trung Quốc giảm độ xả nước để thử thiết bị điện.

BBC News
6 tháng 1 2020

 Đập Cảnh Hồng - hình minh họa


Mực nước sông Mekong còn giảm đến nửa sau tháng 1/2020 vì đập Cảnh Hồng của Trung Quốc giảm độ xả nước để thử thiết bị điện.
Dù công tác thử thiết bị chỉ kéo dài ba ngày, 01-03 tháng 1, việc giảm xả nước từ con đập gây tranh cãi của Trung Quốc ở thượng nguồn sông Mekong đã tác động xấu đến nhiều tỉnh của Thái Lan.
Còn nước sông ở hạ lưu là Việt Nam sẽ chịu tác động này vào dịp trước Tết Canh Tý, gây nguy cơ ngập mặn, theo báo Việt Nam.
Báo Chiangrai Time 03/01 cho hay, mức xả nước mà phía Trung Quốc thông báo là giảm xuống còn 800-1.000 mét khối/giờ.
Sang ngày 04/01, mức này giảm tiếp xuống 500-800 mét khối/giờ và sau đó sẽ phục hồi như cũ.
Tuy thế, mực nước sông Mekong phần chảy qua Thái Lan sẽ giảm xuống từ 02/01 và những ngày sau.
Cơ quan Dự trữ tài nguyên nước của Thái Lan ra thông báo nói họ tính rằng mức nước ở Loei sẽ giảm tới ngày 13/01.
Ở các tỉnh khác, mức nước thấp còn kéo dài đến 19/01.

Sẽ xảy ra trước Tết
Bản quyền hình ảnh Getty Images 
Đồng ruộng khô hạn - hình minh họa

Hiện chưa rõ từng quốc gia ở hạ lưu Mekong sẽ chịu tác động nước xuống thấp ra sao.
Trang Bangkok Post nói tám tỉnh của Thái Lan bị ảnh hưởng từ công tác thử thiết bị ở đập Cảnh Hồng.
Trước mắt, điều thấy rõ là tàu hàng của Trung Quốc tạm ngưng hoạt động từ cảng sông Chiang San, theo báo Thái Lan.
Một số xà lan, tàu thủy chở hàng từ Lào cũng "dừng trong nước bùn".
Chính quyền Trung Quốc đã thông báo cho Thái Lan, Lào, Việt Nam, Myanmar và Campuchia biết về lịch giảm xả nước ở đập Cảnh Hồng.
Báo Việt Nam trong tuần đầu năm đăng tin về lo ngại ảnh hưởng của việc giảm xả nước từ đập thủy điện Cảnh Hồng.

Bản quyền hình ảnh Google Maps
Bản đồ các đập thủy điện dọc sông Mekong

Theo một trang chuyên ngành thì "lưu lượng nước bình quân tháng 1/2020 qua trạm Kratie (Campuchia) trên sông Mekong về Đồng bằng sông Cửu Long giảm xuống còn 3.024 m3/giây".
Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cảnh báo do việc giảm xả nước của thủy điện Cảnh Hồng nên khả năng xảy ra hạn mặn lịch sử như năm 2015-2016 là rất caoBáo VN
"Ảnh hưởng của việc giảm xả nước từ thủy điện Cảnh Hồng sẽ về đến biên giới Việt Nam tại Tân Châu và Châu Đốc (An Giang) bắt đầu từ ngày 22/1/2020 và ảnh hưởng tới các vùng ven biển kéo dài đến hết ngày 28/1/2020, ngay thời điểm của kỳ triều cường và chuẩn bị đón Tết Canh Tý 2020."
Điều này có thể khiến nạn ngập mặn ở vùng thuộc Việt Nam trở nên nghiêm trọng hơn.
Mới hồi giữa tháng 12/2019, Trung Quốc tuyên bố tạm đóng 60 km sông Mekong, đoạn phía nam đập Cảnh Hồng, để tiến hành công tác phá đá bằng thuốc nổ, mở rộng sông.
Hành khách đi tàu thuyền từ Thái Lan lên Trung Quốc được mời lên bờ đi tiếp bằng xe bus.

Source:

.

Monday, January 6, 2020

Thủy điện Trung Quốc “siết nước”, hạ lưu sông Mêkông sẽ hạn nặng hơn



Lê Anh Tuấn
Chủ Nhật,  5/1/2020

(TBKTSG) - Báo Bangkok Post xuất bản ngày 30-12-2019 đã loan tin tám tỉnh của Thái Lan nằm dọc sông Mêkông vừa nhận được khuyến cáo từ chính quyền trung ương về việc Bộ Tài nguyên nước Trung Quốc sẽ giảm lưu lượng xả của đập Cảnh Hồng từ 1.200-1.400 mét/giây xuống mức 800- 1.000 mét/giây từ ngày 1 đến 3-1-2020 và ngày 4-1 tiếp tục giảm xuống chỉ còn 504-800 mét/giây trước khi trở lại mức bình thường. Việc tích nước của đập Cảnh Hồng diễn ra vào đúng thời điểm hạn hán đang hoành hành ở khu vực hạ lưu Mêkông.

Nước sông Mêkông ngày 4-12-2019, đoạn qua tỉnh Nakhon Phanom, 
miền Đông Bắc Thái Lan, đã biến thành màu xanh nước biển, 
các tàu cá đã neo đậu ở các bãi cát ven sông bị lộ rõ do mực nước xuống rất thấp. 
Ảnh: Chessadaporn Buasai - AP.

Việc tích nước và giảm xả nước xuống vùng hạ lưu sông Mêkông từ đập thủy điện Jing Hong (Cảnh Hồng) đã từng diễn ra trong mùa khô năm 2016, đúng vào thời kỳ khô hạn gay gắt, mực nước sông Mêkông hạ thấp kỷ lục trong gần 100 năm nay. Cả 10 trong 13 tỉnh thành vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phải ra công bố tình trạng thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn.

Năm nay, do tác động của hiện tượng El Nino, khô hạn trở lại vùng hạ lưu sông Mêkông với mức độ nghiêm trọng hơn năm 2016. Nhiều số liệu cho thấy mực nước ở các trạm đầu nguồn Việt Nam từ Thái Lan, Lào và Campuchia đều thấp hơn nhiều năm khô hạn trước đó, ngay cả trong giai đoạn cao điểm của mùa lũ năm 2019. Có thể mức độ khô hạn và xâm nhập mặn mùa khô năm 2020 sẽ nặng nề hơn và nước mặn sẽ đến sớm và tràn sâu vào nội đồng vùng ven biển và vùng giữa đồng bằng. Thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và canh tác chắc chắn sẽ xảy ra ở các tỉnh ven biển ĐBSCL.

Màu nước sông ở các tỉnh ven sông của Thái Lan hiện đã bất thường, biến thành màu xanh nước biển, hiện tượng này người dân địa phương chưa từng thấy. Hiện nay, lưu lượng dòng chảy rất thấp và trong nước không còn mấy hàm lượng phù sa, nhiều nơi các bãi cát và cồn cát lộ rõ, dù mùa mưa mới chấm dứt. Tại ĐBSCL, số liệu đo tại các tỉnh ven biển sớm ghi nhận độ mặn 4 phần ngàn đã vào sâu hơn 50 ki lô mét. Tại thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang), độ mặn 2 phần ngàn đã lan đến sông Mỹ Tho. Lưu lượng dòng chảy sông Mêkông qua trạm Tân Châu trên sông Tiền và trạm Châu Đốc trên sông Hậu đã giảm mạnh, thấp hơn trung bình nhiều năm từ 20-45%.

Chuyện ứng phó với biến đổi khí hậu ngày càng khó khăn và tốn kém hơn rất nhiều, khi có thêm một tác nhân từ các đập thủy điện thượng nguồn như một tác động kép lên vùng đồng bằng. Với nguy cơ này, việc suy giảm năng suất và sản lượng lúa, hoa màu và cây ăn trái vụ Đông Xuân năm 2020 là điều chắc chắn. Ngay bây giờ các tỉnh ĐBSCL phải khẩn trương tích nước ngọt để ưu tiên sử dụng cho sinh hoạt ăn uống, cần ngưng ngay việc gieo sạ, xuống giống các vùng canh tác lúa hiện nay. Các tỉnh cần chuẩn bị các phương tiện chuyển nước sinh hoạt đến các vùng ven biển để cứu khát. Về lâu dài, cần triển khai ngay việc xây dựng các hồ tích nước mà từ mùa khô năm 2016 nhiều tỉnh đã đề xuất nhưng xây dựng quá chậm. Mặt khác, trong tiến trình xây dựng quy hoạch tích hợp cho vùng ĐBSCL, cần mạnh dạn thu hẹp diện tích canh tác lúa vào mùa khô, chuyển sang các hình thức canh tác nông nghiệp và thủy sản ít tiêu thụ nước và đưa đất trồng lúa vùng ven biển sang thành đất nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước mặn.

Source:


.

THIẾU PHÙ SA CHỨ KHÔNG PHẢI NƯỚC BIỂN DÂNG LÀ MỐI ĐE DỌA NGUY HIỂM NHẤT CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG



(Gravest threat to Mekong delta today is sediment starvation not rising seas)

WWF – Bình Yên Đông lược dịch
World Wide Fund for Nature – 10 December 2019

Đập thủy điện và khai thác cát góp phần nhấn chìm và thu hẹp Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). [Ảnh: Adam Oswell/WWF]


Nghiên cứu mới cho thấy rằng tính dễ thương tổn của ĐBSCL đối với lũ lụt, nước mặn xâm nhập và sạt lở càng ngày càng tăng là vì không đủ phù sa trong nước sông chứ không phải vì nước biển dâng do thay đổi khí hậu.

Được công bố trong tạp chí Phúc trình Khoa học Tự nhiên (Nature Scientific Reports), kết quả của Dự án Lên Xuống (Rise and Fall Project) của Đại học Utrecht ghi rõ: mối đe dọa ngày càng tăng đối với ĐBSCL – và cộng đồng, thành phố, ruộng lúa và đa dạng sinh học dựa vào nó – vì triều cường và nước mặn xâm nhập là do sự mất mát phù sa trong sông bởi các đập ở thượng lưu và việc khai thác cát ở ĐBSCL.
Triều cường ở ĐBSCL có những hậu quả quan trọng đối với ngập lụt ở các thành phố đang sụt lún và tính dễ bị tổn thương và sạt lở bờ sông.  Trong khi nước biển dâng và thay đổi khí hậu được chú ý nhiều nhất trong liên hệ với ĐBSCL đang chìm xuống và thu hẹp, nghiên cứu cho thấy trong 20 năm qua, nó chỉ đóng góp có 5%.

Thủ phạm chánh là sự can thiệp trực tiếp của con người qua việc khai thác cát và các đập thủy điện.
Các phân tích cho thấy đáy sông đang chìm xuống khoảng 200-300 mm mỗi năm vì khai thác cát và các đập ở thượng lưu.  Trong khi đó, mặt đất đang lún xuống khoảng 20-30 mm mỗi năm vì khai thác nước ngầm quá mức và mực nước biển dâng khoảng 3 mm mỗi năm do thay đổi khí hậu.

Sepehr Eslami, tác giả của bài viết, nói: “Nước biển dâng không thể giải thích các chiều hướng quan sát được.  Trong khi thay đổi khí hậu tạo nên những nguy hiểm tự nhiên lớn lao, hoạt động của con người gây nên những ảnh hưởng ngắn hạn vượt quá ảnh hưởng của thay đổi khí hậu hiện nay.  Các nghiên cứu trước đây nhấn mạnh rằng các đập thủy điện ở thượng lưu ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy, phù sa và chất dinh dưỡng, sự ổn định của đáy và bờ sông, sản lượng cá, đa dạng sinh học và sinh học của lưu vực.  Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng biên độ triều và sự xâm nhập của nước mặn vào ĐBSCL cũng gia tăng ở mức đáng lo ngại.”
Trong khi biên độ triều ngoài biển gia tăng khoảng 1,2-2 mm mỗi năm do mực nước biển dâng, biên độ triều bên trong ĐBSCL đang tăng ở mức 2 cm mỗi năm.  Độ mặn trong một số lòng lạch đã tăng gấp đối trong 15 năm qua.  Nghiên cứu cho thấy rằng xói lở bờ sông là động lực chánh, kết quả của hiện tượng thiếu phù sa chảy ra biển.

Marc Goichot, Phụ trách Nước ngọt ở Mekong của WWF, nói: “ĐBSCL đang chìm xuống và thu hẹp vì các quốc gia không đánh giá vai trò hết sức quan trọng của việc bổ sung phù sa tự nhiên trong các quyết định về thủy điện và khai thác cát.  Chúng tôi đang cộng tác với các đối tác về một sáng kiến Phục hồi Châu thổ Á Châu (Resilient Asian Deltas) đầy tham vọng, nhằm mục đích gây động năng chánh trị và đầu tư tài chánh để xây dựng thiên nhiên – kể cả việc bảo đảm phù sa chảy đầy đủ về châu thổ để ngăn chận chúng chìm xuống hay thu hẹp.”

Trong khi thay đổi khí hậu có thể gây nguy hiểm lớn lao trong những thập niên sắp tới, rất khó để hành động – đặc biệt là các hoạt động phối hợp liên quan đến cộng đồng, công ty và giới thẩm quyền – vì nó quá lớn để đối phó.
Nhưng nghiên cứu nầy cho thấy rằng các hành động tập thể ở địa phương và khu vực để bảo đảm đầy đủ phù sa chảy trong sông có thể có ảnh hưởng to lớn đến sự hồi phục của châu thổ - để có thể đối phó với những đe dọa hiện nay và thích ứng tốt hơn với ảnh hưởng sắp tới của thay đổi khí hậu.

.

NAM HÀN VÀ CÁC QUỐC GIA MEKONG CHỌN 7 LÃNH VỰC HỢP TÁC ƯU TIÊN TRONG THƯỢNG ĐỈNH BUSAN



(S. Korea, Mekong nations pick 7 priority cooperation sectors in Busan summit)

Yonhap – Bình Yên Đông lược dịch
The Korea Times – 27 November 2019

Lãnh đạo của Nam Hàn và 5 quốc gia Mekong trước khi khai mạc Thượng đỉnh Mekong-Nam Hàn lần thứ nhất tại Busan hôm Thứ tư.  Từ trái, Thủ tướng Lào Thongloun Sisoulith, Cố vấn Quốc gia Myanmar Aung San Suu Kyi, Thủ tướng Thái Lan Prayut Chan-o-cha, Tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và Phó Thủ tướng Cambodia Prak Sokhonn. [Ảnh: Yonhap]


Các lãnh đạo của Nam Hàn và 5 quốc gia Mekong đồng ý hôm Thứ tư để ưu tiên hợp tác trong 7 lãnh vực, nâng cao nỗ lực cộng tác giữa kinh nghiệm phát triển của Seoul và tiềm năng tăng trưởng to lớn của Mekong.
Theo một thông cáo chung được phổ biến sau khi khai mạc Thượng đỉnh Mekong-Nam Hàn ở Busan, khoảng 450 km về phía tây nam thủ đô Seoul, các lãnh vực nầy gồm có văn hóa và du lịch, phát triển nhân sự, phát triển nông nghiệp và nông thôn, hạ tầng cơ sở, kỹ thuật thông in và truyền thông (information and communication technology (ICT)), môi trường và thách thức an ninh ngoại lệ.

Tài liệu có tựa đề “Tuyên cáo Sông Mekong-Hàn để Thiết lập sự Hợp tác cho Nhân dân, Thịnh vượng và Hòa bình.”
Tổng thống Moon Jea-in và các lãnh đạo của 5 quốc gia Mekong – Cambodia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam – đưa ra viễn kiến để hợp tác chặt chẽ hơn trong việc theo đuổi phép lạ Sông Mekong.
Họ đồng ý “cộng tác với nhau để mang lại kinh tế phát triển và thịnh vượng cho khu vực Mekong, dựa theo phép lạ Sông Hàn, ám chỉ sự phát triển kinh tế nhanh chóng mà ROK đã trải qua” theo như tuyên cáo Busan.  Nó dùng chữ đầu của tên chánh thức của Nam Hàn, the Republic of Korea (Cộng hòa Triều Tiên).

Quang cảnh của Thượng đỉnh Mekong-ROK tại Busan. [Ảnh: Yonhap]

Họ cũng đồng ý “phát triển các dự án ICT gồm có chánh phủ điện tử và thành phố thông minh để khuyến khích kinh tế số tiến đến Cách mạng Kỹ nghệ lần thứ 4th và tiến bộ kỹ thuật trong khu vực dựa trên viễn kiến chung là ICT là động lực để phát minh, phát triển kinh tế khả chấp và thịnh vượng trong khu vực.”
Để phát triển khả chấp, hai bên dự trù thiết lập một “trung tâm đa dạng sinh học” hỗn hợp để góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh học trong phân vùng Mekong và một “trung tâm nghiên cứu thủy lợi” hỗn hợp ở Nam Hàn.

Bắt đầu phiên họp tại khu hội nghị thượng đỉnh thế giới APEC ở ven biển vào buổi sáng, Moon nói rằng nếu kinh nghiệm của Nam Hàn được kết hợp với “động lực” của khu vực Mekong, Phép lạ của Sông Hàn sẽ đem lại Phép lạ của Sông Mekong.
Ông nhấn mạnh, “Nam Hàn sẽ cùng với Mekong, với niềm tin rằng phát triển Mekong chính là phát triển Nam Hàn.”
Thủ tướng Thái Lan Prayut Chan-o-cha, đồng chủ tịch phiên họp cùng với Thủ tướng Lào Thongloun Sisoulith, Cố vấn Quốc gia Myanmar Aung San Suu Kyi, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và Phó Thủ tướng Cambodia Prak Sokhonn.
Thủ tướng Cambodia Hun Sen hủy bỏ chuyến đi Busan trong tuần vì tình trạng sức khỏe yếu kém của nhạc mẫu.

Mặc dù vắng mặt, Moon cũng cảm ơn Hun Sen đã đề nghị thay thế hội nghị bộ trưởng thường niên bắt đầu từ năm 2011 bằng hội nghị thượng đỉnh Mekong-ROK.
Moon nói, “Mekong đã trở thành một vùng đất hứa,” và thêm rằng Nam Hàn sẽ trở thành một “người bạn đặc biệt” của Mekong, khi nó củng cố sự liên hệ đồng thịnh vượng với ASEAN để chuẩn bị cho kỹ nguyên Á Châu-Thái Bình Dương.

Khối lượng mậu dịch ROK-Mekong lên đến 84,5 tỉ USD trong năm 2018, gia tăng 2,4 lần trong vòng 8 năm.
“Mekong đã trở thành một đối tác phát triển nòng cốt” chiếm 20% viện trợ phát triển chánh thức của Nam Hàn (ODA), tổng thống lưu ý.
Thượng đỉnh Mekong tiếp theo sau Thượng đỉnh Kỷ niệm ASEA-ROK trong 2 ngày tại trung tâm hội nghị BEXCO ở Busan để đánh dấu năm thứ 30th khởi động sự hợp tác.
Moon chủ tọa một buổi dạ tiệc chánh thức để đón chào lãnh đạo các quốc gia Mekong hôm Thứ ba.

.

Thursday, January 2, 2020

Tưởng Năng Tiến - Sông Cửu


Hãy cùng nhau đoàn kết, hợp tác, hành động để sông Mê Công mãi là dòng chảy của hòa bình, là kết nối sinh tồn bền vững, thịnh vượng đến muôn đời của những quốc gia, người dân trong khu vực.
(T.T Nguyễn Xuân Phúc)

Cuối năm, chính xác là vào ngày 18 tháng 12 năm 2019, FB Thanh Hieu Bui (hốt hoảng) báo động về một tai họa … đã hơi bị cũ:
 “Cái tin này mới đáng sợ này, đồng bằng Cửu Long là vựa lúa lớn nhất nước, chuyện này liên quan khủng khiếp đến đời sống nhân dân. Một trong những nguyên nhân là bọn Tàu Khựa nó lấy nước nguồn sông, khiến mực nước sông xuống thấp, nước mặn tràn vào.”
Nạn ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu không phải là hiện tượng mới mẻ gì đâu, ông Lái Gió ạ:
“Mười ngày trước Giáng Sinh, ngư phủ Nguyễn Văn Chơn và vợ cư ngụ tại huyện Lấp Vò Tỉnh Đồng Tháp đã lưới được một con cá đuối khổng lồ trên sông Tiền, đoạn giữa hai Xã Tân Mỹ và Tân Khánh Trung. Con cá đuối có chiều dài hơn 4 mét ngang 2 mét và nặng tới 270 ký.

Cá đuối hay Selachian, tên khoa học là chondrichthyes, thuộc loài cá sụn (cartilaginous fishes) gồm các giống cá mập, cá nhám, cá đuối và là cá nước mặn. Đây cũng là lần đầu tiên ngư dân Đồng Bằng Sông Cửu Long lưới được một con cá nước mặn lớn như vậy rất xa biển và trên một khúc sông nằm sâu trong đất liền… Cho sẻ thịt bán ngay tại bến số tiền thu được lên tới ngót 2 triệu đồng tính ra khoảng 140 đô la như món quà Giáng Sinh mà cả hai vợ chồng anh đã không thể nào ngờ tới. Nhưng ‘Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai’ như lời thơ Nguyễn Đình Toàn, bởi vì khi mà nước sông Cửu Long xuống mức thấp nhất so với 73 năm trở lại đây và có nơi mực nước sông chưa được hai thước gây sạt lở hai bên bờ làm thiệt hại nhà cửa và cả nhân mạng.

Nhiều chuyên gia Việt Nam ở ngoại quốc và cả trong nước đã lên tiếng báo động về hiểm họa hạn hán với sông Cửu Long có thể cạn dòng do các công trình xây đập ngăn nước của các quốc gia Thượng Nguồn Thái Lào và nhất là chuỗi tám con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam Trung Hoa mà lâu nay chánh quyền Hà Nội vẫn không hề lên tiếng phản đối…
Và khi một con cá đuối nước mặn lớn như vậy có thể vào tới Đồng Tháp thì đó là báo hiệu nạn ngập mặn (salt intrusion) đã vào rất sâu trong vùng châu thổ, nơi vốn là đất của ‘sữa và mật ngọt’ hay đúng hơn vùng đất của ‘phù sa, lúa gạo, cây trái và tôm cá đầy đồng…’ (Ngô Thế Vinh. Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, Westminster, CA: Văn Nghệ, 2000).
Cùng vào thời điểm này, trong một cuộc phỏng vấn do Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện – vào tháng 11 năm 2000 – tác giả của tác phẩm thượng dẫn cũng bầy tỏ sự lo ngại về “giai đoạn toàn vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đã ô nhiễm đã hoàn toàn ngập mặn thì vĩnh viễn chẳng còn đâu một nền Văn Minh Miệt Vườn và cũng không còn đâu Vựa Lúa để nuôi sống ngót 100 triệu dân của cả nước.”


Nỗi bận tâm và bi quan của Bùi Thanh Hiếu và Ngô Thế Vinh, tiếc thay, không được Bộ Trưởng Tài Nguyên & Môi Trường (kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Sông Mê Công Việt Nam) hiện nay đồng tình hay chia sẻ. Nhân vật này vốn rất lạc quan. Mọi “sự cố” về môi sinh đều được đương sự lấp liếm rằng sự việc “chưa đáng quan ngại,” vẫn ở ngưỡng “an toàn” hay “vẫn trong qui chuẩn.”


Tại Hội Nghị Toàn Thể Ủy Ban Sông Mê Công Việt Nam lần thứ nhất của năm 2018, Trần Hồng Hà “đánh giá cao chương trình hành động của ủy ban” do … chính ông ta làm chủ tịch! Cái ủy ban này hoạt động ra sao? Câu trả lời có thể tìm được trong nhiều mẩu tin, đọc được trong năm 2019:
– Drought, saltwater intrusion loom in the Mekong Delta
– Mekong Delta needs urgent measures to prevent drought
– Drought, saltwater intrusion double whammy for Mekong delta
– Đồng bằng sông Cửu Long: Đối diện khô hạn, ngập mặn
– Đồng Tháp: Xuất hiện tình trạng khô hạn
– Đồng bằng sông Cửu Long oằn mình từng ngày đối phó nguy cơ xoá sổ

Nhà nước VN đã chủ động “đối phó với nguy cơ xoá sổ” này bằng … nghị quyết: 
 N.Q 20/NQ-CP, ban hành ngày 17 tháng 11 năm 2017: “Đưa ra những chiến lược có tầm nhìn mới, định hướng chiến lược, các giải pháp toàn diện, căn cơ, đồng bộ, huy động tối đa các nguồn lực và sự tham gia của các thành phần kinh tế để phát triển bền vững ĐBSCL.”
Qua năm 2018, VTC NEWS (đọc được vào hôm 20 tháng 6) ái ngại cho hay:
“1,7 triệu người đã rời khỏi đồng bằng Sông Cửu Long.” Thế là Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc ký thêm cái Quyết Định 417/QĐ-TTg để ban hành chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu.”
Thiệt là “quyền biến” và “linh động” hết biết luôn!
Chỉ có điều đáng phàn nàn là những khẩu hiệu, cũng như những Nghị Quyết (và Quyết Định) quyết liệt của ông T.T – xem ra – không có tác dụng gì ráo trọi đến vấn đề sống còn của 18 triệu dân nơi ĐBSCL!

Thế còn Quốc Hội?
Nếu tôi nhớ không lầm thì thảm trạng của ĐBSCL, dù đã được nhiều vị thức giả đề cập đến từ cuối thế kỷ trước, chưa bao giờ được đưa vào nghị trình để bàn thảo một cách nghiêm trang và thấu đáo ở Quốc Hội Việt Nam cả. Cứ như thể đây là nơi tụ hội của những người bị tật (đui và điếc) vậy. Tôi còn e rằng không vị dân biểu nào biết là có một cơ quan chính phủ “chuyên trách” về vấn đề này nữa.
Trụ sở Ủy Ban Sông Mêkong của nước Lào nằm sát cạnh bờ sông. Đôi khi, đi ngang qua toà nhà này – vào mùa nước lớn – tôi vẫn nghĩ vui rằng: Nếu đứng từ ban công mà quăng cần, dám câu được cá lắm nha, gẩn xịt hà. Còn Trụ sở Ủy Ban Sông Mêkong của nước ta thì nằm ở số 23 phố Hàng Tre – quận Hoàn Kiếm, Hà Nội – cách dòng sông Cửu đâu cỡ ngàn cây số. Cũng còn may là nó chưa bị đưa lên đến tận Hà Giang.


T.S Nguyễn Thái Nguyên cho rằng: “Không thể đổ hết lỗi cho El Nino hay cho bọn ‘cướp nước’ Trung Quốc được, mặc dù đó là hai nhân tố khách quan rất lớn.”
Trong viễn ảnh ĐBSCL bị xoá sổ thì tôi e rằng yếu tố chủ quan còn lớn hơn nhiều. Đó là cái thái độ hoàn toàn vô trách nhiệm của tầng lớp lãnh đạo VN hiện nay trước mọi vấn đề (lớn/nhỏ) của đất nước. Khi giới người này đủ nhẫn tâm để có thể tháo cạn nước của một dòng sông, và đốt cháy nguyên một khu rừng (chỉ vì cần có vài con cá nướng trui để nhậu chơi) thì hiểm họa về môi sinh đang đe doạ dòng sinh mệnh của cả dân tộc, chứ nào có riêng chi chỉ dòng sông Cửu.

Tưởng Năng Tiến
1/2020



.