Sunday, August 22, 2021

VIỆC ĐIỀU HÀNH ĐẬP TRONG MÙA MƯA ĐÁNH VÀO SINH THÁI VÀ CỘNG ĐỒNG MEKONG


(Wet-season dam operations hit Mekong ecology and communities)

Tyler Rodney – Bình Yên Đông lược dịch

The Third Pole – August 19, 2021

Ảnh chụp từ trên không của đập thủy điện Jinghong trên sông Lancang, Mekong trong lãnh thổ Trung Hoa. 

[Ảnh: Alamy]

 

Vào đầu tháng 7 năm 2021, các đập của Trung Hoa bắt đầu hạn chế dòng chảy của thượng lưu Mekong.  Các nhà nghiên cứu và hoạt động nói chưa biết hậu quả ở hạ lưu và có lẽ nghiêm trọng.

Khi Trung Hoa chào mừng kỷ niệm thứ 100th của Đảng Cộng sản vào ngày 1 tháng 7, đập Jinghong (Cảnh Hồng) trong tỉnh Yunnan (Vân Nam) bắt đầu hạn chế dòng chảy ở thượng lưu Mekong.  Mực nước ở hạ lưu giảm xuống 50 cm chỉ trong 10 tiếng đồng hồ.  Vào ngày 3 tháng 7, mực nước thấp lan đến Tam giác Vàng, biên giới giữa Myanmar, Lào và Thái Lan.

Các đập thủy điện đáp ứng nhu cầu năng lượng cao trong ngày.  Vào ban đêm, các turbines ngưng chạy và số nước xả giảm, gây ra đỉnh nước (hydropeaking) – sự lên xuống nhanh chóng của mực nước sông.  Mặc dù dữ kiện xuyên biên giới về mực nước Mekong được chia sẻ nhiều hơn bao giờ, dữ kiện điều hành từ Trung Hoa vẫn là một nguồn bất thường.

“Đỉnh nước làm cho nước dao động thường xuyên và nhanh chóng ở hạ lưu, [với] các ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên ở dưới nước hệ trọng đến các cộng đồng ở hạ lưu,” Gary Lee của International Rivers (Sông ngòi Quốc tế), một NGO, nói.  “Với những thay đổi thình lình trong dòng chảy và mực nước, các cộng đồng [trên Mekong] đã thấy bờ sông và thuyền bè bị cuốn trôi, và thủy sản giảm [cũng như] các tài nguyên ở dưới nước khác tàn phá cuộc sống của người dân.”

Ở thượng lưu của Thái Lan, Trung Hoa đã xây 11 đập trên thượng lưu Mekong, được biết như chuỗi đập Lancang, và có thêm 11 đập trong các gia đoạn khác nhau từ quy hoạch đến hoàn tất trên hạ lưu Mekong, hầu hết với phần đầu tư của Trung Hoa trong việc phát triển hay xây cất.  Đập Luang Prabang ở Lào là đập mới nhất đã bắt đầu xây cất sơ khởi.

Mặc dù mưa lớn trong suốt tháng 6, mực nước đã giảm 2 m trong tuần lễ đầu tháng 7.  Trong tháng 8, Trung Hoa và Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) mâu thuẫn với nhau về nguyên nhân khiến mực nước dao động trong mùa mưa.  Đối với các cộng đồng sống ven sông ở hạ lưu, ảnh hưởng của việc giới hạn dòng chảy của các đập trên thượng lưu Mekong đã rõ ràng.

Cái giá chưa biết của đỉnh nước đối với Mekong

“Chúng ta có thể thấy những ảnh hưởng rõ ràng [của đỉnh nước] đối với đời sống hoang dã trong các rừng ngập nước ở hạ lưu sông Ing, một phụ lưu của Mekong trong tỉnh Chiang Rai [ở phía bắc Thái Lan],” Teerapong Pomun, giám đốc của Viện Cộng đồng Mekong và Hiệp hội sông Siam, nói.  Ponum nói có 26 rừng ngập nước dọc theo hạ lưu sông Ing.  “Sự thay đổi mực nước trong Mekong ảnh hưởng hệ sinh thái của rừng…  Có nhiều loại đời sống hoang dã trong rừng, bao gồm các loại quan trọng như rái cá Eurasian, rái cá có lông, và rắn hổ mang chúa.”

Đất ngập nước Boon Rueang ở bắc Thái Lan, hoàn toàn dựa vào nhịp lũ của Mekong, rất qua trọng đối với các nhà bảo tồn.  Những hành động gần đây để biến vùng lân cận thành Đặc khu Kinh tế đã bị công chúng phản đối vì có quá ít nghiên cứu cho hệ sinh thái.

“Chúng tôi tin rằng đây là nơi cư trú quan trọng thứ hai của rái cá Eurasian ở Thái Lan.  Chúng tôi đã tìm thấy ít nhất 6 biến thể DNA của rái cá Eurasian trong hạ lưu sông Ing, chỉ kéo dài có 133 km,” Teerapong Ponum nói.  “Sự thay đổi rừng ngập nước và số cá do nước Mekong ảnh hưởng đến rái cá và đời sống hoang dã khác trong rừng, kể cả các loài chim di trú.”

 

Rái cá có lông là thú thổ sinh ở nam và Đông Nam Á, với một số ở Iraq.  Nó là loại rái cá lớn nhất ở Á Châu, và được xếp vào loại dễ tổn thương bởi Liên hiệp Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. [Ảnh: Alamy]

 

MRC có ý định cộng tác với Trung Hoa để nghiên cứu các ảnh hưởng rộng lớn hơn của đập thủy điện.  Nhưng một nghiên cứu hỗn hợp trước đây trong năm 2018, Gary Lee nói, đã “không chú ý nhiều đến ảnh hưởng đối với người dân dựa vào sông.”

Mặc dù hứa hẹn các tiêu chuẩn mùa mưa, khi vòi nước được đóng lại ở Jinghing trong tỉnh Yunnan trong tháng 7, sông Ruak, phụ lưu của Mekong cho thấy các cồn cát giữa Thái Lan và Myanmar.  Ở thượng lưu, đỉnh nước cũng ảnh hưởng các phụ lưu Mekong nhưng ít được biết đến như trên dòng chánh, với các hệ sinh thái dựa vào lũ lụt và hạn hán thông thường của Mekong.

Nhịp lũ

Tin tức từ Theo dõi Đập Mekong (Mekong Dam Monitor (MDM)), một diễn đàn trên mạng dùng ảnh vệ tinh để theo dõi mực nước trong hồ chứa, ước tính rằng có khoảng 60 đỉnh nước xảy ra từ ngày 5 đến 7 tháng 1, và cho biết ảnh hưởng tổng quát của việc giữ và xả nước làm cho các vấn đề theo mùa thêm tồi tệ.  Vì việc hạn chế ở thượng lưu và mưa ít, huyện Chiang Saen ở Thái Lan mất 35% lưu lượng tự nhiên vào giữa tháng 8, theo Mô hình Dòng chảy Tự nhiên của Eyes on Earth.

Hàng triệu người trong hạ lưu vực Mekong từ Myanmar dựa vào số cá đánh được từ Mekong, cung cấp nền thủy sản nội địa lớn nhất thế giới và xác định chu kỳ tự nhiên của mùa mưa và mùa khô.  Các nghiên cứu gần đây nói rằng đỉnh nước trên Mekong có thể thay đổi lớn lao chiều sâu, hình dạng của lòng lạch, nhiệt độ và vận tốc dòng chảy.

Ngoài chất dinh dưỡng và phù sa bị các đập thủy điện lớn giữ lại, ấu trùng và cá con cũng gặp rủi ro vì nước đứng và chấn động bởi sức mạnh của dòng chảy nhân tạo.  Các loại chim làm tổ trên bờ sông Mekong, một số sắp tuyệt chủng, đang lâm nguy vì tổ của chúng bị ngập vì lũ lụt trái mùa.

“Các đập [đang] đóng và mở sông bằng cái ngắt điện và một số nút vặn,” Alan Basist, chủ tịch của Eyes on Earth, nói, lưu ý rằng những thay đổi tự nhiên trong sông hiếm khi xảy ra ở mức độ do đỉnh nước gây ra.  “Sự toàn vẹn, ổn định, sinh thái và kinh tế bị ảnh hưởng đáng kể từ sự dao động không tự nhiên của dòng chảy, nhưng dường như những lo ngại nầy không được chú ý trong việc điều hành đập.”

Lên và xuống

Các mực nước thấp trong mùa mưa trong Mekong ngày 2 tháng 7 được báo cáo lần đầu tiên bởi MDM, một nỗ lực hợp tác giữa Trung tâm Stimson và Eyes on Earth.  Dữ kiện thu thập bởi MDM sử dụng các vệ tinh xuyên mây và dữ kiện thủy học để tiên đoán và ghi nhận mực nước Mekong.

“Trong các điều kiện bình thường, mực nước ở Jinghong trong mùa mưa giảm dần từ tháng 1 đến tháng 5, nhưng dữ kiện cho thấy cái gì đó hoàn toàn khác,” Brian Eyler, giám đốc chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Stimson, nói.  Ông lưu ý rằng bằng cách dùng dữ kiện từ trạm Yunjinghong của Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)) và MDM, sông dâng lên khoảng 3 m từ giữa tháng 2 đến giữa tháng 5, do việc xả nước phối hợp phần lớn từ các đập thượng lưu ở Huangdeng (Hoàng Đăng), Xiaowan Tiểu Loan) và Nuozhadu (Nọa Trát Độ).

Nhóm cũng báo động các cộng đồng ở hạ lưu.  “Khi nhóm MDM quan sát một sự thay đổi mực nước 50 cm vì việc điều hành đập trong thời gian 24 tiếng đồng hồ hay ngắn hơn, một báo động được loan báo cho các cộng đồng dễ tổn thương, các giới chức của chánh phủ, các tổ chức xã hội dân sự và truyền thông qua diễn đàn MDM, truyền thông xã hội và email,” Eyler nói.  Từ khi MDM được phát động vào tháng 12 năm 2020, có 16 báo động đã được loan báo.”

Các báo động cho các cộng đồng ở Thái Lan một thời gian khoảng 48 tiếng đồng hồ để chuẩn bị cho sự thay đổi mực nước.  Hy vọng họ có đủ thời giờ, Eyler nói, để dời thuyền bè, gia súc và phương tiện canh tác có thể bị cuốn trôi vì nước dâng thình lình.  Ông lưu ý rằng cổng dữ kiện gần đây của LMC từ Trung Hoa và MDM sẽ cho phép theo dõi tần suất và phạm vi của các đỉnh nước, và liên kết chúng với mất mát thủy sản và nhân mạng.

Trạm theo dõi ở Chiang Saen ở Tam giác Vàng là trạm theo dõi đầu tiên ở ngoài Trung Hoa ghi nhận đỉnh nước từ chuỗi đập Lancang, nhưng ảnh hưởng rộng lớn hơn đối với bờ sông được cảm nhận xa về phía hạ lưu, được the dõi ở trạm Chiang Khan ở Thái Lan và Vientiane và Nong Khai ở Lào.  Đỉnh nước trên Mekong cũng có thể có ảnh hưởng cộng dồn xa đến Việt Nam, khi việc thiếu hụt phù sa trong sông – do đập giữ lại – cùng với việc khai thác cát làm cho bờ sông sụp đổ.

Dữ kiện về mực nước Mekong mới và nhanh hơn

Hạn hán nặng nề trong năm 2019 là động lực cho việc chia sẻ dữ kiện xuyên biên giới trên Mekong, và việc hợp tác gần đây đã cung cấp dữ kiện tức thời mới mà mọi người có thể xem.  Tuy nhiên, mặc dù mực nước của MDM, LMC và MRC phần lớn phù hợp với nhau, việc thiếu dữ kiện điều hành đã cản trở các nỗ lực giảm nhẹ ảnh hưởng của đỉnh nước.

MRC không có quyền cho phép hay cấm xây đập trên dòng chánh.  Điều nầy đặt nghi vấn về hiệu năng của nó.  Dù vậy, MRC tiếp tục yêu cầu dữ kiện điều hành từ Trung Hoa, gần nhất vào cuối tháng 6 năm 2021, để minh bạch hơn.  Những người khác đã cỗ xúy cho một đường lối dựa vào hành động.

“Chánh phủ Thái cùng với các quốc gia thành viên khác của MRC nên cỗ xúy cho việc thay đổi cách điều hành chuỗi đập Lancang để làm giảm ảnh hưởng đối với sông và cộng đồng,” Gary Lee nói.  “Việc điều hành đập nên đặt ưu tiên vào các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng cho cuộc sống của các cộng đồng ở hạ lưu thay vì vào việc sản xuất điện và thủy vận thương mại.”

Cũng có thể có những khía cạnh tích cực của đỉnh nước đối với Mekong, vì nó có thể làm giảm vấn đề bùng nổ rong rêu.  Nhưng không may, nếu Trung Hoa không muốn chia sẻ dữ kiện điều hành thì việc nầy, hay bất cứ ảnh hưởng tích cực nào khác, không thể được đánh giá.

“Chánh phủ Trung Hoa và các nhà đầu tư không bao giờ lắng nghe hay lo lắng về người dân ở hạ lưu, Teerapong Ponum nói.

“Chúng tôi không có các cơ chế tốt để can thiệp.”

 .

 

TRUNG HOA VÀ TRANH CHẤP SÔNG MEKONG: MỘT KHUÔN KHỔ MỚI CÓ THỂ MANG LẠI THỎA HIỆP MỚI HAY KHÔNG?

 

(China and the Mekong River Disputes: Can a New Framework Bring New Compromises?)

Chi (Will) Gao – Bình Yên Đông lược dịch

China Focus – April 9, 2021

Đập Xiaowan (Tiểu Loan) trên sông Lancang (Mekong) ở Trung Hoa.

[Ảnh: worldatlas]

 

Hỗ trợ cho khoảng 284 triệu người, sông Mekong là một con sông xuyên quốc gia chảy qua Trung Hoa, Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam.  Vùng nước nầy đã là chủ đề của những căng thẳng liên tục giữa các quốc gia, và mang những hệ quả rộng lớn cho mối bang giao quốc tế cho đến hôm nay.  Thí dụ, mặc dù lề lối ngoại giao của Việt Nam đưa đến căng thẳng với Hoa Kỳ dưới thời nội các trước, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel Kritenbrink đánh dấu sự cải thiện trong bang giao song phương tại cuộc họp báo ở Hà Nội cách đây vài ngày.  Hoa Kỳ có thể lợi dụng mối bang giao Hoa-Việt đối nghịch đối với sông Mekong để kéo Việt Nam vào cánh của mình.  Việt Nam là một tay chơi then chốt trong chiến lược Ấn Độ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.  Có tranh luận đang diễn ra liên quan đến ảnh hưởng của việc xây đập của Trung Hoa trên sông Mekong, và theo quan điểm chung của Việt Nam, việc xây đập, cùng với nhiều năm thay đổi khí hậu, góp phần gây “hạn hán tồi tệ trong 90 năm” trong năm 2016 và gây thiệt hại mùa màng năm 2019.  Hiện nay, Lào cũng có những lo ngại tương tự.  Chỉ vài ngày trước đây, các phúc trình nghi ngờ rằng các đập của Trung Hoa xả nước trong mùa khô, ảnh hưởng tiêu cực đến kỹ nghệ đánh cá và nông nghiệp ở Lào.  Vì các quốc gia khác nhau ở dọc theo Mekong nhìn việc xây đập từ nhiều góc cạnh khác nhau, việc tranh luận về việc sử dụng nước đã biến thành những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia trong những năm gần đây.

Việc thiếu nỗ lực cộng tác và hợp lý của các quốc gia liên hệ đã đưa đến việc thành lập khuôn khổ Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)) do Trung Hoa cầm đầu trong năm 2016.  LMC có ý định giải quyết một số vấn đề ẩn tàng vì không có các quy định pháp lý quốc tế mạnh mẽ và các cơ chế thi hành.  Lý lẽ của việc phát triển LMC nên được phân tích như thế nào?  Trong khi nhiều người phê bình có thể xem nó như tất phải thất bại, đây có phải là một phân tích công bằng hay không?

Vấn đề nước

Đối với trên 200 con sông xuyên quốc gia như sông Mekong, Hiệp hội Luật Quốc tế (International Law Association (ILA)) hệ thống hóa luật dùng nước trong Quy định Sử dụng Nước Sông Quốc tế Helsinki (Helsinki Rules on the Uses of the Waters of International Rivers), được mô tả như sau:

“Mỗi quốc gia trong lưu vực có quyền, bên trong lãnh thổ của mình, chia sẻ hợp lý và công bằng trong việc sử dụng nước có ích lợi của một lưu vực quốc tế.”

Tuy thế, quy định Helsinki vẫn là luật mềm – một luật không có ràng buộc pháp lý.  Có 3 đặc tính then chốt, đối với các điều kiện địa chất, thủy học và kinh tế của sông Mekong và các quốc gia duyên hà, làm phức tạp thêm cho việc hợp tác xuyên quốc gia.  Trước hết, con số quốc gia duyên hà tương đối lớn mà sông Mekong chảy qua đưa đến chi phí giao dịch cao.  Nguồn của sông Mekong ở Tibet (Tây Tạng), Trung Hoa, có tên là Lancang.  Sông chảy về phía nam, qua Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam, theo thứ tự nầy.  Con số lớn các quốc gia duyên hà có nghĩa là bất cứ việc thương thảo thành công nào cần phải có những nhượng bộ đáng kể, bao gồm nhiều quyền lợi quốc gia.  Sự đối đầu giữa vô số quyền lợi có khuynh hướng cản trở tiến bộ.

Đặc tính then chốt thứ hai tạo thêm các chướng ngại để quyết định tập thể là bản chất thủy học theo mùa của sông Mekong.  Mưa mùa tây nam hàng năm xảy ra từ tháng 6 đến tháng 10 tạo ra nhịp lũ, tạo nên đặc tính mùa giữa mùa lũ và mùa nước thấp, do sự biến đổi của dòng chảy.  Hầu hết các quốc gia hạ lưu Mekong – tất cả các quốc gia kể trên ngoại trừ Trung Hoa – nẫy nở theo đặc tính mùa của Mekong, vì nhịp lũ của Mekong rất cần thiết để duy trì thủy sản phong phú.  Mặt khác, Trung Hoa muốn có một dòng chảy ổn định hơn để duy trì việc sản xuất thủy điện ổn định qua việc kiểm soát các đập thủy điện.  Nhu cầu khác biệt đối với đặc tính mùa của sông tạo nên xung đột căn bản.

Thứ ba, các quốc gia duyên hà có các mục tiêu kinh tế khác nhau liên quan đến sông Mekong.  Các căng thẳng thủy chánh trị dâng cao với những mức phát triển khác nhau bên trong lưu vực.  Đối với khu vực Mekong, các quốc gia ở trong các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, ngụ ý rằng các mục tiêu phát triển của họ liên quan đến sông có ít chồng chéo.  Thí dụ, các quốc gia chú trọng đến nông nghiệp muốn có một dòng chảy ổn định; tuy nhiên, như đã nói ở trên, các quốc gia dựa hoàn toàn vào thủy sản vẫn thích nhịp lũ tự nhiên.  Việc sử dụng nước sông Mekong khác nhau của các quốc gia dễ dàng đưa đến tình huống sau đây: thái độ của một quốc gia tạo nên những hậu quả để đạt mục tiêu phát triển của mình, thường ảnh hưởng tiêu cực đến các quốc gia ở hạ lưu.  Điều nầy là một vấn đề thích đáng, vì Trung Hoa, quốc gia ở thượng lưu, nắm quyền kiểm soát đối với việc sử dụng sông của các quốc gia ở hạ lưu.

Trên căn bản, có 2 đánh đổi tóm lược xung đột chung quanh sông Mekong. (1) Đánh đổi giữa quyền lợi quốc gia, nơi quyết định của một quốc gia ở thượng lưu không tránh khỏi các hậu quả đáng kể cho các láng giềng duyên hà ở hạ lưu. (2) Đánh đổi giữa các mục tiêu phát triển, rất khác nhau và đưa đến bất đồng về cách sông được cai quản.  Không có hợp tác, hai đánh đổi căn bản nầy sẽ kéo dài và thiên vị các quốc gia ở thượng lưu.

Khuôn khổ Hợp tác Lancang-Mekong

Ủy hội Sông Mekong

Để phối hợp việc phân phối nguồn nước và đối phó với 2 đánh đổi nầy, hợp tác khu vực ló dạng - Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) ra đời trong thập niên 1990s.  MRC bao gồm các quốc gia hạ lưu Mekong ngoại trừ Myanmar: Cambodia, Lào, Thái Lan, và Việt Nam.  Từ lúc hình thành, MRC phần lớn đóng vai trò “tham vấn, tạo sự dễ dàng và thu thập tin tức.”  Nhiều quan sát viên bày tỏ thất vọng với phạm vi hạn chế của MRC, vì nó không có quyền hạn chánh trị hay tài nguyên để thi hành tầm nhìn của mình.  Tuy nhiên, tôi lập luận rằng MRC có một vai trò không thể thiếu trong việc phối hợp các quốc gia, và lót đường cho việc cộng tác trong tương lai.

Đóng góp chánh của MRC là hệ thống thu thập dữ kiện thống nhất.  MRC thu thập rất nhiều dữ kiện thủy học, đa dạng sinh học, phẩm chất nước, và kinh tế dọc theo sông Mekong.  Diễn đàn thu thập dữ kiện thống nhất nầy rất quan trọng, vì những dữ kiện nầy sẽ được dùng để điều chỉnh một cách chính xác các ảnh hưởng của các chương trình của chánh phủ trong tương lai.  Ngoài tất cả các tranh chấp nước quốc tế, sông Mekong là một vùng nước duy nhất không bị tranh chấp dữ kiện.  Điều nầy tạo thêm bằng chứng rằng MRC đã đóng góp, ít nhất ở ngoài lề, trong việc ổn định tình hình.

Khuôn khổ Hợp tác Lancang-Mekong và trường hợp áp dụng

Sau khi được thành lập vào năm 2016, khuôn khổ LMC do Trung Hoa cầm đầu tuyên bố 3 trụ cột hợp tác: các vấn đề chánh trị và an ninh; phát triển khả chấp và kinh tế; và trao đổi xã hội, văn hóa và dân-với-dân.  Trong Thông cáo thứ 2nd, LMC xác định thêm 5 lãnh vực ưu tiên then chốt: nối kết, khả năng sản xuất, hợp tác kinh tế xuyên biên giới, thủy lợi, nông nghiệp, và giảm nghèo.

MRC khởi đầu với hợp tác tiểu qui mô mà không chạm đến cơ cấu phân phối bên trong mỗi quốc gia.  Thêm vào việc tham vấn và thu thập dữ kiện của MRC, khuôn khổ LMC cung cấp các cơ hội vững chắc cho các quốc gia để “xây dựng việc kết hợp không ngừng gia tăng.”  MRC đã giới thiệu khái niệm về việc tạo sự ràng buộc tài nguyên để biến đổi cơ cấu thúc đẩy trong nước của mỗi quốc gia.  Nó gồm có hình thành những nhóm quyền lợi vượt qua biên giới quốc gia, vì ràng buộc tài nguyên mang lợi cho một số nhóm quốc tế.  Khuôn khổ LMC có những chương trình để giải quyết những ràng buộc nầy.

Những cấu trúc thúc đẩy riêng biệt của Trung Hoa và các quốc gia ở hạ lưu Mekong ra sao?  Làm thế nào để các dự án được dự trù thích hợp với câu chuyện nầy?

Sự kết hợp với hạ lưu Mekong của thị trường điện Trung Hoa

Từ thập niên 1980s, Trung Hoa đã xây 6 đập thủy điện lớn trên dòng chánh sông Lancang.  Sáu đập nầy sản xuất 15.000 MW điện mỗi năm.  Hiện nay, hầu hết số điện nầy được đưa đến các thành phố ven biển ở đông nam chẳng hạn như Guangzhou (Quảng Châu), nơi có nhu cầu cao mà không có đủ tài nguyên để sản xuất điện.  Kể từ khi việc cải tổ công ty trong năm 2002, Tổ hợp Điện Quốc gia độc quyền được tái cấu trúc để khuyến khích cạnh tranh thị trường.  Qua việc cải tổ nầy, tổ hợp làm chủ chuỗi đập Lancang, Công ty Huaneng, vẫn tìm kiếm cơ hội đầu tư để tài trợ cho các đập thủy điện trong các quốc gia Mekong ở hạ lưu, trong khi nhập cảng một phần điện sản xuất được vào Trung Hoa để đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng.

Nhu cầu đầu tư thủy điện của các quốc gia hạ lưu Mekong

Trong vái thập niên qua, các quốc gia ở hạ lưu Mekong có tăng trưởng kinh tế cao.  Điều nầy tạo thêm nhu cầu tiêu thụ điện.  Nhưng mức tiêu thụ điện trung bình cho mỗi đầu người chỉ bằng 2/3 mức trung bình của các quốc gia đang phát triển: Nghèo điện rất phổ biến trong vùng nầy.  Một giải pháp đòi hỏi tư bản hóa tiềm năng thủy điện của sông Mekong.  Theo Phúc trình về Tình trạng Lưu vực, tiềm năng thủy điện được ước tính khoảng 30.000 MW, một sự đóng góp đáng kể so với tổng số nhu cầu điện 100.000 MW, được tiên đoán cho năm 2020.

Để tài trợ cho các dự án xây cất thủy điện nầy, nhiều quốc gia dựa vào Trung Hoa để hổ trợ tài chánh và xây cất.  Tính đến năm 2013, Trung Hoa đã tài trợ, phát triển, và xây cất trên 53 đập ở Myanmar, Lào, Cambodia, Việt Nam và Thái Lan.  Đi tới trước, LMC có kế hoạch để đẩy mạnh tiến trình kết hợp lưới điện giữa các quốc gia Lancang-Mekong, “tiến đến việc thiết lập một thị trường điện khu vực kết hợp.”

Chia sẻ dữ kiện

Mặc dù hệ thống thu thập dữ kiện của MRC theo dõi tất cả các khía cạnh có thể thấy của hạ lưu vực Mekong, vẫn còn có một biến số không thể kiểm soát – kiểm soát nước của Trung Hoa ở thượng lưu.  Từ lúc khởi đầu, cần phải làm rõ rằng Lancang, hay thượng lưu Mekong, chỉ đóng góp 16% tổng số dòng chảy trong năm.  Đa số nước đến từ các phụ lưu trong hạ lưu vực Mekong, nhất là trong mùa mưa.  Điều đó nói rằng, trong mùa khô, thành phần nầy thay đổi một ít – nước từ tuyết tan chiếm phần lớn dòng chảy khi mưa ít – và quyết định của Trung Hoa để giữ hay xã nước được cảm nhận rõ hơn ở các quốc gia Mekong ở hạ lưu.

Trung Hoa không có động lực để chia sẻ dữ kiện dòng chảy với các quốc gia ở hạ lưu.  Tuy nhiên, minh bạch rất quan trọng trong việc tạo sự tin cậy hỗ tương với các quốc gia ở hạ lưu Mekong, và chia sẻ dữ kiện thủy học và điều hành thủy điện là bước đầu để khuyến khích hợp tác lâu dài.

Mô hình thủy học đã xác nhân rằng các đập thủy điện ở thượng lưu làm gia tăng đáng kể lưu lượng trung bình trong mùa nước thấp, và giảm rất nhiều trong mùa mưa.  Những thay đồi nầy sẽ thay đổi thời điểm của dòng chảy theo mùa và ảnh hưởng các vùng khô và ngập, tất cả sẽ ảnh hưởng đến năng suất của thủy sản.  Để đối phó, kế hoạch 5 năm của LMC kêu gọi tăng cường việc chia sẻ tin tức và dữ kiện, và nâng cao việc quản lý tai họa lũ lụt và hạn hán khẩn cấp sông Lancang-Mekong.

Cộng tác: nhìn tới trước và thấy hình ảnh to lớn

Mặc dù Trung Hoa đã thăm dò để đo lường hiện tình của các quốc gia Mekong khác trong việc đối phó với hậu quả tiêu cực do Trung Hoa gây ra, họ có động lực kinh tế rộng lớn để duy trì mối liên hệ êm thấm với các quốc gia ở hạ lưu Mekong cho cấu trúc sản xuất trong tương lai.  Với chi phí nhân công ở trong nước gia tăng, Trung Hoa đang ở trên quỹ đạo đi lên trong chuỗi giá trị toàn cầu.  Trung Hoa đang tách xa dần việc chế biến cần nhiều công nhân để đến các kỹ nghệ cần nhiểu kiến thức và vốn.  Để Trung Hoa chuyển các bậc thấp hơn của chuỗi cung cấp đến các nước láng giềng kém phát triển hơn, họ có động lực để hỗ trợ khả năng sản xuất của các quốc gia nầy và giảm các chướng ngại mậu dịch và tổ chức.

Tuy nhiên, vì nhiều quốc gia Mekong khác dựa vào Trung Hoa để được trợ giúp hạ tầng cơ sở và tài chánh, Trung Hoa có thể lợi dụng hệ thống lệ thuộc phức tạp nầy để theo đuổi các mục tiêu của mình với sông Mekong.  Lằn ranh giữa việc thực hiện các quyền lợi năng lượng quốc gia và duy trì mối liên hệ tích cực với các láng giềng ĐNA vẫn còn.  Khuôn khổ LMC đã đưa các tranh chấp đúng hướng, qua các nỗ lực để thiết lập các quyền lợi hội tụ trên khắp các quốc gia Mekong.  Các chương trình mới cho thấy thành công lúc đầu trong việc tìm kiếm các lãnh vực chẳng hạn như kết hợp lưới điện để hợp tác.  Đi tới trước, các quốc gia thành viên nên thiết lập một cơ chế dàn xếp tranh chấp minh bạch hơn để sử dụng khi xung đột xảy ra, chẳng hạn như những bất đồng chung quanh các đập của Trung Hoa và việc canh tác và thủy sản của Việt Nam và Lào ở hạ lưu. 

.