Showing posts with label Khai thác mỏ. Show all posts
Showing posts with label Khai thác mỏ. Show all posts

Wednesday, October 15, 2025

Sinh Mệnh của Sông Mã, Sông Chu và Sông Lam Dưới Bóng các Mỏ Đất Hiếm ở Lào

Phạm Phan Long

October 14, 2025

 

Sông Mã. Nguồn ảnh: wiki common

 

 

Sông Chu. Nguồn ảnh:Báo Dân Việt

 

Ngày 14 tháng 10 năm 2025

Lời giới thiệu :  

Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này.

Sông Mã, sông Chu và sông Lam, bắt nguồn từ những vùng cao nguyên hiểm trở Điện Biên Phủ băng qua Lào và chảy về Việt Nam, là nguồn sống của hàng triệu người thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Những con sông này không chỉ cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất mà còn mang giá trị văn hóa và lịch sử sâu sắc đối với Việt Nam, đặc biệt tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Tuy nhiên, hoạt động khai thác đất hiếm ngày càng gia tăng ở Lào đang đe dọa các con sông này bằng ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt từ chất độc asen và kim loại nặng. Bài viết này phân tích các nguy cơ môi trường từ hoạt động khai thác đất hiếm, những hậu quả tiềm tàng đối với các con sông và cộng đồng dân cư Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải hành động khẩn cấp để bảo vệ những tài nguyên vô giá này.

Ý Nghĩa Văn Hóa và Sinh Thái của Sông Mã, Sông Chu và Sông Lam

 

Hình 1 : Lồng cá trên sông Mã (Báo Thanh Hoá)

 

Phỏng theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Minh Tường đăng trên báo Thanh Hóa (2023), sông Mã cùng sông Chu phụ lưu cung cấp nước ngọt cho hàng triệu người dân tại Thanh Hóa và các tỉnh lân cận. Dài hơn 500 km, sông Mã bắt nguồn từ vùng Điện Biên Phủ, Việt Nam chảy sang Lào, về lại Việt Nam và đổ ra vịnh Bắc Bộ tại Thanh Hóa. Đồng bằng sông Mã, vùng đồng bằng lớn thứ ba cả nước, là cái nôi nuôi dưỡng lịch sử và văn hóa Việt Nam. Thanh Hóa, thường được xem là trung tâm văn minh thời đại kim khí, là nơi phát triển văn hóa Đông Sơn nổi tiếng với trống đồng, đồng thời là quê hương của nhiều vương triều lịch sử Việt Nam. Các di tích như Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, và Vạn Lại – Yên Trường là minh chứng cho di sản này. Sông Mã còn mang ý nghĩa tâm linh, là nguồn cảm hứng cho các truyền thuyết và sử thi, trong đó có pho cổ tích truyền khẩu đồ sộ nhất của người Việt “Đẻ đất, đẻ nước” với hơn hai mươi nghìn câu thơ của người Mường, kể về sự ra đời của trời đất và con người.

Tương tự, sông Chu, phụ lưu của sông Mã, và sông Lam cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của khu vực Bắc Trung Bộ. Sông Chu, chảy vào sông Mã ở Thanh Hóa, hỗ trợ nông nghiệp và ngư nghiệp, trong khi sông Lam, chảy qua Nghệ An, nuôi dưỡng các cộng đồng dân cư và hệ sinh thái đa dạng. Đồng bằng của các con sông này hiện là nơi sinh sống của hơn 16 triệu người, phụ thuộc vào nguồn nước để uống, tưới tiêu và đánh bắt cá. Những con sông này không chỉ là nguồn tài nguyên mà còn gắn bó sâu sắc với bản sắc của người Việt, đặc biệt tại vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh, nơi di sản văn hóa Đông Sơn là niềm tự hào dân tộc.

Tuy nhiên, các con sông này đang đối mặt với mối đe dọa nghiêm trọng. Việc mở rộng nhanh chóng các mỏ đất hiếm ở Lào, đặc biệt gần thượng nguồn sông Mã, sông Chu và sông Lam, có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước bằng chất thải độc hại, làm dấy lên lo ngại về một cuộc khủng hoảng môi trường và nhân đạo.

Ô Nhiễm Asen từ Khai Thác Đất Hiếm: Bài Học từ Sông Mekong

 

Hình 2: Vị trí các mỏ đất hiếm ở Đông Nam Á (Stimson Center).

 

Hậu quả môi trường của khai thác đất hiếm được thể hiện rõ qua trường hợp sông Mekong. Nhà báo Tom Fawthrop, viết trên The Diplomat, mô tả khu vực Tam Giác Vàng của sông Mekong có màu vàng cam đục do ô nhiễm asen từ các mỏ đất hiếm ở Myanmar. Ủy hội Sông Mekong (MRC) đã ghi nhận nồng độ asen vượt ngưỡng an toàn tại các phụ lưu ở tỉnh Chiang Rai, Thái Lan. Asen, được Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) xếp vào nhóm chất gây ung thư loại 1, gây ra các nguy cơ nghiêm trọng như ung thư, rối loạn thần kinh và ảnh hưởng đến sự phát triển. Các nghiên cứu độc lập từ Đại học Chiang Mai cho thấy mức ô nhiễm kim loại nặng tại khu vực Mae Sai-Tachilek cao gấp gần 100 lần giới hạn cho phép, dẫn đến cá chết, nguồn nước độc hại và sản lượng đánh bắt sụt giảm nghiêm trọng.

Trung tâm Stimson, một tổ chức nghiên cứu của Mỹ, đã cảnh báo về tác động xuyên biên giới của khai thác đất hiếm ở Đông Nam Á. Báo cáo của họ chỉ ra rằng các mỏ đất hiếm ở Myanmar thải asen và các kim loại nặng khác vào các con sông như Irrawaddy (hạ lưu 451 mỏ) và Salween (4 mỏ), chảy qua Thái Lan và Lào. Các chất ô nhiễm này tích tụ trong nước, đất và sinh vật thủy sinh, gây ra hiệu ứng domino tàn phá hệ sinh thái và đe dọa sức khỏe con người. Trong khi MRC giám sát sông Mekong, các con sông Mã, Chu và Lam—bắt nguồn từ Lào và không thuộc lưu vực Mekong—không được theo dõi, khiến chúng dễ bị ô nhiễm mà không có biện pháp kiểm soát.

Khai Thác Đất Hiếm ở Lào và Mối Đe Dọa Đối với Các Con Sông Việt Nam

 

Hình 3: Vị trí các mỏ đất hiếm có ảnh hưởng đến Việt Nam (Stimson Center).

 

Trung tâm Stimson đã lập một bản đồ tương tác định vị các mỏ đất hiếm ở Đông Nam Á, nhiều trong số đó do các công ty Trung Quốc vận hành. Tại Lào, ít nhất 12 mỏ nằm gần thượng nguồn các sông Mã, sông Chu và sông Lam. Các hoạt động này đe dọa trực tiếp đến Việt Nam, vì các con sông chảy từ Lào vào các tỉnh đông dân của Việt Nam. Việc khai thác đất hiếm, cần thiết cho các công nghệ như xe điện và tua-bin gió, tạo ra lượng chất thải khổng lồ—khoảng 2.000 tấn chất thải cho mỗi tấn đất hiếm khai thác được. Chất thải này thường chứa asen, thủy ngân, cadmium và các kim loại nặng khác, rất khó và tốn kém để xử lý khi đã phát tán ra môi trường.

Các nguy cơ bao gồm:

Độc Tính và Tính Bền Vững: Asen và kim loại nặng rất bền trong môi trường, tích tụ trong nước, đất và chuỗi thức ăn. Không như các chất ô nhiễm hữu cơ, chúng không phân hủy theo thời gian, tạo ra mối đe dọa lâu dài.

Tác Động Sức Khỏe Ẩn Tàng: Tiếp xúc với asen thường không có triệu chứng rõ ràng trong giai đoạn đầu, khiến chất độc tích tụ trong cơ thể qua nhiều năm. Tiếp xúc mãn tính có thể dẫn đến ung thư (da, phổi, bàng quang), bệnh tim mạch và suy giảm phát triển nhận thức ở trẻ em.

Quy Mô Ô Nhiễm: Lượng chất thải khổng lồ từ khai thác đất hiếm có thể áp đảo hệ sinh thái địa phương. Việc xả thải liên tục làm chất độc tích tụ đến mức nguy hiểm không thể dự đoán trước.

Thiệt Hại Sinh Thái Rộng Lớn: Nước ô nhiễm ảnh hưởng đến thủy sinh, nông nghiệp và chăn nuôi. Cá, nguồn thực phẩm chính của nhiều cộng đồng, có thể trở nên không an toàn để tiêu thụ, trong khi cây trồng tưới bằng nước nhiễm độc có thể hấp thụ chất độc, xâm nhập vào chuỗi thức ăn.

Tác Động Diện Rộng: Chất ô nhiễm di chuyển theo dòng nước, ảnh hưởng đến các khu vực rộng lớn ở đồng bằng sông Mã, Chu và Lam. Với hơn 16 triệu người sinh sống tại các khu vực này, nguy cơ khủng hoảng y tế công cộng là rất lớn.

Hậu Quả Kinh Tế: Sản lượng đánh bắt cá giảm và nông sản bị nhiễm độc có thể tàn phá kinh tế địa phương, đặc biệt ở các khu vực nông thôn phụ thuộc vào nông nghiệp và ngư nghiệp.

Nhu Cầu Hành Động Khẩn Cấp

Các giá trị môi trường và văn hóa đang bị đe dọa nghiêm trọng. Sông Mã, Chu và Lam không chỉ là nguồn nước mà còn là biểu tượng của di sản Việt Nam, gắn liền với văn hóa Đông Sơn và bản sắc dân tộc. Để các con sông này bị đầu độc bởi chất thải khai thác là sự phản bội cả môi trường lẫn di sản văn hóa của đất nước.

Để giảm thiểu khủng hoảng này, cần thực hiện các bước sau:

Đánh Giá Môi Trường Độc Lập: Tất cả các dự án khai thác đất hiếm ở Lào phải được đánh giá kỹ lưỡng và minh bạch bởi các chuyên gia độc lập để xác định tác động môi trường. Các dự án quá nguy hiểm cần bị hủy bỏ.

Thỏa Thuận Xuyên Biên Giới: Việt Nam cần khẩn trương đàm phán các thỏa thuận song phương với Lào để quản lý hoạt động khai thác và thiết lập cơ chế giám sát, giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Các thỏa thuận này có thể bao gồm khung bồi thường cho các cộng đồng bị ảnh hưởng.

Giám Sát và Thực Thi: Việt Nam cần thiết lập hệ thống giám sát chất lượng nước chặt chẽ cho các sông Mã, Chu và Lam để phát hiện sớm dấu hiệu ô nhiễm. Điều này đòi hỏi đầu tư vào công nghệ kiểm tra và hợp tác với các tổ chức quốc tế.

Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng: Việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng địa phương về nguy cơ ô nhiễm asen và kim loại nặng là rất quan trọng. Các phong trào cơ sở có thể gây áp lực để chính quyền ưu tiên bảo vệ môi trường.

Giải Pháp Bền Vững: Việt Nam và Lào cần xem xét các phương pháp khai thác bền vững, như cải thiện quản lý chất thải và tái chế đất hiếm, để giảm thiểu tác hại môi trường.

Kết Luận

Sông Mã, sông Chu và sông Lam là mạch máu của hàng triệu người dân và là cái nôi của di sản văn hóa Việt Nam. Việc mở rộng không kiểm soát các mỏ đất hiếm ở Lào đe dọa đầu độc các con sông này, gây ra hàng loạt khủng hoảng về môi trường, sức khỏe và kinh tế. Nếu không hành động kịp thời, người dân Thanh Hóa và Nghệ An, Hà Tĩnh sẽ phải gánh chịu hậu quả từ ô nhiễm mà không nhận được bất kỳ lợi ích nào từ các mỏ đất hiếm. Việt Nam cần hành động quyết liệt—thông qua ngoại giao, giám sát và vận động—bảo vệ các con sông và cộng đồng phụ thuộc vào chúng. Di sản văn hóa Đông Sơn và tương lai của các thế hệ sau đang bị đe dọa.

Phạm Phan Long

SOURCES:

Thế Kỷ Mới Media

https://www.baoquocdan.org/2025/11/nhin-vao-kenh-ao-phu-nam-techo-cua.html

. 

Friday, November 24, 2017

Khai thác mỏ Thạch Khê “điếc không sợ súng”


Tô Văn Trường

24/11/2017

Thế giới, không thiếu những nước tài nguyên khoáng sản nghèo nàn, nhưng đã trở thành nước rất giàu có, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Công, v.v…
Việt Nam không thể dựa vào tài nguyên thiên nhiên để phát triển được vì tài nguyên khoáng sản của nước ta rất nhỏ bé, manh mún và hàm lượng cũng không cao. Thậm chí không có khoáng sản nào có lợi thế để cạnh tranh có hiệu quả (nhập khẩu còn rẻ hơn khai thác), kể cả than, dầu, khí, nước ngọt, cát, đá, sỏi và đất. Than, dầu khí thì sắp hết (30 năm nữa là đóng cửa bể than Quảng Ninh). Ngay cả đá vôi làm xi măng, trữ lượng khai thác được và có hiệu quả cũng chỉ có khoảng 2 tỷ tấn.
Qua các thông tin đại chúng, người dân được biết Bộ Công thương đang cho các đơn vị đầu mối của bộ tập hợp các kiến nghị, đề xuất của tỉnh Hà Tĩnh, đánh giá, rà soát lại toàn bộ dự án, đặc biệt là vấn đề môi trường, hiệu quả kinh tế, xã hội để có quyết định cuối cùng trước khi đề xuất Thủ tướng trong việc có tiến hành hay dừng không khai thác dự án mỏ sắt Thạch Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

Điếc không sợ súng
Chưa nói đến quy hoạch ngành thép và bất cập của việc tiêu thụ sản phẩm, ‘điếc không sợ súng’ hay ‘bất chấp’ ở đây là do người trong cuộc vì cái lợi trước mắt không chịu tìm hiểu về công nghệ khai thác một mỏ sâu dưới mặt nước biển và ngay bên cạnh biển, về độ phức tạp đầy rủi ro, chi phí khai thác rất cao như mỏ Thạch Khê. Họ bất chấp rủi ro về môi trường, và thảm họa khai thác, trong khi quặng sắt đang tràn ngập thị trường với giá ngày càng giảm.
Mỏ thân quặng của Thạch Khê nằm sâu dưới mực nước biển, cụ thể nóc quặng (đỉnh) bắt gặp nông nhất ở độ cao khoảng từ -15 tới - 45m (âm), đáy quặng từ - 400 đến - 650m. Thân quặng nằm ngay sát bờ biển khoảng 1,5 km cho nên vài năm qua TKV đã bốc mở một điểm tới đỉnh thân quặng, nước biển đã ngập ngay điểm mở. Có thể suy ra toàn thân quặng thấm ngập nước biển.



Như vậy, vấn đề nước biển ngấm vào mỏ là thực tế, cần một hệ thống bơm lớn, bơm liên tục mới khai thác được. Có thể cấu tạo karster hiện diện ở đây, thì nước biển chảy vào qua các hang ổ là khó giải quyết. Cty Braunkohle của Đức đã chạy một mô hình toán học vấn đề tháo nước ở đây khi các tập đoàn Krupp, Lonrho Mining Pacific, Mitsui tiến hành nghiên cứu mỏ này. Chắc chắn chỉ có thể khai thác lộ thiên, nên sẽ ảnh hưởng môi trường và cuộc sống của cư dân trên diện rất rộng lớn.

Quan điểm của các nhà đầu tư
Đã có vài công ty lớn đến rồi đi, như BHP của Australia, Krupp, Glencore, Mitsui…. Liên kết Krupp-Lonrho và Mitsui đưa ra lý do rút khỏi dự án là hàm lượng kẽm cao.
Còn BHP đến khảo sát kỹ, nhưng nhận thấy khai thác mỏ Thạch Khê sẽ gặp nhiều khó khăn vì mỏ nằm ngay sát biển và thân quặng chìm dưới mặt nước biển nên cũng rút lui.

Chất lượng
Hàm lượng kẽm trong quặng rất cao: 0,037 % đối với quặng giàu, 0,028 % đồi với quặng nghèo. Trong quá trình luyện gang, kẽm sẽ bốc hơi dưới dạng ô xít. Hơi kẽm thấm vào thành (xốp) gạch chịu lửa, và làm nứt gạch thành lò cao, dẫn đến phá hủy thành lò.
Bình thường một lần xây thành lò cao, sẽ dùng được 4-5 năm. Nhưng nếu dùng quặng có kẽm cao như mỏ Thạch Khê thì tiểu tu, trung tu và đại tu thành lò cao sẽ phải thường xuyên hơn. Như vậy rất tốn kém, ảnh hưởng đến sản lượng. Trong khi, Formosa với tổng nhu cầu quặng sắt từ 7-14 triệu tấn/năm vẫn chưa có ý định mua quặng sắt mỏ Thạch Khê.
Xin lưu ý, chỉ quặng Thạch Khê thôi không thể luyện gang thép được, mà phải pha trộn với các loại quặng khác. Tỷ lệ quặng Thạch Khê trong trộn lẫn này sẽ thấp hơn hẳn, nghĩa là tỷ lệ quặng nhập về để luyện gang thép với quặng Thạch Khê sẽ cao hơn.

Năng lực tài chính
Ngày 17/5/2007 Công ty cổ phần sắt Thạch Khê (TIC) đã ra mắt với 9 cổ đông sáng lập, vốn điều lệ 2.400 tỷ đồng. Tuy nhiên, một số cổ đông đã không góp vốn đúng cam kết, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch hoạt động của công ty. Sau đó, Bộ Công thương đã tiến hành tái cơ cấu lại TIC theo hướng Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) giữ cổ phần chi phối, loại bỏ một số cổ đông.
Bộ KH-ĐT cho rằng sau 2 lần điều chỉnh dự án mỏ Thạch Khê còn hơn 12.200 tỷ nhưng dự án vẫn chưa tính hết chi phí liên quan vào tổng mức đầu tư của dự án.

Lời kết
Nếu cho tư nhân kể cả quốc doanh khai thác mỏ Thạch Khê, khi không có lời nữa thì họ bỏ cuộc với đủ lý do, hậu quả để lại không biết bao giờ xử lý được. Dẹp dự án này càng sớm, càng đỡ tốn kém về kinh tế, và nguy hại đến môi trường.
Nếu chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước thì nhập khẩu nguyên liệu là rẻ nhất, tránh được vấn đề môi trường do khai thác tạo ra. Trong khi quặng sắt, nếu VN có nhu cầu, rất có sẵn trên thị trường thế giới.
Riêng cơn bão số 12 vừa qua cho thấy sóng biển đã cao hơn rất nhiều so với cách tính trong thiết kế bãi thải của dự án. Với tần suất khoảng 10 năm một lần, những cơn bão như vậy sẽ san bằng mỏ sắt Thạch Khê (bãi thải ngoài biển, và khai trường trong bờ) chỉ trong chớp mắt là không tránh khỏi.

Quan điểm của lãnh đạo Tỉnh Hà Tĩnh đề nghị dừng, không khai thác mỏ Thạch Khê, hoàn trả nguyên trạng, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân và chỉ nghiên cứu khởi động lại dự án khi đủ các điều kiện nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững là chính xác.

​Tô Văn Trường​
 Source: