Friday, February 2, 2024

Campuchia xây kênh đào Funan Techo: Việt Nam nên lo lắng?

 

Nguồn hình ảnh, TANG CHHIN SOTHY/AFP/Getty Images

'Sức khỏe' sông Mekong ảnh hưởng tới cuộc sống của hàng chục triệu người trong khu vực. Trong ảnh: Học sinh đi học tại tỉnh Battambang ở Campuchia vào năm 2020.

 

·                     Tác giả, Huyền Trân

·                     Vai trò, BBC News Tiếng Việt

·                     2 tháng 2, 2024

·                      

Siêu dự án kênh đào Funan Techo sẽ có tác động về mặt kinh tế và môi trường như thế nào đến Việt Nam, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long?

Kênh đào Funan Techo sẽ được Campuchia khởi công trong quý tư năm nay sau khi nghiên cứu khả thi đã hoàn tất.

Tên của kênh đào, Funan Techo, gợi nhớ đến tên vương quốc Phù Nam cổ xưa từng nằm vắt ngang từ bán đảo Mã Lai tới tận vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long ngày nay.

Kênh đào dự kiến sẽ chạy từ Prek Takeo của sông Mekong ra biển ở tỉnh Kep, đi qua Prek Ta Ek của sông Bassac, sau đó vào Prek Ta Hing của sông Bassac.

Kênh đào đi qua bốn tỉnh của Campuchia gồm Kandal, Takeo, Kampot và Kep.

Khmer Times dẫn lời Thủ tướng Hun Manet hồi tháng 12/2023 nói rằng không có “bí mật” gì trong việc xây dựng kênh đào này.

Theo ông Hun Manet, việc mở rộng cảng Sihanoukville và xây dựng kênh đào Funan Techo sẽ tăng sức mạnh của kinh tế quốc gia.

 


Getty Images

Quy mô kênh đào Phù Nam Techo của Campuchia

·                     180 km và 1,7 tỷ USDĐộ dài và chi phí ước tính

·                     Rộng100 m ở thượng nguồn

·                     Rộng80 m ở hạ nguồn

·                     Độ sâu5,4 m

·                     Thời gian xây dựng 4 năm

Nguồn: Thông tấn xã Campuchia (APK)

 

Tác động môi trường nào tới Việt Nam?

Có hai quan ngại về dự án này hiện nay cho phía Việt Nam, bao gồm môi trường và kinh tế.

Theo Khmer Times, Thủ tướng Hun Manet đã “giải thích rõ ràng về chi tiết dự án” với người đồng cấp Việt Nam Phạm Minh Chính trong chuyến thăm chính thức tới Hà Nội trong hai ngày 11 và 12/12/2023 vừa qua.

Ông Hun Manet lặp lại lời đảm bảo với các lãnh đạo Việt Nam là dự án kênh đào “sẽ không tác động đến nước của sông Mekong”, theo tường thuật của Khmer Times.

Trả lời phỏng vấn độc quyền ngày 31/1của Khmer Times, ông So Naro, Đại diện Thủ tướng phụ trách vấn đề ASEAN của Campuchia, khẳng định “dự án trên lãnh thổ của Campuchia sẽ không tác động tới Việt Nam, […] ngoại trừ việc mất nguồn lợi thu phí đánh trên việc vận chuyển hàng hóa của Campuchia thông qua tuyến đường thủy của [Việt Nam].”

Ủy hội sông Mekong (MRC) cho biết theo thông báo mà họ nhận được từ Campuchia thì mục đích của dự án là vận tải đường thủy nội địa và kết nối đường thủy.

“Dự án sẽ không có tác động đáng kể nào đối với dòng chảy mỗi ngày và lưu lượng dòng chảy hàng năm của hệ thống sông Mekong. Việc xây dựng và vận hành ba âu tàu [waterway lock] này sẽ cho phép việc quản lý hiệu quả và kiểm soát dòng chảy trong kênh đào. Và những tác động xã hội và môi trường ở mức rất thấp trong suốt quá trình xây dựng và vận hành và sẽ được kiểm soát”, MRC chia sẻ nội dung mà phía Campuchia gửi.



Nhà nghiên cứu Brian Eyeler, Giám đốc Chương trình Năng lượng, Nước và Tính Bền vững của Trung tâm Stimson, đánh giá dự án kênh đào Phù Nam Techo sẽ có thể tạo ra những tác động môi trường và xã hội cho Đồng bằng Sông Cửu Long, nhưng “không theo cách đang được thảo luận rộng rãi tại Việt Nam”.

"Đa số giả định kênh đào này sẽ rút dòng chảy chính của sông Tiền và sông Hậu, nhưng một hệ thống cổng và âu tàu phức tạp sẽ ngăn chặn điều này xảy ra nếu được quản lý đúng cách."

"Tuy nhiên, các tác động thật sự sẽ làm giảm dòng chảy từ Campuchia về Việt Nam qua vùng đồng bằng bồi đắp và có thể làm sụt giảm lượng nước hiện có một cách nghiêm trọng ở Campuchia, phía nam kênh đào và đồng thời tại các tỉnh An Giang và Kiên Giang."

"Hệ thống đê của kênh đào sẽ cắt ngang qua vùng đất ngập nước tại tỉnh Kandal và Takeo của Campuchia, căn bản tạo ra một bức tường cực kỳ dài, ngăn chặn nước chảy xuống hạ lưu thông qua vùng đồng bằng bồi đắp chung rộng 1.500 km2," ông Brian nhận định.

Ông Brian nói rằng để đánh giá lượng nước bị sụt giảm bao nhiêu thì phải có nghiên cứu đầy đủ, nhưng “tôi có thể đoan chắc là con số này sẽ không nhỏ”.

“Các con đê của kênh đào này cũng sẽ khiến nước chảy về hướng đông và ngược vào các nơi tại Campuchia vốn trước đây chưa từng ngập lũ. Tôi lo ngại về khả năng dẫn tới lũ lụt tại thành phố Takeo và tại các vùng ở phía nam, ngoại ô của Phom Penh”, ông nói.

Giáo sư Chung Hoàng Chương, một nhà nghiên cứu độc lập về sông Mekong và đang tham gia cùng với Viện nghiên cứu Biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ, nói với BBC News Tiếng Việt rằng ông chỉ biết những thông tin ban đầu như Campuchia công bố về dự án này.

Do đó ông cho biết không thể đánh giá dự án này có “bi quan” hay không vào thời điểm hiện tại.

“Tôi không nghe thêm thông tin khác, hiện tôi đang chờ thêm thông tin từ Ủy hội sông Mekong và các tổ chức viễn thám khác chụp hình xem có gì thay đổi hay không.”

“Tôi nghĩ việc sử dụng nước lớn như vậy thì sẽ có tác động. Mặc dù bề ngang của kênh đào Phù Nam Techo chỉ khoảng 100 mét, nhưng bề sâu từ 4 – 5 mét, phía trên có những âu tàu. Khi làm xong công trình, thời gian họ chặn nước lại để con kênh đầy lên thì tôi lo ngại không biết thời gian này bao lâu, vì phụ thuộc thời tiết, lượng mưa, rồi lấy nước của sông Basaac để làm đầy kênh.”

“Trong lúc thời gian làm đầy nước cho kênh thì lượng nước chảy xuống hạ nguồn sông Mekong sẽ ra sao, bao nhiêu nước sẽ bị chặn lại, nước chảy qua vùng Tứ giác Long Xuyên sẽ bị ảnh hưởng ra sao và trong bao lâu. Đây là quan ngại của tôi,” ông nói.

Một ý kiến khác, tiến sĩ Sam Seun, nhà nghiên cứu chính sách từ Viện Hoàng gia Campuchia, cho rằng kênh đào Phù Nam Techo sẽ không ảnh hưởng tiêu cực đến Đồng bằng sông Cửu Long.

“Campuchia rất cẩn trọng trong việc xây dựng kênh đào Phù Nam Techo. Campuchia cũng không làm điều gì gây tổn hại cho dòng sông Mekong và đã chính thức ngừng xây dựng đập thủy điện dọc con sông này. Campuchia và Việt Nam đều kết nối với nhau qua sông Mekong. Tôi nghĩ Việt Nam nên ủng hộ Campuchia tiến hành dự án này thay vì lo lắng,” ông nói với BBC.

Trong khi đó, Ủy hội sông Mekong cho BBC biết vì thông tin nhận được chỉ bao gồm các chi tiết kỹ thuật chính và một mô tả ngắn về đánh giá tác động nên MRC không thể bình luận chi tiết được về dự án vào thời điểm này.

“Ban Thư ký Ủy hội sông Mekong đã yêu cầu và chờ thêm thông tin chi tiết từ Campuchia. Chúng tôi đang làm việc chặt chẽ với quốc gia thông báo dự án (Campuchia) để có thêm thông tin chi tiết. Cho đến khi đó, chúng tôi mới có thể tiến hành xem xét kỹ thuật và cung cấp bình luận về dự án này,” MRC thông tin với BBC.

 

Nên dừng dự án đến khi nghiên cứu đầy đủ?

Nguồn hình ảnh, NHAC NGUYEN/AFP/Getty Images

 

Theo Khmer Times, Thủ tướng Hun Manet đã “giải thích rõ ràng về chi tiết dự án” với người đồng cấp Việt Nam Phạm Minh Chính trong chuyến thăm tới Hà Nội trong hai ngày 11 và 12/12/2023 vừa qua

Ông So Naro khẳng định với Khmer Times rằng “dự án sẽ được xây dựng, bất chấp điều gì xảy ra”, sau khi đã được nghiên cứu khả thi 26 tháng.

Về Việt Nam, ông nói: “Chúng ta không có ý tiêu cực gì về Việt Nam, tuy nhiên, khi chúng ta phụ thuộc vào ai đó về sự tồn tại, điều này có nghĩa chúng ta đang đánh mất một phần độc lập của mình. Đó là lý do kênh đào Phù Nam Techo không chỉ là một phần lịch sử trong cơ sở hạ tầng quốc gia mà còn là một thành tựu nổi bật trong nền chính trị quốc tế của Campuchia.”

Nhà nghiên cứu Brian Eyeler cho rằng cần phải nghiên cứu đầy đủ và bình luận về tính cần thiết của dự án này. Và cho đến khi dự án được nghiên cứu đầy đủ thì theo ông, “nên dừng dự án này” vì có nhiều lựa chọn khác.

Theo ông Brian, Campuchia hoàn toàn có thể vận chuyển container dễ dàng thông qua tuyến đường cao tốc mới từ Phnom Penh về các cảng nước sâu ở Sihanoukville và Ream.

“Thương mại trên cao tốc sẽ đến các cảng nhanh hơn nhiều so với các xà lan vận chuyển hàng hóa chậm, qua các mạng lưới cổng và âu tàu phức tạp. Cũng có kế hoạch xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao để bổ sung các tuyến đường sắt hiện có từ Phnom Penh đến Kep và Sihanoukville và vận chuyển đường sắt có thể rẻ bằng đường thủy nếu được thiết kế hợp lý,” ông đánh giá.

Hiệp định Vận tải thủy Việt Nam–Campuchia có hiệu lực từ tháng 1/2011. Từ đó, khoảng 20 triệu tấn hàng hóa và chừng 1,3 triệu lượt hành khách đã lưu thông qua đường thủy nội địa giữa hai nước, theo thống kê vào tháng 5/2023.

Hai cảng Phnom Penh và Sihanoukville của Campuchia là điểm tập kết. Hàng hóa sau đó sẽ quá cảnh đến các cảng biển khu vực TP HCM và Cái Mép-Thị Vải (Bà Rịa–Vũng Tàu).

Giới quan sát cho rằng kênh đào Phù Nam khi xây dựng xong sẽ thiết lập tuyến kết nối giữa cảng Phnom Penh và Sihanoukville, giúp nhiều hàng hóa di chuyển qua các cảng ở Campuchia hơn là thông qua Việt Nam như hiện nay, và Việt Nam có thể mất nguồn lợi từ việc này.

 

Có yếu tố Trung Quốc?

 

Nguồn hình ảnh, Matt Hunt/SOPA Images/LightRocket thông qua Getty Images

 

Thủ tướng Hun Manet khẳng định dự án kênh đào Phù Nam Techo sẽ giúp cải thiện đời sống của 1,6 triệu người dân địa phương sống xung quanh kênh đào

Kinh phí đầu tư dự án này là 1,7 tỷ USD, theo hợp đồng BOT (xây dựng – vận hành – chuyển giao).

Theo Thông tấn xã Campuchia (AKP) ngày 27/12, Thủ tướng Hun Manet tuyên bố “Campuchia không vay tiền từ Trung Quốc để xây kênh đào này, nhưng việc xây dựng sẽ được tiến hành với sự hợp tác của lĩnh vực tư nhân theo hình thức BOT”.

“Bộ Kinh tế và Tài chính cũng nêu rõ rằng dự án kênh đào sẽ được thực hiện theo cơ chế đối tác công tư (Public-Private Partnerships – PPP), mà không theo khuôn khổ của bất kỳ khoản nợ từ các đối tác phát triển nào,” theo AKP.

Hiện chưa rõ đối tác tư nhân trong đầu tư dự án này là từ quốc gia nào.

Hiện Trung Quốc vẫn thúc đẩy mối quan hệ song phương ‘sắt son’ với Campuchia, quốc gia gần 17 triệu dân.

Năm 2023 cũng là năm kỷ niệm 65 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Thủ tướng Hun Manet được giới quan sát nhìn nhận vẫn đang tiếp nối di sản của cha mình, cựu Thủ tướng Hun Sen, trong việc gìn giữ mối quan hệ tốt đẹp với Bắc Kinh, cùng với đó là quan hệ giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Nhân dân Campuchia cầm quyền tiếp tục được củng cố.

Không lâu sau khi nhậm chức, ông Hun Manet cũng đã công du đến Bắc Kinh vào tháng 9/2023 và có cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Campuchia cũng là một trong những quốc gia Đông Nam Á rất ủng hộ Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc (BRI).

Campuchia cũng đã tham gia Sáng kiến ‘Cộng đồng cùng chia sẻ tương lai’ của Trung Quốc.

Trong chuyến thăm của ông Hun Sen đến Bắc Kinh hồi tháng 2/2023, hai nước cũng đã nâng tầm hợp tác lên “Hợp tác Lục giác kim cương” trong sáu lĩnh vực ưu tiên, gồm hợp tác chính trị, năng lực và chất lượng sản xuất, nông nghiệp, năng lượng, an ninh và trao đổi nhân lực.

Trong bài viết trên Diplomat ngày 2/1/2024, Sothearak Sok, nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á và giảng viên Đại học Hoàng gia Phnom Penh, Campuchia, nêu một bình luận cho rằng Trung Quốc có thể sử dụng kênh đào này để thúc đẩy tham vọng quân sự trong khu vực.

Trước đó, năm 2022, một số quan chức phương Tây giấu tên vì tính chất nhạy cảm của vấn đề, nói với Washington Post về việc Trung Quốc đã “bí mật” động thổ xây dựng căn cứ hải quân Ream ở Vịnh Thái Lan, tiền đồn ở nước ngoài thứ hai của Trung Quốc, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương. Quan chức các nước liên quan sau đó đã cố làm nhẹ vụ việc này.

 

Quy trình sắp tới sẽ là gì?

Nguồn hình ảnh, TANG CHHIN SOTHY/AFP/Getty Images

 

Ngư dân đánh cá trên sông Mekong tại Phnom Penh vào năm 2021

Campuchia đã thông báo các quốc gia thành viên trong Ủy hội sông Mekong về ý định xây dựng kênh đào này.

Với thông tin hiện tại, Ban Thư ký Ủy hội sông Mekong đang phối hợp với Ban Thư ký Ủy ban Quốc gia Mekong của Campuchia (CNMC) để có thêm chi tiết về dự án.

Theo MRC, thông báo của Campuchia đã mở ra một kênh đối thoại giữa các quốc gia thành viên và những bên liên quan về cơ hội thảo luận, đồng giám sát, và giám sát các chi tiết hướng dẫn từ Ủy hội sông Mekong.

MRC cho biết quy trình này tuân thủ với các ý định được đề ra trong Hiệp định sông Mekong 1995 do Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam khi thành lập ủy hội này.

Về phía chính quyền Việt Nam, hiện chưa có phản ứng chính thức về dự án kênh đào Phù Nam Techo.

SOURCE:

https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cd1vgnzkdd8o

Lymha’s Google Drive Link:

https://docs.google.com/document/d/1y5PpPd4wlKlTuu4YkpUC-5KsVfY4HlFpn1t1SkmdUKs/edit

 

 

Monday, January 29, 2024

Ô NHIỄM NITROGEN NÔNG NGHIỆP LÀ MỘT ĐE DỌA TOÀN CẦU, NHƯNG CÁC GIẢI PHÁP TUẦN HOÀN ĐANG CHỜ

 (Agricultural nitrogen pollution is global threat, but circular solutions await)

Claire Asher – Bình Yên Đông lược dịch

Mongabay – 16 January 2024

 


·                     Nitrogen là một nguyên tố cần thiết cho những sinh vật sống, cần để cấu tạo DNA, chất đạm và diệp lục tố.  Mặc dù nitrogen chiếm gần 80% không khí chúng ta thở, tính có sẵn của nó cho cây cối và thú vật rất hạn chế.  Kết quả là, nitrogen là một yếu tố giới hạn trong sự tăng trưởng của hoa màu từ lúc bình minh của nông nghiệp.

·                     Nhân loại phá vỡ những giới hạn đó bằng tiến trình Haber-Bosch để tạo ra ammonia và phân bón tổng hợp, thúc đẩy bởi nhiên liệu hóa thạch, và nay được dùng một số lượng lớn lao cho hoa màu.  Nhưng lượng nitrogen chảy vào đó đã làm xáo trộn chu kỳ nitrogen tự nhiên của Trái đất.  Ngày nay, ô nhiễm nitrogen đang vượt qua nhiều biên giới của hành tinh

·                     Nitrates ô nhiễm các thủy đạo, gây ra phú dưỡng (eutrophication).  Nitrous oxide là một khí nhà kiếng mạnh và là một chất làm cạn kiệt ozone.  Ammonia là một nguyên nhân của ô nhiễm không khí, với những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.  Nitrogen cũng được dùng để sản xuất những chất tổng hợp có tiềm năng sống lâu có thể trở thành những chất ô nhiễm

·                     Kỹ thuật và quản lý nông nghiệp tốt hơn có thể cắt giảm 1/3 hay nhiều hơn ô nhiễm nitrogen.  Những giải pháp kinh tế tuần hoàn gồm có hiệu năng của phân bón tốt hơn, nâng cao sự đông lại tự nhiên của nitrogen, và phục hồi và tái sử dụng chất thải nitrogen.  Những thay đổi xã hội cũng cần đến, gồm có biến chuyển trong ẩm thực tránh xa thịt của con người.

 

Khi thế giới vật lộn với thay đổi khí hậu, các nhà làm chánh sách vẫn chú trọng đặc biệt đến CO2, với nhân loại đang cố gắng để bỏ carbon trong những hệ thống năng lượng, thu giữ carbon, phát hành tín dụng carbon, và trồng hàng triệu cây để thu hút phóng thích.

Nhưng carbon dioxide chỉ là một trong vài khí nhà kiếng mạnh gây bất ổn cho khí hậu toàn cầu, và chỉ là một trong những chất ô nhiễm do con người tạo ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến thế giới thiên nhiên và đe dọa đẩy Trái đất ra khỏi tình trạng có thể cư trú hiện nay.

Một chất khác ít khi được mọi người chú ý, nhưng có lẽ có ảnh hưởng lớn hơn đến những hệ thống hỗ trợ đời sống của hành tinh củ chúng ta, là nitrogen.

“Nitrogen ở khắp nơi và không thể thấy,” và nó ảnh hưởng đến nhiều thứ, Mark Sutton, một nhà vật lý môi trường của Trung tâm Sinh thái và Thủy học ở U.K., nói.  Những sự mất cân bằng lớn lao trong chu kỳ nitrogen tự nhiên của Trái đất, mang lại bởi các hệ thống nông nghiệp-thực phẩm, kỹ nghệ và giao thông của nhân loại, khiên cho các nhà khoa học nhiều lần lên tiếng báo động – nhất là trong 2 thập niên qua – phần lớn không được lắng nghe.  Nhưng các nhà phân tích nói những giải pháp kinh tế tuần hoàn đang chờ, mặc dù chúng sẽ đòi hỏi những thay đổi lớn lao trong nông nghiệp và xã hội.

 

Nitrogen là một yếu tố giới hạn trong sự tăng trưởng của hoa màu từ lúc bình minh của nông nghiệp.  Trong lịch sử, nông dân trồng rau để sửa nitrogen trong đất, và dùng phân của gia súc để tái chế chất thải nitrogen vào hệ thống. [Ảnh: Farm Watch]

 

Haber-Bosch: Một con dao 2 lưỡi

Nitrogen rất cần thiết.  “Không có nitrogen, sẽ không có đời sống.  Nó là những khối tạo nên DNA, amino acids, và chất đạm.  Nó ở trong diệp lục tố châm ngòi cho quang hợp,” David Kanter, một nhà khoa học môi trường của Đại học New York, giải thích.

Nhưng mặc dù nguyên tố nầy chiếm gần 80% của không khí chúng ta thở, và là một chất kích thích cho sự tăng trưởng của cây cối, tính có sẵn của nitrogen cho cây cối và thú vật vô cùng hạn chế.  Kết quả là, nitrogen đã là một yếu tố giới hạn đối với năng suất của hoa màu từ lúc bình minh của nông nghiệp.  Trong lịch sử, nông dân chỉ có 2 khí cụ để chuyển thêm: trồng rau để sửa chữa nitrogen ở trong đất và dùng phân của gia súc để tái chế chất thải nitrogen.

Điều đó đã thay đổi lớn lao trong đầu thế kỷ 20th, khi nhà hóa học Đức Fritz Haber và Carl Bosch phát triển một tiến trình kỹ nghệ để lấy nitrogen từ không khí và biến nó thành ammonia, bằng cách dùng nhiệt độ và áp suất cao.  Phát minh của họ lần đầu tiên được thu hoạch để đáp ứng nhu cầu của nitrate để làm thuốc nổ trong Thế Chiến I.  Sau chiến tranh, kỹ nghệ hóa chất xoay qua sản xuất những số lượng lớn phân bón nitrogen tổng hợp.

Từ năm 1900 đến 2000, dân số toàn cầu gia tăng từ 1,6 tỉ đến 6 tỉ người, nhưng đất nông nghiệp chỉ nới rộng 30%.  Khoảng trống nầy phần lớn được lấp đầy bởi phân bón nitrogen tổng hợp được tạo nên qua tiến trình Haber-Bosch, giúp cho những gia tăng vô cùng to lớn của năng suất hoa màu.  Nhưng bằng cách lấy nitrogen từ khí quyển và sử dụng nó cho đất nông nghiệp, Haber-Bosch cũng tăng gấp đôi kích thước của chu kỳ nitrogen toàn cầu.

“Nó là một phát minh có nhiều hậu quả nhất trong lịch sử nhân loại,” Kanter nói.

Từ năm 1961, mức sử dụng phân bón tổng hợp đã gia tăng trên 10 lần, nhưng hầu hết nitrogen đó không đến thực phẩm trên dĩa của chúng ta, nhưng gây ô nhiễm đất và nước.

Vấn đề gia tăng vì nitrogen được áp dụng cho đất nông nghiệp không nằm ở đó.  “Hệ thống trong tất cả những thành phần của nó rò rỉ,” Ramus Einarsson, một nhà nghiên cứu của Đại học Khoa học Nông nghiệp Swedish, nói.

 


Nitrogen trong khí quyển ở dạng N2 không phản ứng vô cùng vì 2 phân tử N được nối với nhau bằng 3 mối nối mạnh.  Nhưng khi N2 trong khí quyển được sửa lại – bằng tia chớp, bằng cây cối qua vi khuẩn sửa nitrogen ở trong rễ, hay bởi con người qua tiến trình Haber-Bosch – 3 mối nối đó bị vỡ và nitrogen biến thành nhiều dạng phản ứng hơn, chẳng hạn như ammonia, nitrogen oxides hay nitrous oxide.

Nitrogen phản ứng dễ biến thành dạng nầy đến dạng khác, và hóa chất nầy khéo léo cho phép nó nhanh chóng đổ xuống qua môi trường.  “Nó có thể tiếp tục hành trình hủy hoại môi trường nầy, nơi nó bắt đầu có lẽ là ammonia, đóng góp vào ô nhiễm không khí, và rồi chuyển thành nitrate, đóng góp vào ô nhiễm nước, rồi đi vào không khí như nitrous oxide,” làm tồi tệ thêm thay đổi khí hậu và cạn kiệt ozone, Kanter giải thích.

Một phần, nó có thể là sự phức tạp gây sửng sốt của phản ứng của hóa chất nầy – và sự khó khăn trong việc liên lạc với công chúng của những tiến trình phần lớn không thấy được – đã đóng góp vào đáp ứng chậm của nhân loại với khủng hoảng ô nhiễm nitrogen đang leo thang.

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

MẶT TRÁI CỦA THỦY ĐIỆN

(The Dark Side of Hydropower)

Tobias Landwehr et al. – Bình Yên Đông lược dịch

Pulitzer Center – November 24, 2023

 

Các đập đang cung cấp nhiều điện tái tạo hơn bao giờ.  Nhưng một điều tra của SZ với sự hợp tác của Pulitzer Center cho thấy cái giá cao như thế nào – và năng suất năng lượn không được bảo đảm như mong đợi.

Hầu như không còn bất cứ sông dài nào trên thế giới vẫn còn chảy không bị xáo trộn từ nguồn đến cửa của nó.  Hầu hết nay bị cắt ngang bởi các đập lớn.  Khoảng 10.500 của những kiến trúc nầy hiện cung cấp điện, làm cho chúng là nguồn cung cấp điện quan trọng nhất cho đến nay.  Trái đất của chúng ta cho thấy những đập lớn nhất với công suất thiết trí trên 100 MW trong những lưu vực sông quan trọng.

Các đập thật sự là phúc lành: Chúng không những sản xuất năng lượng mà còn bảo vệ toàn thể khu vực khỏi bị lũ lụt.  Chúng giúp cho nông dân qua những lúc hạn hán và cung cấp nơi cư trú cho cá – tất cả với một chi phí khá thấp.  Nhưng cái giá thì cao.

Những vấn đề thường bắt đầu ở các phụ lưu, như được thấy trên Mississippi. “Sông Cả” là một lưu vực lớn nhất trên thế giới: Tổng cộng, nó và các phụ lưu thoát nước cho 1/3 của toàn thể USA.

Trên một số phụ lưu của Mississippi, đập nầy đến đập khác nồi tiếp nhau như một chuỗi ngọc trai.  Những cái được gọi là chuỗi nầy là một khái niệm cổ điển của thủy điện.  Chúng lý tưởng để sản xuất năng lượng, nhưng biến một dòng sông thành một vùng nước hầu như ứ đọng.

Đó là vì các đập chẳng hạn như Gavins Point trên sông Missouri là những kiến trúc khổng lồ - là một sự can thiệp vào thiên nhiên lớn lao.

Hàng tấn phù sa cũng bị chận lại với nước: Đá, bùn và cát bị kẹt lại sau các kiến trúc.  Vì hồ chứa càng ngày càng bị lấp đầy, năng suất năng lượng sụt giảm.  Mặc dù càng ngày càng có thêm đập được xây trên toàn thế giới và khối lượng của hồ chứa được xây do đó phải gia tăng, khối lượng của hồ chứa có sẵn thật sự của các hồ bị giảm.

Nhưng chưa hết: Đồng thời, phù sa bị thiếu trong sông và đồng bằng, gây ra sạt lở.

Việc bồi lắng nầy xảy ra không thể thấy và không báo trước bởi nhiều người.  Nó chậm chạp, những thành phần của nó tí hon và nó xảy ra ở hàng chục đến hàng trăm m ở dưới nước.

Ngay cả vệ tinh cũng không thể nhìn vào chiều sâu của hồ chứa.  Nhưng chúng có thể làm cho bồi lắng thấy được ở nơi khác: trong các đồng bằng sông, nơi nước sông chảy ra biển và tạo nên một vùng thiên nhiên và kinh tế đặc thù.

Vì càng ngày càng có ít phù sa đi đến đó, sóng làm sạt lở các đồng bằng – với những hậu quả tàn phá cho người dân và thiên nhiên.

SZ đã phân tích các hình ảnh của 11 đồng bằng và thấy những thay đổi của bờ biển.  tất cả ngoại trừ 1 bị thu hẹp có thể nhìn thấy.

Một thí dụ gây ấn tượng là cửa sông của Rio São Francisco ở Brazil, một trong 25 sông dài nhất trên thế giới.  Từ giũa thế kỷ 20th, nhiều đập to lớn đã được xây trên hành trình của nó.  Đây là lý do vì sao hồ chứa Sobradinho được tạo nên, ngay cả có thể nhìn thấy từ không gian.

Đồng bằng của Rio São Francisco ở trên bờ biển đông bắc của Brazil đã thay đổi lớn lao trong những thập niên tiếp theo, như phân tích SZ thấy.

Đến cuối năm 2022, đồng bằng sẽ bị mất 8 km2 đất so với năm 1984.  Đó là gấp đôi English Garden của Munich.  Cabeço đã chìm xuống biển từ lâu, hải đăng của nó nay đứng ở giữa biển.  Một đơn kiện chống lại công ty điều hành các đập đang tiến hành nhiều thập niên và có thể tạo ra một tiền lệ.

Nhưng vấn đề ở đồng bằng ở Brazil không phải là một trường hợp cô lập.  Hiện tượng có thể được quan sát trên toàn thế giới.

Các đập khổng lồ cũng có ảnh hưởng lớn lao đến người dân và thiên nhiên ở Âu Châu, thí dụ như Rio Ebro, sông dài thứ 2nd ở Spain.

Chỉ có đồng bằng Nile lớn hơn đồng bằng Ebro ở Địa Trung Hải.  Nó có thể chứa toàn thể Munich.  Thay vì là một khu đô thị, tuy nhiên, nó là nơi cư trú của một trong những vùng trồng lúa lớn nhất ở Spain: 135.000 tấn một năm được trồng ở đồng bằng.  Ngoài ra, một trong những nơi trú ẩn quan trọng của chim ở Âu Châu nằm ở mũi.

Khu bảo tồn thiên nhiên ở gần tam giác Isla de Buda đặc biệt có nguy cơ biến mất.  Nếu không có những biện pháp chống lại, đồng bằng sẽ không còn hiện diện trong 20 năm, các nhà hoạt động nói.  So với năm 1984, đồng bằng đã mất 5 km2.

Những vấn đề tương tự cũng xảy ra ở phía bên kia của thế giới, ở Đông Nam Á (ĐNA):

Mekong chảy qua Trung Hoa, Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam.  Từ thập niên 2000s, gần 50 đập với công suất trên 100 MW mỗi đập được xây sông và nhiều phụ lưu của nó.

Nếu chúng chạy tối đa, chúng có thể cung cấp trên ½ điện mà Đức cần đến.  Và những siêu đập mới dăng được xây cất từ lâu.

Thượng Lào và nam Trung Hoa được phát triển rất nặng nề.  Toàn thể các phụ lưu chẳng hạn như Ou ở Lào đã được biến thành chuỗi đập.

Việc tương tự áp dụng cho thượng lưu Mekong ở Trung Hoa, nơi một số nhà máy thủy điện cao nhất và giàu năng lượng nhất trên thế giới đã được xây.  Phù sa rất hiếm khi được cứu xét.

Ảnh hưởng đối với cửa sông, nơi trên 20 triệu người sinh sống, cũng lớn lao tương tự.  Việc trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long vô cùng quan trọng đối với an ninh lương thực của ĐNA.

Phần trẻ nhất của cực nam đồng bằng gồm có tỉnh Cà Mau ở Việt Nam.  Nó vẫn lớn ra trong thập niên 1990s.

Ngày nay, sạt lở đang gia tăng ở đây.  Bờ biển thụt lùi trên 50 m mỗi năm ở nhiều nơi.  Về phía tây của mũi Cà Mau, điểm lục địa cực nam của Việt Nam, đồng bằng vẫn lớn ra – nhưng rất chậm so với trước đây.

Đồng bằng chánh ở phía bắc đã lớn ra từ lâu.  40 năm trước, chỉ có 1 đập lớn trên một phụ lưu của Mekong.  Sông từng là một trong những sông chảy tự do lớn nhất trên thế giới.  Bờ biển vô cùng phì nhiêu đã di chuyển ra biển đến 80 m mỗi năm. 143 triệu tấn đất đi đến cửa sông mỗi năm, nhiều khoảng 1/5 của tất cả các tòa nhà ở New York.

Ngày nay, biển đang gặm nhấm vào đồng bằng.  Mặc dù nhiều đập vẫn còn trẻ, khỏng 40 đến 50 đập đã hoạt động trong 15 năm qua.  Kết quả là, 1/3 lượng phù sa ban đầu vẫn đến cửa sông.  Vào năm 2040, tuy nhiên, nó được tiên đoán chỉ còn 3%.

Trong nghiên cứu nầy, SZ phân tích một số sông, diện tích lưu vực và dồng bằng của chúng và tính phạm vi ảnh hưởng của các đập đối với bờ biển.

Mặc dù với tất cả những vấn đề nầy, thủy điện là một nguồn rất quan trọng của năng lượng.  Với trên 4.300 TWh mỗi năm, nó cung cấp nhiều điện hơn các nguồn năng lượng tái tạo khác gộp lại.  Nhưng làm thế nào để tránh vấn đề bồi lắng trong hồ chứa?

Đã có những cái có thể làm, các nhà nghiên cứu nói.  Thí dụ, phù sa có thể được tháo ra qua những cửa ở dưới thấp, tuy nhiên, nó làm giảm năng suất năng lượng.  Hay một phần của sông mang nhiều đất có thể được chuyển đi.  Nó cũng có thể được cho vào ống ngầm và đưa qua đập.  Tuy nhiên, phương pháp nầy không thích hợp cho tất cả phù sa.

Tuy nhiên, những kỹ thuật nầy hiếm khi được thực hiện, ngay cả trong những đập mới, kỹ sư thủy lực George Annandale nói.  Lý do chánh là vì những lợi ích kinh tế chỉ trở nên rõ ràng sau 50 đến 80 năm.  “Đó là vấn đề lớn của tôi với phân tích kinh tế của những dự án khổng lồ nầy được giả sử kéo dài nhiều thế kỷ.  Nó là một suy nghĩ ngắn hạn cho những dự án dài hạn.”

HÌNH ẢNH VỆ TINH CHO THẤY CÁC ĐẬP CỦA TRUNG HOA ĐANG ĐE DỌA NGUỒN NƯỚC NGỌT CỦA CÁC LÁNG GIỀNG

 (Satellite Images Show China's Dam Threatening Neighbors' Fresh Water Supply)

Aadil Brar – Bình Yên Đông lược dịch

Newsweek – January 19, 2024

 

Đập mới của Trung Hoa ở gần thị trấn Burang trong Khu Tự trị Tibet được hoàn tất, theo hình ảnh vệ tinh ngày 18 tháng 1 năm 2024.  Việc xây cất đập của Trung Hoa trong Himalayas có thể kiểm soát dòng nước ngọt đến các láng giềng, Nepal à Ấn Độ.

 [Ảnh: Sentinel Hub]

 

Trung Hoa có vẻ đã hoàn tất việc xây cất một đập mới trong vùng biên giới tây nam của quốc gia, một dự án có thể có những hệ quả chiến lược sâu rộng đến các láng giềng ở phía nam Ấn Độ và Nepal, theo hình ảnh vệ tinh mới nhất.

Sông Mapcha Tsangpo, được dịch từ tiếng Tibet (Tây Tạng) là “con công”, được gọi là Gahghara ở Ấn Độ và Karnali ở Nepal.  Nó là một nguồn cung cấp nước ngọt quanh năm đáng kể cho dân số ở tây Nepal và đồng bằng phía bắc của Ấn Độ.

Beijing và New Delhi đã cãi nhau về việc xây đập của Trung Hoa trong Himalayas trước đây, từ khi bắt đầu việc xây cất trên sông Yarlung Tsangpo 3 năm trước đây.  Dự án siêu đập liên quan đến con sông cao nhất thế giới, bắt đầu ở tây nam Khu Tự trị Tibet của Trung Hoa và chảy vào Ấn Độ như là Brahmaputra.

Newsweek phân tích hình ảnh từ trang mạng Sinergise’s Sentinel Hub, diễn tả những hình ảnh được thu thập từ vệ tinh Sentinel-2 của chương trình quan sát trái đất Copernicus của Liên hiệp Âu Châu, thấy việc xây cất ở Mapcha Tsangpo bắt đầu trong tháng 7 năm 2021.  Đập ở phía bắc của thị trấn Burang, trong quận Ngari của Tibet, nay đã hoàn tất và được thấy trong hình ảnh chụp từ quỹ đạo Trái đất trong tháng nầy.

Kiến trúc bê tông nằm cách thị trấn biên giới Hilsa của Nepal khoảng 18 dậm về phía bắc và cách biên giới Ấn Độ khảng 37 dậm về phía đông.  Hilsa có khoảng 51.000 cư dân, nhưng vùng phía tây rộng hơn của Nepal là nơi cư trú của trên 4 triệu người.

Các đập mới trong những khúc sông thượng lưu của Himalayas có thể ảnh hưởng đời sống của nhiều triệu người ở Ấn Độ sống trong vùng lân cận với biên giới với Nepal.

Hạ lưu từ Nepal, Mapcha Tsangpo chảy vào những đồng bằng của Ấn Độ, nơi nó được gọi là Sarayu, và chảy qua Ayodhya ở phía bắc bang Ulter Pradesh.  Thành phố được xem là nơi sanh của thần Hindu Ram.

Ngày Thứ Hai, Thủ tướng Narendra Modi chủ tọa lễ cúng tế “Pran Pratishtha” ở đền Hindu đáng kể về mặt văn hóa và chánh trị.

Hạ tầng cơ sở thêm của Trung Hoa trong vùng biên giới nhạy cảm gồm có phi trường Ali Pulan, một địa điểm sử dụng kép dùng cho các mục đích dân sự và quân sự, chánh thức hoạt động hồi cuối tháng rồi, theo cơ quan hàng không dân sự của khu vực Tibet.

 

Hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Hoa bắt đầu xây cất một đập mới gần thị trấn Burang trong Khu Tự trị Tibet ngày 18 tháng 9 năm 2021.  Việc xây đập của Trung Hoa trong Himalayas có thể kiểm soát dòng nước ngọt đến các láng giềng Nepal và Ấn Độ.

[Ảnh: Sentinel Hub]

 

Hình ảnh vệ tinh chụp ngày 13 tháng 9 năm 2022 cho thấy việc xây cất 1 đập mới ở gần thị trấn Burang trong Khu Tự trị Tibet ở tây nam Trung Hoa.  Việc xây đập của Trung Hoa trong Himalays có thể kiểm soát dòng nước ngọt đến các láng giềng Nepal và Ấn Độ.

[Ảnh: Sentinel Hub]

 

Hình ảnh vệ tinh chụp ngày 8 tháng 9 năm 2023 cho thấy việc xây cất một đập mới ở gần thị trấn Burang trong Khu Tự trị Tibet ở tây nam Trung Hoa.  Việc xây đập của Trung Hoa trong Himalayas có thể kiểm soát dòng nước ngọt chảy đến các láng giềng Nepal và Ấn Độ. 

[Ảnh: Sentinel Hub]

 

“Hiển nhiên Ấn Độ lo ngại về những hậu quà không chủ ý lâu dài của các hoạt động của Trung Hoa trong nhiều thập niên.  Hiểu được thái độ nước của Trung Hoa với các láng giềng khác vô cùng quan trọng trong việc giải đoán đường lối bá chủ đã không được kiểm soát cho đến nay,” Sana Hashmi, một học giả hậu tiến sĩ của tổ chức nghiên cứu Taiwan-Asia Exchange Foudation (Hiệp hội Trao đổi Taiwan-Á Châu) ở Taipei, nói.

Beijing trong năm 2017 đã ngưng chia sẻ tin tức thủy học với Neew Delhi, sau đó chỉ tái tục hợp đồng chia sẻ dữ kiện với một chi phí.  Trước đó, trong năm 2013, khi nguyên Thủ tướng Manmohan Singh thăm viếng Beijing, 2 chánh phủ ký một biên bản ghi nhớ (MOU) trong đó Trung Hoa cam kết chia sẻ dữ kiện thủy học với Ấn Độ hàng năm từ 15 tháng 5 đến 15 tháng 10, Hashmi nói với Newsweek.

“Mặc dù có MOU để chia sẽ dữ kiện lũ lụt của Brahmaputra trong mùa mưa, không có nhiều tiến bộ,” cô nói.

Omair Ahmad, chủ bút quản lý cho Nam Á Châu của The Third Pole, một ấn bản đặc biệt về những vấn đề môi trường trong vùng Himalayas, nói với Newsweek rằng trường hợp của đập mới ở Tibet đã che phủ thủy chánh trị ở Đồng bằng sông Cửu Long ở Đông Nam Á (ĐNA).

“So sánh tốt nhất của điều nầy là làm thế nào Trung Hoa đã cố gắng uốn nắn thủy chánh trị trong Mekong.  Đây là nơi họ gia tăng lập luận rằng, là một láng giềng thượng lưu, họ có quyền là các quốc gia láng giềng phải tôn trọng, hoàn toàn đi ngược lại tất cả luật quốc tế về việc nầy,” Ahmad nói.

“Nó không đơn giản rằng nước chảy qua thượng lưu và rằng duyên hà ở thượng lưu không có quyền hạn tuyệt đối đối với sông.  Có duyên hà ở hạ lưu có quyền sử dụng dựa trên việc sử dụng truyền thống,” ông nói.

Ahmad nói thêm: “Không giống như Mekong, không có những tổ chức nước khu vực như Ủy hội Sông Mekong ở ĐNA, vì thế không có một không gian để tham gia.”

Các ngoại trưởng của Trung Hoa, Ấn Độ và Nepal không trả lời ngay yêu cầu cho ý kiến trước khi bài viết được công bố.

Một cuộc điều tra trong năm 2022 của báo mạng The Quint của Ấn Độ nói Trung Hoa đã đòi Ấn Độ trên 19 triệu USD cho dữ kiện từ 3 trạm thủy học.  Mùa thu vừa qua, South China Morning Post của Hong Kong nói 2 chánh phủ đang thương thảo một thỏa thuận chia sẽ dữ kiện thủy học, sẽ hết hạn trong năm 2023.

Trong năm 2019, nguyên thủ tướng đã qua đời Li Keqiang (Lý Khắc Cường), chĩa mũi nhọn một dự án theo sau Dự án Chuyển Nước Nam-đến-Bắc, một kế hoạch đầy tham vọng lâu hàng thập niên để chuyển nước từ đập Three Gorges (Tam Hiệp) giàu nước trên sông Yangtze đến những vùng khô cằn ở phía bắc của quốc gia gồm có Beijing và Tianjin.

Dự án đó sẽ bắt đầu “xây cất đầy đủ” trong tháng nầy, theo thông tấn xã chánh thức Xinhua của Trung Hoa.

Trong năm 2012, Trung Hoa loan báo các kế hoạch để nối những hệ thống sông ở Tibet với những sông còn lại của lục địa, có thể liên quan đến việc xây một siêu đập dọc theo vùng biên giới với Ấn Độ.

Dự án ở Yarlung Tsangpo, sông dài thứ 5th ở Trung Hoa, là một bước ngoặt khác trong mối liên hệ Trung Hoa-Ấn Độ vì tiềm năng chiến lược của nó để kiểm soát việc tiếp cận nước ngọt ở hạ lưu Brahmaputra.  Sông nằm ở phía đông của biên giới dài và tranh cãi là một trong những tài nguyên nước ngọt quan trọng nhất cho cư dân trong vùng đông bắc của Ấn Độ cũng như Bangladesh.

Mark Giordano và Anya Wahal, các chuyên viên của Trường Ngoại Vụ Walsh của Đại học Georgetown, lập luận trong tháng 12 năm 2022 rằng nước của Brahmaputra có thể trở thành một nguồn xung đột giữa 2 quốc gia khổng lồ ở Á Châu.

“Brahmaputra có vẻ nằm ở đầu danh sách của những điểm nóng xung đột.  Sông được chia sẻ bởi 4 quốc gia, gồm có 2 quốc gia đông dân nhất thế giới là Trung Hoa và Ấn Độ.  Cả hai có nền kinh tế tăng nhanh chóng, và cả hai đã thuộc vào những quốc gia chịu áp lực nước nhiều nhất trên thế giới,” họ viết cho Viện Hòa bình Hoa Kỳ.

Trong những năm gần đây, Ấn Độ đã chống đối việc xây cất các dự án thủy điện bằng cách từ chối mua điện từ các vị trí với đầu tư của Trung Hoa, chẳng hạn như nhà máy thủy điện Chameliya ở Nepal, đươc xây với trợ giúp tài chánh của Beijing.

Beijing đang xây một đập khác ở phía bắc của vị trí Burang, việc xây cất đã bắt đầu trong tháng 12 năm 2022, theo Xinhua.  Dự án có thể kiểm soát thêm hệ thống sông của Tibet thượng lưu từ Mapcha Tsangpo.

Khả năng chứa nước của hồ chứa là 4,0352 triệu m3.  Việc phát triển dự án phần lớn cho thủy nông,” truyền thông quốc doanh của Trung Hoa cho biết vào lúc đó.