Sunday, July 12, 2020

NGUỒN GỐC VÀ SỰ DI CHUYỂN CỦA ARSENIC TRONG NƯỚC NGẦM Ở VÙNG CHÂU THỔ SÔNG MEKONG



Nguyễn Minh Quang
7 tháng 7 năm 2020

Người dân ở nông thôn Cambodia sử dụng nước giếng 
có nồng độ arsenic trên mức cho phép. [Ảnh: Scott Fendorf]

Phần dẫn nhập

Arsenic trong nước ngầm được xem là mối đe dọa đến sức khỏe của khoảng 137 triệu người trong 70 quốc gia [1].  Trong vùng châu thổ sông Mekong – vùng ngập lụt phía dưới Kratie bao gồm một phần của Cambodia và Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam (ĐBSCL) – arsenic nằm trong các lớp trầm tích, do do sự lắng đọng của phù sa phát xuất từ dãy Himalayas dưới dạng iron oxides.  Từ đó arsenic được phóng thích vào nước ngầm qua phản ứng sinh học hay sự phân hủy của iron oxides [2].  Arsenic được tìm thấy với nồng độ cao trong các lớp trầm tích cận đại (Holocene Alluvium) và trung đại (Pleistocene Alluvium) trong các châu thổ ở Nam và Đông Nam Á (ĐNA) như ở Ấn Độ [3], Nepal, West Bengal, Bangladesh, Cambodia và Việt Nam (sông Hồng và sông Cửu Long) [4].  Đặc biệt ở ĐBSCL, ngoài các lớp trầm tích cận và trung đại, arsenic có nồng độ cao còn được tìm thấy trong nước ngầm trong các lớp trầm tích cổ đại (Pliocene Alluvium và Miocene Alluvium) nằm sâu ở dưới đất.

Sự hiện diện của arsenic trong các lớp trầm tích cận và trung đại tương đối dễ hiểu, nhưng sự hiện diện của nó trong các lớp trầm tích cổ đại ở ĐBSCL vẫn còn là một “bí mật” chưa được giải thích một cách khoa học cho đến thập niên 2000s.  Bài viết nầy có mục đích tìm hiểu về nguồn gốc của arsenic cũng như sự hiện diện của nó trong các lớp trầm tích cổ đại qua việc phân tích cái “bí mật” vừa được các khoa học gia giải mật.

Địa chất và địa thủy học của ĐBSCL

Sự hiện diện của arsenic trong nước ngầm trong các lớp trầm tích ở ĐBSCL tùy thuộc vào địa chất và địa thủy học (geohydrology) ở trong vùng, vì nước ngầm không thể chảy qua các lớp đất sét mà chỉ có thể chảy trong các lớp cát sạn từ nơi có thủy thế (hay áp suất) cao đến nơi có thủy thế thấp. 
Hình 1: Đồng bằng sông Cửu Long. [5]

ĐBSCL được cấu tạo bởi nhiều lớp trầm tích từ thời cổ đại, nằm sâu ở dưới mặt đất, đến thời cận đại nằm gần mặt đất.  Các lớp trầm tích nầy gồm có những lớp cát sạn (thấm nước) xen lẫn với các lớp đất sét (không thấm nước).  Một mặt cắt ngang ĐBSCL từ biên giới với Cambodia đến bờ Biển Đông cho thấy các lớp trầm tích trung đại (Pleistocene Alluvium) và cổ đại (Pliocene Alluvium) càng ngày càng dầy hơn và ở sâu hơn khi tiến ra biển.  Lớp trầm tích trung đại (Pleistocene Alluvium) có chiều sâu từ khoảng 20 m đến 90 m ở biên giới Việt-Miên và khoảng 100 m đến 200 m ở bờ biển Đông.  Lớp trầm tích cổ đại (Pliocene Alluvium) có chiều sâu khoảng 130 m đến 180 m ở biên giới Việt-Miên và 240 m đến 400 m ở bờ biển.  Dựa trên độ dốc nầy, các lớp trầm tích trung và cổ đại có thể đi đến gần mặt đất và liên kết với lớp trầm tích cận đại (Holocence Alluvium) mà không bị các lớp đất sét xen vào.


Hình 2: Địa chất của ĐBSCL ở mặt cắt AA’ (Hình 1) dọc theo sông Tiền. [5]

Vì các lớp trầm tích ở ĐBSCL là một phần của các lớp trầm tích trong châu thổ sông Mekong phát xuất từ mặt đất ở Cambodia, chúng chịu một áp suất rất cao.  Vì thế, mực nước ngầm trong các giếng khoan đến các tầng nước ngầm ở ĐBSCL dâng lên rất cao, có cao độ từ -1 m đến -3 m trong điều kiện tự nhiên (Hình 3).  Nó tương ứng với mực nước ngầm trong các lớp trầm tích ở Cambodia có cao độ trên + 2m (Hình 4); vì thế, nước ngầm trong các lớp trầm tích nầy di chuyển từ Cambodia qua Việt Nam rồi đổ ra Biển Đông.

Hình 3: Mực nước ngầm ở ĐBSCL. [4]

Hình 4: Mực nước ngầm ở châu thổ Mekong, Cambodia. [6]

Nghiên cứu của Fendorf

Từ lâu, các nhà khoa học đã xác định được rằng arsenic hiện diện trong các châu thổ sông ở Nam Á và ĐNA phát xuất từ vùng Himalayas và được phù sa mang theo xuống hạ lưu; nhưng họ vẫn không biết tại sao arsenic hiện diện trong các tầng nước ngầm ở sâu dưới mặt đất.

Để tìm hiểu điều bí ẩn nầy, Tiến sĩ (TS) Scott Fendorf, giáo sư Khoa học Môi trường Địa cầu của Đại học Stanford, cùng 2 đồng nghiệp Chris Francis và Karen Seto, đã thực hiện việc nghiên cứu thực địa ở Á Châu từ năm 2004.  Họ bắt đầu việc nghiên cứu trong lưu vực sông Bramaputra ở Bangladesh, nhưng sự di chuyển của nước ngầm ở đây bị ảnh hưởng của nhiều giếng thủy nông, họ quyết định chuyển sang lưu vực Mekong ở Cambodia, nơi có các điều kiện địa chất tương tự như lưu vực Bramaputra nhưng chưa bị ảnh hưởng (Hình 5).

Hình 5: Nhóm nghiên cứu của Đại học Stanford ở Cambodia 
dưới sự hướng dẫn của TS Scott Fendorf (áo trắng). [Ảnh: Stanford]

Năm 2009, họ đi đến kết luận rằng arsenic trong phù sa được sông Mekong chuyển xuống từ dãy Himalayas được phóng thích ở rất gần mặt đất, khoảng từ 2 feet đến 3 feet (dưới 1m), rồi thấm xuống các tầng nước ngầm ở bên dưới và có thể mất ít nhất 100 năm để đến các tầng nước ngầm ở sâu dưới đất.  Họ cũng cho biết thêm là chu kỳ di chuyển hàng trăm năm của arsenic xuống các tầng nước ngầm là một tiến trình tự nhiên đã xảy ra từ nhiều ngàn năm trước khi có ảnh hưởng của con người [7].

Mặc dù kết quả nghiên cứu của Fendorf phù hợp với các dữ kiện thu thập được về nguồn gốc của arsenic trong châu thổ sông Mekong, nó đi ngược với nguyên tắc của địa thủy học trong khu vực khi cho rằng arsenic thấm xuống các tầng nước ngầm ở dưới sâu qua các lớp đất sét.  Điều nầy không thể xảy ra vì các tầng nước ngầm trong các lớp trầm tích trung và cổ đại có áp suất rất cao.

Giả thuyết của Erban

Vào năm 2013, trong luận án tiến sĩ đệ trình lên Khoa Khoa học Môi trường Địa cầu ở Đại học Stanford [8], TS Laura Erban đã dùng một mô hình 3 chiều để chứng minh giả thuyết cho rằng việc khai thác nước ngầm trong các lớp trầm tích trung và cổ đại gây sụt lún đất, khiến cho các lớp đất sét nằm xen kẽ trong các tầng nước ngầm bị nén lại và đẩy nước có chứa arsenic trong các lớp đất sét vào các tầng nước ngầm ở dưới sâu trong nhiều thập niên.  Giả thuyết nầy cũng được trình bày trong một bài viết trên Proceedings of the National of Academy of Sciences of the United States of America (PNAS) trong cùng năm [4].

Hình 6: Giả thuyết của Erban. [4]

Hình 7: Ô nhiễm arsenic ở ĐBSCL. [4]

Theo dữ kiện đo đạc, nước ngầm ô nhiễm arsenic ở nồng độ cao trong ĐBSCL tập trung dọc sông Tiền và Hậu từ biên giới Việt-Miên đến Cần Thơ.   Như được mô tả trong Hình 7, các giếng có nồng độ arsenic cao hơn 100 µg/l thì không nằm trong vùng bị sụt lún nhiều nhất như được mô tả trong Hình 8; vì thế, giả thuyết của Erban không có tính thuyết phục khoa học.

Hình 8: Ước tính mức sụt lún đất ở ĐBSCL. [5]

Một điểm yếu khác trong giả thuyết của Erban là nồng độ và số lượng của nước ngầm nằm trong các lớp đất sét xen kẽ với các tầng nước ngầm trong các lớp trầm tích trung và cổ đại ở ĐBSCL.

Vì “… nồng độ và tính di động của arsenic trong các lớp đất sét xen kẽ với các tầng nước ngầm ở sâu dưới đất không được biết một cách rõ ràng… nồng độ arsenic cao trong các lớp đất sét được suy ra từ a) nồng độ arsenic hòa tan trong đất sét ở gần mặt đất trong ĐBSCL, b) nồng độ arsenic hòa tan trong các lớp đất sét ở các vùng tương tự khác và lâu đời hơn, và c) thời biểu của sự phóng thích arsenic từ các lớp đất sét ở dưới sâu trong khung cảnh của châu thổ.” [8] Nhưng nồng độ arsenic trong nước nằm trong các lớp đất sét ở gần mặt đất không vượt quá 1.000 µg/l, trong khi nồng độ arsenic trong các giếng ở ĐBSCL có thể lên đến 1.500 µg/l.  Các vùng “tương tự khác” thì nằm ở Bắc và Trung Mỹ và không phải là châu thổ.

Vì độ rỗng hiệu dụng (effective porosity) của đất sét rất nhỏ, nên các lớp đất sét xen kẽ với các tầng nước ngầm không thể chứa một số lượng nước có nồng độ arsenic cao đủ lớn để có thể làm ô nhiểm các tầng nước ngầm kế cận, nếu nó bị đẩy ra khỏi lớp đất sét.

Một giải thích hợp lý hơn

Dựa trên cấu tạo địa chất và các điều kiện địa thủy học được mô tả ở trên, cùng với tình trạng ô nhiễm arsenic dọc theo sông Mekong trên lãnh thổ Cambodia như được mô tả trong Hình 9 - với một số giếng có nồng độ arsenic lên đến 6.000 µg/l [9] – chúng ta có thể kết luận rằng arsenic trong các tầng nước ngầm trung và cổ đại ở ĐBSCL phát xuất từ tầng nước ngầm cận đại dọc theo sông Mekong trong lãnh thổ Cambodia.  Từ đó, arsenic thấm xuống các tầng nước ngầm trung và cổ đại rồi lan vào ĐBSCL.

Hình 9: Arsenic trong châu thổ Mekong ở Cambodia. [6]

Nếu các tầng nước ngầm trung và cổ đại có độ dẫn thủy lực hay độ thấm (hydraulic conductivity hay permeability) trung bình K = 3,15x10-4 m/sec (9,934 km/yr) [10] với một độ dốc thủy lực (hydraulic head) trung bình dọc theo sông Mekong từ Phnom Penh, Cambodia đến Cần Thơ, Việt Nam là i = 2,1x10-3 (sai biệt cao độ khoảng 400 m trong 190 km đo được trên Google Map); vận tốc trung bình của nước ngầm trong các tầng nước ngầm trung cổ đại Pliocene-Miocene vào khoảng 21 m/yr.  Như vậy, arsenic phải mất khoảng 11.000 năm mới đến các tầng nước ngầm nầy ở bên dưới Cần Thơ.

Phần kết luận

Arsenic phát xuất từ dãy Himalayas rồi theo phù sa trong sông di chuyển xuống hạ lưu.  Nó được tìm thấy với nồng độ cao trong nước ngầm của các lớp trầm tích cận đại ở gần mặt đất trong hầu hết các châu thổ ở Nam và ĐNA.  Riêng ở ĐBSCL, arsenic cũng hiện diện trong nước ngầm của các lớp trầm tích cổ đại ở sâu dưới đất và là một “bí mật” chưa được giải thích một cách khoa học cho đến thập niên 2000s.

Để tìm hiểu về sự bí mật nầy, các nhà khoa học của Đại học Stanford đã thực hiện một cuộc nghiên cứu tại chỗ ở Cambodia.  Họ đi đến kết luận rằng arsenic trong phù sa, được sông Mekong chuyển xuống từ dãy Himalayas, được phóng thích ở rất gần mặt đất, rồi thấm xuống các tầng nước ngầm ở bên dưới và có thể mất ít nhất 100 năm để đến các tầng nước ngầm ở sâu dưới đất.  Nhưng kết luận nầy đi ngược với nguyên tắc của địa thủy học vì nước ngầm không thể thấm vào các tầng nước ngầm trung cổ đại có áp suất rất cao.

Sự hiện diện của arsenic trong các tầng nước ngầm trung cổ đại cũng được cho là do arsenic trong các lớp đất sét được phóng thích vào các tầng nước ngầm, vì các lớp đất sét bị nén lại cùng với sự sụt lún đất do khai thác nước ngầm.  Nhưng giả thuyết nầy không có bằng chứng khoa học vững chắc để minh chứng.

Dựa trên cấu tạo địa chất và các điều kiện địa thủy học của châu thổ sông Mekong và mức độ ô nhiễm arsenic quan sát được, chúng ta có thể kết luận rằng arsenic trong các tầng nước ngầm trung cổ đại ở ĐBSCL phát xuất từ tầng nước ngầm cận đại dọc theo sông Mekong trong lãnh thổ Cambodia.  Từ đó, arsenic thấm xuống các tầng nước ngầm trung và cổ đại rồi lan vào ĐBSCL.

Sơ lược về tác giả

Tác giả nguyên là Kỹ sư Công chánh Chuyên nghiệp (Professional Civil Engineer) của tiểu bang Florida và California.  Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh tại Trường Cao đẳng Công chánh, Trung tâm Quốc gia Kỹ Thuật Phú Thọ, Sài Gòn năm 1972.  Trưởng ty Kế hoạch, Ủy ban Quốc gia Thủy lợi, Bộ Công chánh và Giao thông, Sài Gòn đến tháng 4 năm 1975.  Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh (1983) và Cao học Thủy lợi (1985) tại Đại học Nebraska, Hoa Kỳ.  Chuyên viên Thủy học (Hydrlogist) của Sở Quản trị Thủy lợi, Broward County, Florida đến năm 1989.  Từ năm 1990 đến 2015, Kỹ sư Giám sát Trưởng (Senior Supervising Engineer) của Stetson Engineers Inc., một công ty cố vấn về thủy lợi và ô nhiễm nguồn nước, thành lập năm 1957 ở Los Angeles.  Về hưu từ năm 2016.

Tài liệu tham khảo

[1]       Associated Press. August 30, 2007.  “Arsenic in drinking water seen as threat.”  USA Today. http://usatoday30.usatoday.com/news/world/2007-08-30-553404631_x.htm
[2]       Fendorf, S., Holly A. Michael, and Alexander van Green.  28 May 2010.  “Spatial and Temporal Variations of Groundwater Arsenic in South and Southeast Asia.”  Science.  Vol. 328; pp. 1123-1127. https://science.sciencemag.org/content/328/5982/1123.full
[3]       Babar Ali Shah. 25 May 2010. “Arsenic-contaminated groundwater in Holocene sediments from parts of Middle Ganga Plain, Uttar Pradesh, India.  Current Science.  Vol. 98, No. 10, pp. 1359-1365. http://www.indiaenvironmentportal.org.in/files/Arsenic%20contaminated%20groundwater%20in%20Holocene%20sediments.pdf
[4]       Erban, E. Laura, Steven M. Gorelick, Howard A. Zebker, and Scott Fendorf.  August 20, 2013.  “Release of arsenic to deep groundwater in the Mekong Delta, Vietnam, linked to pumping-induced land subsidence.”  Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America.  Vol. 110, No. 34, pp. 13751-13756. https://www.pnas.org/content/110/34/13751
[5]       P S J Minderhoud, et al. 1 June 2017.  “Impacts of 25 years of groundwater extraction on subsidence in the Mekong delta, Vietnam.”  Environmental Research Letters.  https://iopscience.iop.org/article/10.1088/1748-9326/aa7146/pdf
[6]       Felix Seebacher.  2 April 2014.  Groundwater in the Mekong Region-Transboundary Aquifers.  Mekong River Commission.  https://data.opendevelopmentmekong.net/dataset/31218536-bb7d-4439-9742-aaf786e14c01/resource/095025a9-a324-43fd-bdb8-1b459bb4def3/download/2.2-c-groundwater-ingmekong-region-felixseebacher.pdf
[7]       Chelsea Anne Young.  March 24, 2009.  “Scientists solve puzzle of arsenic poisoning crisis in Asia.”  Stanford Report. https://news.stanford.edu/news/2009/april1/fendorf-arsenic-water-poison-asia-040109.html
[8]       Laura E. Erban.  December 2013.  Groundwater Exploitation and Arsenic Occurrence in the Mekong Delta Aquifer System.  A Dissertation Submitted to the Department of Environmental Earth System Science and the Committee on Graduate Studies of Stanford University in Partial Fulfillment of the Requirements for the Degree of Doctor of Philosophy.  Stanford University.  https://stacks.stanford.edu/file/druid:fx861nd2581/LErban_Dissertation_Final-augmented.pdf
[9]       Kang Yumei.  28 January 2016.  “Arsenic-Polluted Groundwater in Cambodia: Advances in Research.”  International Journal of Water and Wastewater Treatment.  https://www.sciforschenonline.org/journals/water-and-waste/article-data/IJWWWT-2-116/IJWWWT-2-116.pdf
[10]     Benner, Shawn G. et al.  2008.  “Groundwater flow in an arsenic-contaminated aquifer, Mekong Delta, Cambodia.”  https://www.academia.edu/11992776/Groundwater_flow_in_an_arsenic-contaminated_aquifer_Mekong_Delta_Cambodia

.

Saturday, July 11, 2020

TRUNG HOA VẬN DỤNG NGUỒN NƯỚC PHONG PHÚ CỦA CAO NGUYÊN TÂY TẠNG


China Leverages Tibetan Plateau’s Water Wealth

Brahma Chellany – Bình Yên Đông lược dịch
India Blooms – 2 July 2020



Trong lúc quốc tế vẫn lưu ý đến các hoạt động phi pháp của Trung Hoa trong vùng tranh chấp ở Biển Đông, nơi nước nầy tiếp tục bành trướng vết chân chiến lược của mình, Bắc Kinh cũng âm thầm chú trọng đến các sông bắt nguồn từ vùng giàu tài nguyên trong lãnh thổ Tây Tạng do Trung Hoa kiểm soát.

Trung Hoa, từ lâu, đã theo đuổi một chiến lược lớn lao để thu vét tài nguyên thiên nhiên.  Điều nầy đã thúc đẩy sự hiện diện ngày càng tăng ở những nơi xa xôi, bao gồm Phi Châu và Mỹ La tinh.  Đam mê mới nhất của Trung Hoa là nước ngọt, một tài nguyên tạo nên và hỗ trợ cho đời sống, mà tình trạng khan hiếm ngày càng tăng đang làm mất tin tưởng vào tương lai kinh tế của Á Châu.

Hầu hết các sông lớn ở Á Châu bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng.  Từ đó, chúng chảy qua hàng chục quốc gia, kể cả lục địa Trung Hoa.  Với địa hình cao ngất, nổi bật qua các đỉnh núi cao nhất thế giới và nơi tập trung nhiều nhất các băng hà và đầu nguồn, Cao nguyên Tây Tạng ảnh hưởng đến sự vận chuyển của khí quyển – và, do đó, khí hậu và thời tiết – trên khắp Bắc Bán cầu.
Cao nguyên Tây Tạng. [Ảnh: Inam Water World]

Ngày nay, Trung Hoa biến cái cao nguyên mong manh về sinh thái, mà họ xâm lấn và chiếm đóng từ 1950 đến 1951, thành trung tâm của các hoạt động khai mỏ và xây đập.  Với mức hâm nóng nhanh gấp 3 lần mức trung bình toàn cầu, theo dữ kiện của Trung Hoa, sự thối lui của băng hà, nhất là ở miền đông Himalayas, và sự tan chảy của lớp đất đóng băng ở Tây Tạng đã gia tăng tốc độ.

Hậu quả nhiều hơn cho các quốc gia ở hạ lưu là việc Trung Hoa, bằng cách xây các đập khổng lồ và các công trình chuyển nước trên các sông quốc tế bắt nguồn từ Tây Tạng, đang trở thành người kiểm soát nước thượng nguồn ở Á Châu.  Hành động nầy trang bị cho Bắc Kinh một lực đòn bẫy ngày càng tăng đối với các quốc gia tùy thuộc vào dòng chảy của sông từ Cao nguyên Tây Tạng.

Thí dụ như sông Mekong, mạch sống của lục địa Đông Nam Á (ĐNA).  Một nghiên cứu mới của Hoa Kỳ xác nhận cái mà nhiều người ở trong vùng đã biết – rằng Trung Hoa đang ngăn dòng Mekong đến địa ngục môi trường.  Theo nghiên cứu nầy, chuổi đập khổng lồ của Trung Hoa, bằng cách hạn chế dòng chảy xuống hạ lưu, đang gây hạn hán định kỳ ở Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam vì dòng chảy ở hạ lưu bị hạn chế.  Sử dụng mô hình dữ kiện dòng chảy tự nhiên, nghiên cứu cho thấy 11 đập khổng lồ của Trung Hoa đang hoạt động trên sông Mekong đang gây hạn hán nghiêm trọng và tàn phá ở hạ lưu.  Nhưng một Trung Hoa không nao núng đang xây thêm các đập khổng lồ trên sông Mekong ngay trước khi nó chảy qua biên giới để vào ĐNA.  Nghiên cứu nầy được thực hiện bởi công ty cố vấn và nghiên cứu Eyes on Earth với sự tài trợ của Sáng kiến Hạ lưu Mekong (Lower Mekong Initiative (LMI)) của Bộ Ngoại giao.

Tây Tạng – cao nguyên cao nhất và rộng nhất thế giới – cũng là một kho tàng đáng giá của các tài nguyên khoáng sản, khiến cho Trung Hoa có dự trữ lớn nhất của 10 kim loại khác nhau và là nước sản xuất lithium lớn nhất thế giới.  Ngày nay, Tây Tạng là tiêu điểm của các hoạt động khai mỏ và xây đập của Trung Hoa, đe dọa hệ sinh thái mong manh của cao nguyên và các chủng loại địa phương.  Tây Tạng vẫn là trọng tâm của sự chia rẽ Trung Hoa-Ấn Độ, châm ngòi cho các tranh chấp lãnh thổ, căng thẳng ngoại giao, và thù hận về dòng chảy của sông.  Trong số các sông được các nhà xây đập Trung Hoa chiếu cố là Brahmaputra, mạch máu của Bangladesh và đông bắc Ấn Độ.  Một loạt đập đang được xây trên Brahmaputra, được gọi là Yarlung Tsangpo ở Tây Tạng.

Hành động đơn phương của Bắc Kinh vượt quá việc xây đập.  Năm 2017, Trung Hoa từ chối cung cấp dữ kiện thủy học cho Ấn Độ, vi phạm các điều khoản trong các thỏa ước song phương, đục khoét tính sẳn sàng để vũ khí hóa việc chia sẻ dữ kiện thủy học về dòng chảy của sông ở thượng lưu.  Sự từ chối nầy được cho là để trừng phạt Ấn Độ đã tẩy chay hội nghị thượng đỉnh khai mạc Vành đai và Con đường và đối đầu quân sự giữa 2 quốc gia trong năm ở Doklam, một vùng rất nhỏ nhưng quan trọng về chiến lược trên cao nguyên Himalayas.  Việc từ chối dữ kiện cản trở hệ thống báo lũ sớm của Ấn Độ.  Điều đó, lần lượt, gây chết người không thể tránh được khi Brahmaputra tràn bờ trong mùa mưa, để lại những tàn phá quan trọng, nhất là ở bang Assam của Ấn Độ.

Siang, một nhánh quan trọng của hệ thống sông Brahmaputra, là một thí dụ điển hình khác của các hành động đơn phương của Trung Hoa trên các sông quốc tế.  Năm 2017, nước sông Siang trở nên đục và xám đen khi dòng nước chảy vào Ấn Độ từ Tây Tạng.  Điều nầy gây lo ngại rằng các hoạt động ở thượng nguồn của Trung Hoa có thể đe dọa sông Siang tương tự như Bắc Kinh đã làm ô nhiễm các sông nội địa của họ, kể cả Hoàng Hà, cái nôi của nền văn minh Trung Hoa.  Gần 3 năm sau, nước trong sông Siang một thời ban sơ vẫn chưa trong hẵn.

Theo Aquastat, kho dữ liệu của Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, mỗi năm có 718 tỉ m3 nước mặt chảy ra khỏi Cao nguyên Tây Tạng và các vùng do Trung Hoa cai quản ở Xinjiang (Tân Cương) và Inner Mongolia (Nội Mông) đến các nước láng giềng.  Trong số đó, 48,33% chảy trực tiếp vào Ấn Độ.  Thêm vào đó, các sông ở Nepal bắt nguồn từ Tây Tạng cũng đổ vào lưu vực Ganges (Hằng) của Ấn Độ.  Điều nầy có thể cho thấy rằng không có quốc gia nào dễ bị tổn thương hơn Ấn Độ đối với trọng tâm xây chuỗi đập khổng lồ trên các sông quốc tế của Trung Hoa.  Trên thực tế, như việc xậy đập điên cuồng trên Mekong của Trung Hoa cho thấy, các lân bang nhỏ và dễ tổn thương về kinh tế là những nước nhạy cảm nhất với các hoạt động thủy điện ở thượng lưu.  Ảnh hưởng lớn nhất của việc xây đập trên Brahmaputra, chẳng hạn, không chỉ đổ xuống Ấn Độ mà còn xuống Bangladesh, nằm xa hơn về phía hạ lưu.

Từ lâu, Trung Hoa đứng đầu trên toàn cầu trong việc xây đập.  Họ đã nâng số đập lên trên ½ tổng số khoảng 58.000 đập lớn trên thế giới.  Nhưng việc “đổ xô vào đập” vẫn không ngừng.  Thêm nhiều đập được xây trên các sông quốc tế, các đập lớn hơn có khả năng để dùng nước xuyên biên giới như một công cụ ngoại giao cưỡng bức đối với các lân bang.  Mỗi đập mới gia tăng tiềm năng dùng các dòng sông chung như một vũ khí chánh trị của Trung Hoa, vì nó gia tăng khả năng điều tiết dòng chảy xuyên biên giới.  Lo ngại nầy được củng cố với sự từ chối của Trung Hoa để tham gia vào hiệp ước chia sẻ nước với bất cứ lân bang nào.  Ngay cả Ấn Độ và Pakistan cũng có một hiệp ước chia sẻ nước.

Vào lúc áp lực nước gia tăng ở Á Châu, sự lớn mạnh của chủ nghĩa quốc gia nước, động lực của các chánh sách của Trung Hoa, làm nổi bật sự liên kết giữa nước và hòa bình.  Các tổ chức hợp tác và sử dụng khả chấp tài nguyên là nền tảng của hòa bình nước.

Nếu Trung Hoa không từ bỏ đường lối hiện nay để hợp tác qua các tổ chức với các quốc gia trong cùng lưu vực, triễn vọng của một trật tự dựa trên luật lệ ở Á Châu có thể tàn lụi vĩnh viễn, trong khi các quốc gia hạ lưu có lẽ phải đối mặt với tương lai khô hạn nhiều hơn.  Á Châu chỉ có thể hình thành nước cho hòa bình nếu Trung Hoa nhập cuộc bằng đường lối minh bạch và cộng tác, đặt trọng tâm vào việc chia sẻ nước, dữ kiện thủy học liên tục, và các cơ chế giải quyết tranh chấp.

Brahma Chellaney là giáo sư nghiên cứu chiến lược của Nghiên cứu Chánh sách (Policy Research) có trụ sở ở New Delhi, một chuyên viên nghiên cứu độc lập, và tác giả của 9 quyển sách, gồm có Nước: Chiến trường Mới ở Á Châu (Water: Asia’s New Battleground) [Geortown University Press], đoạt Giải Bernard Schwartz.

 .

Một dòng sông khô cạn: Cá, Lúa và an ninh lương thực trong khu vực Mekong

A River Drained: Fish, Rice, and Food Security in the Mekong

Peiying Loh – Bình Yên Đông lược dịch
Kontinentalist – June 26, 2020

Đánh cá trên sông Mekong. [Ảnh: International Rivers]

Sông Mẹ cho Cuộc sống
Mekong là con sông dài thứ 12th trên thế giới và là một mạch sống thiết yếu của nhiều người ở Đông Nam Á (ĐNA).  Được gọi là Sông Mẹ (แม่น้ำโขง) ở Thái Lan và Lào, Mekong mang lại thực phẩm phong phú và nhiều tài nguyên cho 6 quốc gia nó chảy qua.

Lưu vực và đa dạng sinh học
Mekong cùng các phụ lưu và chi lưu tạo thành lưu vực Mekong, một lưu vực phức tạp – một vùng trong đó các sông, rừng và đất đai có một liên hệ cộng sinh – thoát nước cho một diện tích 795.000 km2.  Nguồn của sông ở Cao nguyên Tây Tạng trong thượng lưu vực Mekong.  Khoảng ½ chiều dài của sông chảy qua Trung Hoa, nơi nó được gọi là Lancang Jiang (澜沧江) (Lạn Thương).


Lưu vực sông Mekong [Ảnh: Internet]

Hạ lưu vực Mekong gồm hầu hết các phụ lưu chánh (các sông nhỏ hơn chảy vào sông lớn) của Mekong.  Các phụ lưu nầy đóng góp trên 80% tổng số lưu lượng hàng năm 475 km3 của Mekong.
Toàn thể hệ thống sông Mekong là nơi nương tựa của một vài hệ sinh thái phức tạp liên kết với nhau.  Chúng gồm có rừng quanh năm, theo mùa, và ở trên núi; buội rậm và cây cao; rừng đước; và nhiều hệ sinh thái nước ngọt và duyên hà.  Tất cả biến Mekong thành một trong những vùng đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới.  Nó là nơi cư trú của 1.148 loại cá, 20.000 loại cây, 430 loại động vật có vú, 1.200 loại chim, và 800 loại bò sát và lưỡng cư (vừa ở trên cạn vừa ở dưới nước).

Mekong cũng là nguồn mang lại 2 thực phẩm chánh trong khu vực – cá và lúa – nuôi sống và hỗ trợ cuộc sống của khoảng 60 triệu người.

Cá
Tonlé Sap – hồ đã sản sinh ra Đế quốc Angkor vĩ đại – nằm ở trung tâm Cambodia.  Hồ tràn ngập trong mùa mưa và lên cao nhất trong tháng 11, nước rút và dòng chảy bổ sung nước và phù sa cho nhiều vùng thiên nhiên và nông nghiệp.

Hồ Tonlé Sap [Ảnh: Internet]

Đầy đến mé, hồ trở thành nơi sinh sản của nhiều loại cá.  Hầu hết cá trong Mekong là di ngư và di chuyển rất xa để đẻ trứng; Tonlé Sap là một nơi đẻ trứng quan trọng của nhiều loại cá địa phương.  Cá linh – một nguyên liệu thiết yếu của mắm pra hoc ở Cambodia, một loại bột nhão mặn và gia vị chủ yếu của hàng triệu người sống ven sông – là một trong các loại cá đó.
Các đồng lụt bao la của hồ (vùng đất thấp ngập nước trong mùa mưa ở ven sông) là một trong những nơi đánh cá nước ngọt phong phú nhất thế giới.  Cùng với khúc sông Mekong trong lãnh thổ, các đồng lụt nầy cung cấp một nguồn cá dồi dào cho quốc gia với 5.285.000 tấn – gần bằng 4 lần sản lượng cá biển của Cambodia.
Mặc dù tất cả các quốc gia Mekong dựa vào nguồn cá của sông, Cambodia có lẽ phụ thuộc nhiều nhất.  Cá nước ngọt rất cần thiết cho an ninh lương thực của người dân Cambodia; với mức tiêu thụ cá nước ngọt của mỗi đầu người được ước tính khoảng 33 kg một năm.
Cá là tâm điểm của chế độ ăn uống của người dân ở trong vùng: một nguồn chất đạm chánh yếu.  Thật vậy, hạ lưu vực Mekong là nơi đánh cá nội địa lớn nhất trên thế giới – sản xuất khoảng 2,3 triệu tấn cá mỗi năm.

Lúa
Xa về phía nam ở Việt Nam, Mekong đổ ra Biển Đông, nơi nó xòe ra trong Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).  Có nhiều nhánh của Mekong đổ ra biển giải thích vì sao nó có tên sông Cửu Long (Chín con Rồng).  Là một vùng vô cùng mầu mỡ, ĐBSCL hỗ trợ một trong những hoa màu có tầm quan trọng nhất trên thế giới: lúa.
Gạo từ lúa là một món ăn thường ngày trên hầu hết các bàn ăn ở Á Châu, và Việt Nam là nước sản xuất lúa đứng hàng thứ 5th trên thế giới.  Khoảng ½ số lúa đó được trồng ở ĐBSCL, nơi sản xuất khoảng 20 triệu tấn mỗi năm.

Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam [Ảnh: Newswise]

ĐBSCL phụ thuộc một cách lạ thường vào sông Mekong.  Sông mang phù sa xuống hạ lưu để hình thành địa chất của nó.  Lũ lụt thường xuyên của sông bổ sung các cánh đồng của ĐBSCL với phù sa giàu chất dinh dưỡng từ thượng lưu, góp phần cho sự mầu mỡ của nó.  Nước ngọt dẫn từ sông, cùng với nước mưa và nước ngầm, hỗ trợ các vụ lúa, trồng và thu hoạch trong 3 mùa riêng biệt ở đây.  Cả hai đều dựa vào khí hậu điều hòa của lưu vực Mekong.
Cá và lúa là xương sống của an ninh lương thực trong các quốc gia hạ lưu Mekong.  Tuy nhiên, một số hoạt động kinh tế cũng đóng góp vào cuộc sống của các cộng đồng trong lưu vực.  Các hoạt động nầy gồm có nuôi cá, du lịch, đốn gỗ và khai thác rừng cũng như trồng các loại hoa màu thương mại như khoai mì, bắp, mía, cà phê, và cao su.
Hầu hết các quốc gia Mekong vẫn còn là các nền kinh tế đang phát triển, dù vài nước chật vật hơn các nước khác.  Trải qua 3 cuộc chiến trong gần 50 năm, nhiều người trong khu vực tiếp tục thống khổ vì nghèo đói.  Một vài quốc gia xem việc phát triển kỹ nghệ như một lối thoát, nhưng điều nầy cũng có những nguy cơ.  Phát triển bừa bãi, nghiêm trọng thêm vì ảnh hưởng của thay đổi khí hậu, có thể đưa đến việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên.  Thí dụ, thủy điện phải trả một cái giá khổng lồ trên môi trường mặc dù có vẻ như một nguồn năng lượng sạch và lợi tức hấp dẫn lúc ban đầu.

Thủy điện
Thủy điện đã tăng động lực trong những thập niên gần đây, và các ghềnh thác mạnh mẽ của Mekong giúp nó trở thành một nơi lý tưởng.  Đập đầu tiên trên sông được hoàn tất vào năm 1993, và kể từ đó, trên 60 đập thủy điện nữa đã được xây trên Mekong và các phụ lưu.
Đập Xayaburi có công suất 1.285 MW ở bắc Lào là đập đầu tiên trong 11 đập dự trù trên dòng chánh Mekong ở hạ lưu.  Nó cũng gây tranh cãi nhiều nhất.  Lào tiến hành việc xây cất mặc dù các nước láng giềng chống đối, và đập sẽ có những hậu quả nghiêm trọng đối với đời sống và hệ sinh thái ở chung quanh.  Đập Xayaburi ngăn chận đường di chuyển của ít nhất 23 loại cá và hạn chế phù sa chảy xuống hạ lưu, làm giảm đáng kể số lượng cá thu hoạch và hiệu năng của đất canh tác ở các quốc gia hạ lưu.

Đập Xayaburi ở Lào [Ảnh: Internet]

Không cần phải nói, điều nầy có thể gây nguy hại cho an ninh cá và lúa trong khu vực.
Đập Xayaburi và 11 [10?] đập khác được dự trù cho dòng chánh chỉ là một phần của cái sẽ đến trong lưu vực Mekong.  Nghiên cứu cho thấy rằng ảnh hưởng cộng dồn của các đập trên phụ lưu Mekong sẽ gây thiệt hại cho đời sống ở địa phương và đa dạng sinh học hơn là các đập trên dòng chánh đã biết rõ.
Có gần 100 đập được dự trù trong lưu vực Mekong.  Hầu hết sẽ được xây ở Lào (với một vài đập do Thái Lan và Trung Hoa tài trợ), quốc gia có tham vọng trở thành “Bình điện của Á Châu”.  Lào hy vọng dùng tiền bán điện xuất cảng để giải quyết vấn đề nghèo khó của quốc gia.
Các sông xuyên biên giới quốc gia thường là những nơi của tranh chấp, và Mekong xem sự chia sẻ xung đột như một tài nguyên chung cốt yếu trong khu vực.  Mặc dù Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) có ý định làm cho các thảo luận giữa các quốc gia Mekong ở hạ lưu được dễ dàng, sự đổ vỡ của các thảo luận phản ánh sức mạnh mặc cả của các quốc gia ở thượng lưu.  Trung Hoa và Myanmar không phải là thành viên của MRC, và không cần phải tuân thủ các điều lệ của tổ chức.  Trung Hoa, một gã khổng lồ kinh tế khu vực và toàn cầu, đã xây 6 đập trên dòng chánh Lancang Jiang, cho phép nước nầy quản lý dòng chảy của sông – một hành động có thể làm phức tạp thêm tình trạng hạn hán kéo dài ở hạ lưu.
Với quá nhiều đập được dự trù cho Mekong, an ninh lương thực trở thành một vấn đề chánh trị cũng như môi trường và kinh tế xã hội.

Thay đổi Khí hậu
Thay đổi khí hậu cộng thêm vào tất cả những thứ nêu trên.  Sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu đang thay đổi vĩnh viễn cấu tạo của khí quyển trái đất, gây các ảnh hưởng đổ xuống như thác trên các hệ sinh thái và cuộc sống trên khắp thế giới.
ĐBSCL, cao hơn mực nước biển một chút, sẽ bị ngập lụt và xâm nhập mặn nhiều hơn khi mực nước biển dâng với nhiệt độ.  Điều nầy sẽ phá hủy nhiều ruộng lúa và 1/3 của ĐBSCL sẽ chìm xuống biển.  Sự gia tăng carbon dioxide trong nước biển cũng ảnh hưởng đến kỹ nghệ nuôi cá ở ĐBSCL, đe dọa thêm an ninh lương thực của khu vực.  Không phải nói, ĐBSCL cũng đang chìm từ từ.  ĐBSCL là một trong những vùng trồng lúa được dẫn tưới nhiều nhất, và phụ thuộc vào việc khai thác nước ngầm thái quá để sản xuất lúa quanh năm, ngày nay, góp phần vào sự sụt lún đất nghiêm trọng.
Bi thảm hơn, thay đổi khí hậu sẽ làm gián đoạn chu kỳ dòng chảy Mekong, gây thêm các cực đoan trong năm.  Mùa khô sẽ khô hơn, khi nhiệt độ có thể tăng thêm 5 độ vào năm 2050.  Mùa mưa sẽ ẩm ướt hơn nhiều, và lượng mưa hàng năm có thể tăng thêm 14%.  Với ngập lụt và hạn hán nhiều hơn, việc cung cấp lương thực có lẽ sẽ bị gián đoạn, và nhiều đất canh tác và nhà cửa có thể bị hủy hoại.  Các cực đoan trong năm nầy cũng thay đổi sự di chuyển của cá, có thể làm giảm thêm đời sống đã bị thu ngắn.
Hiện nay, chúng ta đã thấy các mùa cực đoan ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế và kinh tế như thế nào.  Hạ lưu vực Mekong đã chứng kiến lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng từ năm 2000, và đợt hạn hán cực đoan từ tháng 11 năm 2019 đến tháng 1 năm 2020 khiến mực nước sông xuống đến mức thấp nhất, ít nhất, trong vòng 60 năm.  ĐBSCL được dự đoán đối mặt với hạn hán nghiêm trọng vào năm 2030.

An ninh lương thực
Nhưng an ninh lương thực có ý nghĩa gì đối với các quốc gia Mekong?  Ủy ban về An ninh Lương thực Thế giới của Liên Hiệp Quốc (UN Committee on Word Food Security) định nghĩa an ninh lương thực là tình trạng khi “tất cả người dân, vào bất cứ lúc nào, cũng có lương thực đầy đủ, an toàn và dinh dưỡng qua các phương tiện vật chất, xã hội và kinh tế để đáp ứng thị hiếu lương thực và nhu cầu ăn uống cho lối sống tích cực và lành mạnh”.  Nghe có vẻ đơn giản và thẳng thắn, nhưng nó thật sự vô cùng khó khăn để thực hiện đối với nhiều cộng đồng.
Mekong luôn luôn là một nguồn lương thực và lợi tức ổn định của nhiều cộng đồng – cho đến khi việc sử dụng bừa bãi tạo thành vấn đề.  Việc phát triển thủy điện và thay đổi khí hậu có lẽ là những mối đe dọa lớn nhất của dòng sông, nhưng các ảnh hưởng kết hợp từ các hoạt động nông nghiệp – chuyển nước cho thủy nông, gia tăng đơn canh, kỹ nghệ nông ngiệp, và canh tác các loại thực phẩm chuyển giống – tiếp tục cạnh tranh việc dùng nước ở Mekong.  Là thành phần tiêu thụ nước lớn nhất trong khu vực Mekong, nông nghiệp cũng sẽ bị tấn công mạnh nhất bởi thay đổi khí hậu.

Hiện nay, an ninh lương thực là một thách thức lớn lao cho nhiều quốc gia trong lưu vực Mekong.  Gần ½ (44,9%) dân số Cambodia đối mặt với mức an ninh lương thực vừa phải hay nghiêm trọng với chỉ số 22,8 trên Chỉ số Người đói Toàn cầu (Global Hunger Index).  Lào tệ hơn một chút với chỉ số 25,7, và Việt Nam, mặc dù tương đối tốt hơn nhiều, vẫn dễ bị tổn thương với chỉ số 15,3.  Dễ tổn thương nhất thường là các cộng đồng thiểu số và các cộng đồng ở nông thôn, nơi nghèo khó và thiên tai rất phổ biến.

Thay đổi khí hậu sẽ khiến an ninh lương thực tệ hại hơn theo không gian và thời gian, tạo nên các thời kỳ khan hiếm nước và lương thực trong các vùng nhất định, khi hạn hán và lũ lụt bất ngờ phá hủy hoa màu.  Về lâu dài, các chánh phủ sẽ phải có thêm nhiều biện pháp, có lẽ cực đoan, để đối phó với tình trạng thiếu thực phẩm và bảo đảm sản xuất nhiều hơn.  Điều nầy có thể bao gồm việc chuyển thêm đất sang đất đơn canh, làm suy thoái và mất thêm các nơi cư trú tự nhiên.  Thiếu đa dạng trong nguồn lương thực sẽ làm cho khu vực dễ tổn thương hơn.  Các quốc gia có thể dựa vào thực phẩm nhập cảng như một giải đáp, đẩy giá lương thực lên cao.

Giảm nhẹ tính dễ tổn thương
Mặc dù thế giới sẽ không thể chận đứng thay đổi khí hậu kịp lúc, chúng ta vẫn có thể giảm các ảnh hưởng của nó ngay bây giờ, đặc biệt là các ảnh hưởng đối với an ninh lương thực.  Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách xác định và cứu xét các vùng dễ bị tổn thương: thay đổi lối canh tác, áp dụng kỹ thuật một cách thích hợp, trao dồi khả năng của nông dân bằng cách truyền đạt kỹ năng quản lý, trao quyền cho phụ nữ có khả năng, và giúp các cộng đồng tự chuẩn bị.

Cần Thơ, thành phố lớn nhất trong ĐBSCL, là một trong những thành phố dễ bị tổn thương nhất trong khu vực.  Nếu mực nước biển dâng lên 1 m, khoảng 20% thành phố sẽ chìm xuống nước.  Cần Thơ phải dùng cách “lật ngược (bottom-up)”, vận động các cộng đồng, nông dân, và cơ quan chánh quyền để thích ứng và giảm nhẹ thay đổi khí hậu với một số chánh sách tổng thể.  Các chánh sách nầy bao gồm các chương trình giáo dục công cộng cho giới trẻ để gia tăng khả năng và cơ sở hạ tầng nhằm chống lại ảnh hưởng của thay đổi khí hậu.

Quản lý đúng và sử dụng khả chấp các lưu vực, một điều kiện then chốt của an ninh lương thực, đòi hỏi sự hợp tác giữa các quốc gia.  MRC có ý định làm cho vấn đề nầy được dễ dàng từ nhiều năm nay.  Mặc dù MRC có những trở ngại lớn cần phải vượt qua – việc không tham gia của Trung Hoa và Myanmar, cùng với những chỉ trích cho rằng tổ chức không có thực quyền – nó đã đầu tư hầu hết thời gian và tiền bạc vào việc nghiên cứu, củng cố việc hoạch định chánh sách và làm sáng tỏ giá trị của các nguồn tài nguyên Mekong.

Phần còn lại thuộc về lãnh đạo trong khu vực Mekong để thấy rõ những gì đang lâm nguy, và hiểu rằng một dòng sông khô cạn là sự thiệt hại của tất cả mọi người.

.

Friday, July 3, 2020

Nguyễn Thị Yến Nhi - Liệu có cứu được dòng Mekong?


3/7/2020

Hình minh hoạ. Một đoạn dòng sông Mekong ở tỉnh Nong Khai, Thái Lan
AFP

Tiểu vùng sông Mekong đã trở thành trọng tâm trong những tính toán chiến lược của Bắc Kinh khi Trung Quốc phải đối mặt với sự phản kháng ngày càng tăng từ Mỹ và các nước khác. Đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra (COVID-19) dường như đang củng cố một vài xu hướng trong quan hệ của Trung Quốc với các nước thuộc sông Mekong. Trong kịch bản đang nổi lên này, Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục tập trung vào tiểu vùng sông Mekong trong giai đoạn hậu COVID-19.

Sông Mekong là con sông vô cùng quan trọng của khu vực Đông Nam Á lục địa. Sông Mekong với độ dài 4350 km, là con sông dài nhất ở Đông Nam Á, dài thứ 7 ở châu Á và dài thứ 12 trên thế giới. Con sông này góp phần tạo ra sinh kế cho khoảng 66 triệu người đang sinh sống dọc hai bên bờ sông. Vùng bồn trũng của con sông này có diện tích khoảng 795.000 km2, là nơi tạo ra các nguồn nông sản rất lớn, ví dụ khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long - là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam.

Sông Mekong khởi nguồn từ các dòng sông băng ở Tây Tạng, chảy qua tỉnh Thanh Hải của Trung Quốc và chảy qua 5 quốc gia khác là Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Do đó, con sông hùng vĩ này còn được biết đến dưới nhiều cái tên như Sông Cửu Long trong tiếng Việt hay Tonle Than trong tiếng Khmer, và tất cả những cái tên này đều chứng tỏ sức mạnh to lớn của nó. Người Trung Quốc gọi tên nó là sông Lan Thương (Lancang).
Mekong đang hấp hối

Tuy nhiên, con sông này đang ở trong những ngày cuối của một “hệ sinh thái khỏe mạnh”. Hè năm 2019, mực nước sông Mekong đã hạ xuống mức thấp nhất trong vòng một thế kỷ qua. Mùa Xuân năm 2020, một số người Campuchia - quốc gia phụ thuộc vào sông Mekong hơn bất kỳ quốc gia nào khác - cho biết sản lượng đánh bắt cá của họ chỉ bằng 10-20% các năm trước. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái của sông Mekong không phải là một tai nạn không thể tránh khỏi, việc xây dựng quá mức các con đập ở Trung Quốc, cộng với tác động của biến đổi khí hậu, đã “cướp đi sự giàu có của dòng sông”.

Hình minh hoạ. 
Những người dân làng cầm biểu ngữ hình cá ở Bangkok hôm 24/6/2014 
phản đối xây đập thuỷ điện Xayaburi bên Lào trên sông Mekong Reuters

Các nhà nghiên cứu đang lo ngại rằng những con đập của Trung Quốc sẽ giữ lại nhiều nước trên sông Mekong trong năm nay, tương tự như tình trạng dòng chảy không ổn định sau mùa mưa năm ngoái làm trầm trọng thêm hạn hán ở vùng Đông Bắc Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Theo một nhóm các nhà nghiên cứu ở Mỹ, các con đập của Trung Quốc gần đây đã làm trầm trọng thêm hạn hán ở Đông Bắc Thái Lan và những nước vùng hạ sông Mekong như Lào, Campuchia và Việt Nam.

Trung Quốc đang tích cực kiểm soát khu vực Mekong

Trong những năm qua, Trung Quốc đã tuyên bố sở hữu thực tế đối với dòng sông và kết quả là họ đang kiểm soát một phần đáng kể của nền kinh tế khu vực Đông Nam Á lục địa. Do mức độ kiểm soát của Trung Quốc, Mekong đang dần trở thành một Biển Đông kế tiếp - tuyến đường thủy chiến lược mà Bắc Kinh có các yêu sách bành trướng và ngày càng siết chặt quyền kiểm soát.
Đông Nam Á có vị trí đặc biệt trong tư duy chính sách của Trung Quốc xuất phát từ các mối quan hệ lịch sử và kinh tế. Hiện khoảng 30 triệu người Hoa đang sinh sống rải rác khắp nơi trong khu vực này. Kể từ đầu những năm 2010, Bắc Kinh đã theo đuổi các mối quan hệ gần gũi hơn với các quốc gia này thông qua sáng kiến “Cộng đồng chung vận mệnh”. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, trong đó có Chủ tịch Tập Cận Bình, cho rằng đây là một sáng kiến phát triển toàn diện và hợp tác cùng có lợi, mang lại “cảm giác tiền định về tính chất tất yếu của định mệnh gắn bó” giữa Trung Quốc và ASEAN, qua đó tiếp tục thúc đẩy hội nhập sâu rộng hơn của Đông Nam Á vào một trật tự trong đó Trung Quốc giữ vai trò trung tâm nhằm cạnh tranh với “Đồng thuận Washington” do Mỹ dẫn dắt.

Hình minh hoạ. 
Xe tải chở đất đá xây đập thuỷ điện trên dòng Mekong ở Trung Quốc AFP

Khẩu hiệu tuyên truyền trên hấp dẫn đối với Đông Nam Á hơn là khái niệm "cai trị thiên hạ", theo đó mọi thứ “dưới vòm trời” đều thuộc về nền văn minh Trung Hoa thượng đẳng từng giúp đế chế Trung Hoa chi phối mối quan hệ với các nước láng giềng trong nhiều thiên niên kỷ qua. Tuy nhiên, cũng giống như "cai trị thiên hạ", “Cộng đồng chung vận mệnh” yêu cầu các nước láng giềng quy phục và cống nạp, dù bằng những lời lẽ dễ chịu hơn. Bắc Kinh đã tìm thấy những "chư hầu" tự nguyện tại Phnom Penh và Viêng Chăn - vốn bắt buộc phải dựa vào Trung Quốc để tìm kiếm sự ủng hộ chính trị và kinh tế, song các nhà lãnh đạo tại Bangkok và Hà Nội lại tỏ ra kín đáo hơn.

Âm mưu cai trị Mekong của Trung Quốc

Các thất bại thể chế của Đông Nam Á khiến khu vực này dễ bị tổn thương trước hành vi lợi dụng của Trung Quốc. Ủy ban sông Mekong (MRC) - bao gồm Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam - có sứ mệnh điều tiết dòng chảy ở hạ lưu và ngăn chặn hành vi gây hấn của Trung Quốc, song hoạt động của cơ quan này hiện chỉ mang tính chất tư vấn và phần lớn không hiệu quả. Dù được mời tham gia, Trung Quốc không phải là thành viên của MRC, đồng nghĩa với việc họ có thể bỏ qua các quy định của Ủy ban này, theo đó buộc các nước thành viên đệ trình các dự án xây dựng đập trên sông Mekong để thảo luận.  Ủy hội sông Mê Kông (MRC) hiện bị lu mờ bởi Cơ chế Hợp tác Lan Thương-Mekong do Trung Quốc khởi xướng. 

Năm 2010, MRC đã kêu gọi một lệnh cấm xây dựng các đập thủy điện lớn trên dòng sông Mekong trong 10 năm, ghi nhớ những lợi ích lớn nhất của khu vực. Tuy nhiên, tổ chức này đã không thể thực thi khuyến nghị riêng của mình. Thay vì tham gia một cơ quan với những quy định hạn chế như vậy, Trung Quốc đã mời các thành viên MRC (và Myanmar) tham gia Diễn đàn Hợp tác Lan Thương-Mekong (LMC) trị giá 22 tỷ USD. LMC cho phép Trung Quốc chơi theo luật riêng của mình giống như ở Biển Đông, qua đó tạo ra “sự đã rồi” nhằm kiểm soát sông Mekong. Mới đây, cựu Bộ trưởng Năng lượng Campuchia Pou Sothirak cho biết MRC không có cơ chế thực thi để buộc các nhà hoạch định chính sách nhất trí về việc nên hay không nên xây đập trên dòng chính của sông Mekong. Ông nhấn mạnh: “LMC là một hình thức ngoại giao mới của Trung Quốc. Bạn sẽ phải chấp nhận hoặc phải đối mặt vì nó sẽ không bao giờ bị trì hoãn”.

Hình minh hoạ. 
Thủ tướng VN Nguyễn Xuân Phúc chụp hình cùng lãnh đạo các nước TQ, Lào, Campuchia, Myanmar tại cuộc họp hợp tác Mekong Lan Thương ở Phnom Penh 
hôm 10/1/2018 Reuters

Với LMC, Trung Quốc cam kết hợp tác với Đông Nam Á lục địa. Tuy vậy, Bắc Kinh thông qua diễn đàn này để áp đặt ý chí của mình lên các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực, coi họ như những chư hầu lịch sử - thấp kém hơn và đáng bị cai trị - của đế chế Trung Hoa thượng đẳng.
Trung Quốc gia tăng hành động trong dịch bệnh
Đại dịch toàn cầu đã giúp Campuchia và Trung Quốc củng cố chặt hơn quan hệ đối tác hợp tác của mình. Chuyến thăm Trung Quốc của Thủ tướng Hun Sen đầu tháng 2/2020, vào thời điểm “tâm lý bài Trung” đang tăng lên được giải thích là để thể hiện “tình đoàn kết” và quan hệ Trung Quốc-Campuchia được mô tả là “một hình mẫu” cho chính sách ngoại giao láng giềng. Tại một trong những cuộc gặp song phương cấp cao đầu tiên giữa Trung Quốc và các nước láng giềng kể từ khi bùng phát dịch COVID-19, Ngoại trưởng Vương Nghị đã đồng chủ trì một cuộc họp trực tuyến của ủy ban điều phối liên chính phủ Trung Quốc-Campuchia lần thứ 5 với Phó Thủ tướng Campuchia Hor Nam Hong hôm 16/6. Trong cuộc họp này, ông Vương Nghị nói rằng hai nước đã củng cố “quan hệ hữu nghị truyền thống” của mình thông qua việc ủng hộ và hỗ trợ lẫn nhau kể từ khi bùng phát dịch bệnh.
Việc thiết lập “ưu tiên” cho sự đi lại của người dân và một “hành lang xanh” cho dòng chảy hàng hóa giữa hai nước để đối phó với dịch COVID-19 và việc Campuchia bày tỏ ủng hộ đối với quyết định của Trung Quốc ban hành “luật an ninh quốc gia dành cho Đặc khu Hành chính Hong Kong” là những dấu hiệu cho thấy mối quan hệ chiến lược ngày càng gia tăng giữa hai nước.

Giống như Campuchia, quan hệ đối tác hợp tác của Trung Quốc với nước láng giềng Lào cũng đã được tăng cường trong thời kỳ dịch bệnh. Chính phủ Lào đã trở thành “công cụ” trong việc tổ chức hội nghị đặc biệt của các bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc-ASEAN về COVID-19 cùng với hội nghị bộ trưởng LMC hồi tháng 2/2020. Khi các trường hợp nhiễm COVID-19 được thông báo ở Lào, Trung Quốc đã gửi các nhóm y tế và vật tư y tế sang Lào và được mô tả như “sự báo đáp” của Trung Quốc. Ngày 3/4, trong một cuộc điện đàm với người đồng cấp Lào Bounnhang Vorachith, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cam kết tiếp tục “hỗ trợ và ủng hộ hết mình” cho quốc gia Đông Nam Á này trong cuộc chiến chống dịch bệnh.

Tương tự, ngày 20/5, Chủ tịch Tập Cận Bình trong cuộc điện đàm với Tổng thống Myanmar U Win Myint đã tái đảm bảo “sự hỗ trợ và ủng hộ vững chắc” cho Myanmar trong cuộc chiến chống đại dịch toàn cầu. Trong khi Myanmar tiếp nhận hỗ trợ vật tư y tế cũng như kỹ thuật từ Trung Quốc trong cuộc chiến chống khủng hoảng COVID-19, nhiều người đã bày tỏ lo ngại về sự hỗ trợ y tế của Trung Quốc.

Sự chống đối Trung Quốc đang hình thành

Việt Nam có lẽ sẽ là quốc gia khó thu phục nhất trong số các quốc gia khu vực Mekong này. Bởi vì thái độ cảnh giác của Hà Nội đối với Trung Quốc là rất lớn và có từ lâu, khởi nguồn từ sự xâm lăng của Trung Quốc đối với vùng đất của người Việt từ hàng ngàn năm trước, dẫn đến cuộc khởi nghĩa của người Việt chống lại ách áp bức Trung Quốc. Dưới thời "cai trị thiên hạ", thái độ bất tuân đó có thể kéo theo hành động can thiệp quân sự của Trung Quốc. Thời nay, Trung Quốc cưỡng ép các chư hầu còn do dự tham gia vào hệ thống chư hầu hiện đại của mình. Mekong đóng vai trò quan trọng trong những nỗ lực này: Năm 2016, Việt Nam đã trải qua một đợt hạn hán tồi tệ nhất trong 90 năm qua một phần do các con đập của Trung Quốc trên sông Mekong. Hà Nội đã buộc phải đề nghị Bắc Kinh xả nước từ các con đập này. Trong tương lai, Trung Quốc có thể tiếp tục tạo ra các lợi ích chính trị từ hành động "vị tha" tương tự.
Trung Quốc đang điều tiết toàn bộ dòng chảy của sông Mekong. Và bằng cách hạn chế dòng chảy, các kỹ sư của Bắc Kinh đã trực tiếp gây ra tình trạng mực nước Mekong sụt giảm xuống mức thấp kỷ lục trong thời gian gần đây. Trong khi đó, trữ lượng nước của Trung Quốc lại gia tăng nhờ các con đập. Biến đổi khí hậu đang khiến các sông băng ở thượng nguồn sông Mekong nhanh chóng tan chảy. Do vậy, người Trung Quốc đang xây dựng các “hộp tiết kiệm an toàn bởi họ biết rằng tài khoản ngân hàng sẽ bị cạn kiệt”. Dòng sông Mekong hùng mạnh không còn nữa và đang nhanh chóng hướng tới “sự suy giảm dòng chảy không thể đảo ngược”.
Và mặc dù sự thù hận giữa các quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc xung quanh sông Mekong vẫn chưa bùng phát như ở Biển Đông, tuy nhiên phe chống đối đang được hình thành. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì Bắc Kinh đang chiếm giữ một nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng vốn nuôi sống nhiều quốc gia trong nhiều thế kỷ thường được nhìn nhận một cách tồi tệ.
Khác với biển Đông, khi có sự xuất hiện của các cường quốc trên thế giới can dự, khiến Trung Quốc phải e dè. Trong vấn đề Mekong, chỉ 4 quốc gia ASEAN mà trong đó, ít nhất 2 quốc gia đã “tự nguyện” trở thành “chư hầu” của Bắc Kinh là Lào và Campuchia, đã khiến người dân của các quốc gia khu vực Mekong sống dựa vào tài nguyên từ con sông này đã thực sự khốn đốn.
Tuy nhiên, trong bối cảnh tâm lý chống Trung Quốc đang gia tăng tại Đông Nam Á do đại dịch viêm đường hô hấp cấp do virus Corona chủng mới gây ra (COVID-19) - một đại dịch bắt nguồn từ Trung Quốc - sự phản đối đối với các con đập của Trung Quốc cũng sẽ đồng loạt bùng phát.

Trường hợp cụ thể của Lào

Trong số các quốc gia Đông Nam Á, Lào - một quốc gia nhỏ bé và ít dân - là một trong những nước nhận viện trợ lớn của Bắc Kinh. Trong quá trình cấp các khoản vay và viện trợ cho Lào, Bắc Kinh có 3 yêu cầu cơ bản đối với Lào, đó là: ủng hộ chính sách của Trung Quốc đối với các vấn đề như Đài Loan và Tây Tạng; các công ty Trung Quốc có thể khai thác tài nguyên của Lào; và cho phép đường dây liên lạc của Trung Quốc chạy qua Lào đến Thái Lan. Lào không chỉ chấp nhận những yêu cầu này mà còn tạo điều kiện để Trung Quốc trở thành nhà đầu tư lớn nhất. Bắc Kinh đã đổ hàng tỷ USD vào các ngành như thủy điện, nông nghiệp, khai thác mỏ và xây dựng, tất cả để phục vụ chiến lược hình thành "Con đường tơ lụa mới" có quy mô lớn hơn của Trung Quốc. Việc xây dựng tuyến đường sắt Trung Quốc-Lào phục vụ BRI, bắt đầu vào tháng 12/2016, liên quan đến 6 nhà thầu Trung Quốc với kế hoạch hoàn thành dự án vào tháng 12/2021. Tuyến đường sắt dài 414 km, kéo dài từ huyện cực bắc Boten của Lào, giáp biên giới Trung Quốc, đến thủ đô Viêng Chăn. Tuyến đường này sẽ tiếp tục kết nối với Thái Lan, Malaysia và Singapore như một phần của tuyến đường sắt liên Á sẽ chạy theo hướng Bắc-Nam từ Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam đến Singapore.

Một dự án quan trọng khác mà Chính phủ Lào đã mạo hiểm tham gia là việc xây dựng con đập lớn thứ bảy trên sông Mekong. Đó là đập thủy điện Sanakham có khả năng sản xuất 684 MW điện, với thời gian hoàn thành dự án là năm 2028. Đề xuất xây đập Sanakham đã được Chính phủ Lào ngày 9/9/2019 đệ trình lên Ủy hội sông Mekong (MRC). Theo đề xuất, con đập này sẽ được xây dựng cách Viêng Chăn 155 km về phía Bắc thuộc huyện Sanakham. Tuy nhiên, đề xuất đối mặt với phản ứng dữ dội vì công trình này sẽ tiếp tục chặn dòng sông Mekong, một "động mạch" quan trọng ở Đông Nam Á, vốn đã bị tắc nghẽn. Các con đập hiện tại như Xayaburi và Don Sahong đã ảnh hưởng tiêu cực đến ngư nghiệp, nông nghiệp, sinh kế và khu vực bờ sông ở hạ lưu. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã tiếp tục đẩy mạnh dự án.

Do đó, một số nhà hoạt động bảo vệ môi trường đã kêu gọi Chính phủ Lào không tiến hành xây dựng một con đập "phá hoại môi trường" nữa trên dòng sông này. Pianporn Deetes, người phụ trách các chiến dịch tại Thái Lan và Myanmar của tổ chức chống xây đập trên các dòng sông quốc tế, cho rằng: "Đập Sanakham hoàn toàn không nên được xây dựng. Có một số cách ít tốn kém hơn, ít hủy hoại hơn và đáp ứng nhu cầu năng lượng của các nước có sông Mekong chảy qua nhanh hơn". Mặc dù phải đối mặt với những vấn đề nhân quyền và môi trường, song Chính phủ Lào đã cam kết phục tùng trước ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực và trên thế giới.

Liệu các nước khu vực Mekong có thoát ra khỏi được cái bẫy của Trung Quốc?

Nếu các nhà lãnh đạo khu vực Mekong coi mối đe dọa của Trung Quốc đối với khu vực này một cách nghiêm túc và muốn chống lại hành vi bắt nạt của Bắc Kinh, thì các quốc gia này có thể tìm kiếm sự hỗ trợ ngoại giao từ nước Mỹ xa xôi. Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo mới đây đã bày tỏ sự quan tâm đến việc ủng hộ “cách tiếp cận dựa trên các quy tắc và minh bạch đối với sông Mekong”. Thất bại trong việc thách thức hiện trạng này sẽ đẩy khu vực với 66 triệu người sống nhờ vào sông Mekong phải dựa dẫm một cách tuyệt vọng vào ân sủng của Trung Quốc, hoặc gặp hiểm nguy khi bị các nhà các nhà lãnh đạo của họ bỏ rơi. Một người Lào - người từng từ chối nhường đất xây đập dù các quan chức chính phủ và đại diện các công ty tư nhân Trung Quốc nhiều lần thuyết phục - đã nói: “Có một khoảng cách lớn giữa thứ họ đề xuất với tôi và thứ mà tôi cần để có một cuộc sống ngang với mức hiện tại. Nếu chúng ta không có lập trường, điều gì sẽ xảy ra với chúng ta và tương lai của chúng ta?”

Trong trường hợp của Lào, quốc gia này cần xem xét đa dạng hóa các dự án đầu tư của mình với các quốc gia khác như Thái Lan, Ấn Độ, Mỹ và Nhật Bản và không chỉ phụ thuộc vào một quốc gia duy nhất. Sự kết giao duy nhất với Trung Quốc có thể tạo điều kiện cho Bắc Kinh dễ dàng nắm giữ và biến Lào thành công cụ để đạt được các lợi ích chiến lược của riêng Bắc Kinh. Một số nhà phân tích cho rằng "làm ngay đỡ gay hơn sau này" bởi Lào là một trong những quốc gia hàng đầu có nguy cơ rơi vào "bẫy nợ" của Trung Quốc, khiến nước này dễ bị phụ thuộc về tài chính và không thể đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Trong khi tham gia các dự án với các quốc gia khác, Lào nên lưu ý rằng không nên làm phiền các quốc gia láng giềng như Thái Lan và nên tham vấn các tổ chức bảo vệ môi trường và người dân địa phương về các quyết định quan trọng này. Lào đã xúc tiến dự án xây đập Xayaburi với Trung Quốc, bất chấp sự phản đối của người dân Thái Lan. Trong nỗ lực trở thành “Bình ắc quy của Đông Nam Á", Lào không thể và không nên hành động mà không tham khảo ý kiến của người dân địa phương.

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

SOURCE: https://www.rfa.org/

.