Sunday, May 8, 2022

ĐÊ CAO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Ở VIỆT NAM MANG LẠI LỢI ÍCH XÃ HỘI VÀ ĐAU ĐỚN MÔI TRƯỜNG

(High dykes in the Mekong Delta in Vietnam bring social gains and environmental pains)

Charles Howie – Bình Yên Đông lược dịch

Aquaculture News – October 2005

 

Những thứ ruộng ngập nước cung cấp.

 

Thay đổi kỹ thuật nông nghiệp và dân số gia tăng trong 30 năm qua đã đưa đến những thay đổi đáng kể trong việc quản lý đất và nước trong Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam (ĐBSCL).  Nhiều nơi ở đồng bằng nay được bảo vệ hoàn toàn bởi các hệ thống đê cao để tránh ngập lụt hàng năm và nông dân sống bên trong có thể canh tác 3 mùa một năm, cũng như nuôi gia súc và cá.  Các đê cao đã mang lại một số lợi ích kinh tế, một số bất lợi môi trường nhưng, cho đến nay, một số lợi ích xã hội không được ghi nhận.  Bài viết ngắn nầy trình bày sơ khởi những điều được tìm thấy từ chuyến công tác được thực hiện với nhân viên của Đại học An Giang (An Giang University (AGU)) từ 2002 đến 2004.  Nó bắt đầu bằng cách xác định những thay đổi đã xảy ra trong ĐBSCL trong 30-35 năm qua.  Nó mô tả một số thuận lợi và bất lợi của đê cao và đề nghị làm thế nào để có thể duy trì những cái lợi trong khi làm giảm một số bất lợi.

ĐBSCL nằm trong vành đai mưa mùa nhiệt đới.  Nó có một diện tích khoảng 6 triệu hectares, 2/3 nằm ở Việt Nam, phần còn lại ở Cambodia.  Mưa mùa xảy ra giữa tháng 6 và 12, và một phần của thời gian nầy, hầu hết đồng bằng được bao phủ bởi nước lũ.  Ở cuối ĐBSCL, gần biên giới Cambodia, nước mưa nầy được cộng thêm bởi nước từ sông và kinh đào chảy tràn bờ.  Ở một vài nơi trong tỉnh An Giang ở cuối ĐBSCL, những vùng đất thấp bị ngập dưới 2-3 m nước từ 3 hay 4 tháng kể từ tháng 8 về sau.  Mỗi m3 nước sông chứa đến ½ kg phù sa, bùn và chất hữu cơ.  Phân bón thiên nhiên nầy và đất đã tạo nên đồng bằng và làm cho đất phì nhiêu.  Tuy nhiên, ở nhiều nơi trong ĐBSCL đất có tiềm năng hay thực sự bị nhiễm phèn và nước mặn ở ven biển xâm nhập vào ĐBSCL với thủy triều.  Cả hai yếu tố nầy có ảnh hưởng tiêu cực đối với việc trồng lúa.

 

Một ngư dân với bẫy lương trong đất ngập nước.

 

Từ thập niên 1980s, Việt Nam đã đi từ một quốc gia nhập cảng lúa để trở thành một quốc gia xuất cảng lúa lớn thứ 2nd trên thế giới.  Ngày nay, ĐBSCL là vựa lúa của Việt Nam.  Nó sản xuất trên ½ số lúa của quốc gia, cũng như một số lớn trái cây, rau cải và thủy sản tự nhiên và nuôi.  Điều nầy xảy ra vào lúc sự tiêu thụ ở trong nước gia tăng.  Dân số gia tăng nhưng người dân có nhiều lúa để ăn.  Ở đây, nông dân gieo hạt bằng cách rãi trên đất trước khi bắt đầu mùa mưa, hạt lúa nẩy mầm và cây lúa lớn lên, đi theo với mực nước lũ.  Sau đó, cây lúa trổ bông, đơm hạt và khi nước lũ rút xuống, lúa được thu hoạch.  Điều nầy sản xuất 1 hay 2 tấn mỗi hectare, mất 6 tháng để trồng và chỉ có 1 mùa được thu hoạch mỗi năm.  Tuy nhiên, cần ít nhập kiện và chi phí cho nông dân rất thấp.

Kể từ cuối thập niên 1960s Việt Nam trải qua một cuộc cách mạng nông nghiệp.  Trong thập niên 1960s, những nhà tạo giống lúa ở Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (International Rice Research Institute (IRRI)) ở Philippines bắt đầu sản xuất loại lúa ‘IR’, chằng hạn như IR5 và IR8.  Các nhà khoa học nghiên cứu ở Việt Nam thích ứng chúng cho các điều kiện ở địa phương và chúng có mặt ở Việt Nam từ năm 1966.1  Những loại lúa nầy có thân ngắn, cần 90 đến 100 ngày từ khi gieo đến khi gặt và có năng suất cao (5 tấn một hectare là bình thường, 8 tấn thì không lạ).  Sự khác biệt lớn là những cây lúa nầy được trồng bằng thủy nông trong mùa khô.  Để làm thế, các đê đã được nâng cao chung quanh ruộng lúa.  Ban đầu, chúng được làm để giữ nước thủy nông ở bên trong ruộng lúa, nhưng nó có mục đích thứ hai: bắt đầu mùa lũ trong tháng 7 và 8, các đê trì hoãn nước lũ đổ vào ruộng lúa, vì thế kéo dài mùa canh tác.  Trong năm 2004, một nhóm nông dân ở Chợ Mới, một huyện của tỉnh An Giang, nói với tôi làm thế nào trong năm 1978 vụ lúa của họ bị đe dọa bởi lũ nghiêm trọng và sớm xảy ra trong năm đó.  Họ được bảo để thu hoạch lúa chưa chín, nhưng thay vì làm thế họ đã xé một phần của bờ kế cận và đấp lên đê.  Họ đã nâng cao đê của họ không chỉ 1 lần mà 2 lần, họ đã cứu mùa lúa đó, nhưng ảnh hưởng dài hạn rất bi thảm.  Nông dân gọi những đê nầy là ‘đê tháng 8’.  Từ đây, bước kế tiếp là bơm nước lụt ra khỏi ruộng lúa trong tháng 12 và rồi gieo mùa đầu tiên sớm hơn.  Điều nầy cho phép nông dân đi từ canh tác 1 mùa lúa dài hạn, năng suất thấp đến 2 mùa ngắn hạn, năng suất cao mỗi năm, hay 1 mùa lúa và mùa thứ hai với loại hoa màu khác.  Bờ đê cũng cung cấp nơi để trồng cây và xây nhà ở.  Ngày nay (2005) có lẽ có dưới 1.000 hectares ruộng lúa ngập nước còn lại trong tỉnh An Giang,2 nơi trước đây chỉ có kỹ thuật có thể làm.


Nông dân với ruộng lúa 2 vụ bên trong đê tháng 8.

 

Vấn đề cho nông dân là thỉnh thoảng mùa thứ hai bị phá hủy vì nước lũ dâng lên sớm và tràn vào ruộng lúa trước khi có thể thu hoạch.  Ở một số nơi trong tỉnh An Giang, điều nầy vẫn còn xảy ra hiện nay, nhưng từ khi 1996 đê được nâng cao thêm.  Những đê cao nầy giữ tất cả nước lũ và cho phép một hệ thống làm mùa liên tục: 3 mùa lúa mỗi năm, ngay cả 7 mùa trong 2 năm.  Không chỉ trồng lúa liên tục, nhưng cũng có những thay đổi khác: cá có thể được nuôi mà không cần ao, chỉ cần lưới bao chung quanh để giữ cá ở bên trong trong khi ngập lụt; cây ăn trái có thể trồng trong đồng ruộng mà không bị rủi ro bị ngập trong mùa lũ; gia súc có thể được nuôi trong đồng ruộng, vì thế giảm áp lực không gian trên bờ.  Hầu hết, nông dân có vụ mùa quanh năm và một lợi tức đều đặn và người không có đất cũng có công ăn việc làm.

Một nhóm giảng sư Khoa Nông nghiệp của Đại học An Giang làm việc với tôi trong năm 2004 để điều tra ảnh hưởng xã hội của việc nâng cao đê.  Làm việc với Ủy ban Nhân dân và sử dụng phương pháp PRA, chúng tôi tổ chức một số buổi họp nhóm để nghe ý kiến của người dân về đê cao.  Chúng tôi yêu cầu các nhóm dùng xếp hạng giàu có để giúp chúng tôi xác định nơi người dân có mức giàu có khác nhau, tình trạng sức khỏe khác nhau và mức đến trường khác nhau.  Sau đó, chúng tôi phỏng vấn các gia trưởng và nghe quan điểm của họ, cùng với quan điểm của một số viên chức y tế và giáo dục, mặc dù phần công tác nầy không hoàn tất.  Chúng tôi thực hiện việc phỏng vấn ở một xã trong huyện Chợ Mới và 2 xã khác trong tỉnh, một mới vừa hoàn tất đê cao và một đang thảo luận việc xây đê cao.

Ở Chợ Mới, người dân báo cáo một số lợi ích xã hội, nhưng lo ngại về những ảnh hưởng khác, nhất là đối với môi trường, khi tất cả nước lũ bị ngăn không cho chảy vào đồng ruộng:

·                    Giáo dục.  Giáo dục của trẻ con được thực sự nâng cao, với việc đi học được cải thiện; trẻ con ở trường lâu hơn và đạt tiêu chuẩn cao hơn.  Trong mùa lũ, đi đến trường bằng đường bộ dễ hơn bằng thuyền.  Cha mẹ dành ít thời giớ hơn để đưa con đến trường (một trở ngại cho việc đi học) và một số cha mẹ giảm hay ngưng di chuyển theo mùa để tìm việc, vì thế giáo dục của con cái ít bị gián đoạn.  Thái độ của cha mẹ đối với việc học hành được cải thiện và chánh quyền địa phương cho nó một ưu tiên cao hơn; và giáo viên sẵn lòng đi dạy ở đó.

·                    Y tế.  Trước đây, tiêu chảy là một vấn đề trong mùa lũ, nhưng điều nầy đã giảm.  Tuy nhiên, sốt xuất huyết vẫn còn là một vấn đề.  Việc tiếp cận với các cơ sở y tế dễ dàng hơn dọc theo đê cao và kế hoạch hóa gia đình thích hợp hơn; cha mẹ có thể đưa con đi chích ngừa, trong khi các toán y tế trước đây đi đến nhà.  Tuy nhiên, có lo ngại chung và rộng rãi về mệt mõi và áp huyết cao, nhất là người lớn tuổi.  Một người trả lời rằng 40% đàn bà và 60% đàn ông bị cao máu.  Áp huyết cao được cho là do việc sử dụng thuốc trừ sâu gia tăng.  Ngày nay, có thể canh tác quanh năm, nhưng điều nầy đã lấy đi ‘thời gian nghỉ ngơi’ truyền thống trong mùa lũ và nông dân báo cáo áp lực và mệt mõi.  Vì thu hoạch từ lúa giảm nên áp lực để làm việc nhiều hơn gia tăng.

·                    Kinh tế.  Có nhiều công việc hơn, nhưng gia đình có khuynh hướng thu lợi thay vì mướn nhân công.  Nông dân đã đa dạng hóa và có nhiều sản phẩm để bán hơn trước.  Thu nhập gia tăng.  Tuy nhiên, năng suất giảm và cần tăng phân bón để duy trì chúng, đẩy chi phí lên cao.  Khoảng cách giữa chi phí cho nhập kiện và thu nhập từ việc bán sản phẩm thu hẹp và nông dân cần làm việc nhiều hơn và lâu hơn để duy trì lợi tức của họ.  Tuy nhiên, giao thông tốt hơn nhiều và họ dễ tiếp xúc với thị trường.  Trước đây họ có ít chọn lựa để bán sản phẩm của họ cho lái buôn, nay họ có nhiều hơn.  Người nghèo và không có đất có thể tệ hơn.  Trước đây, trong mùa lũ, họ đi ra đồng và bắt cá để ăn và bán, điều nầy không còn xảy ra nữa; lợi tức của một ngày lao động thì thấp hơn một ngày đi đánh cá.  Đánh cá là một cơ hội của họ để tiết kiệm, nhưng điều đó không còn nữa.

·                    Môi trường.  Thay đổi quan trọng là nước lũ không còn chảy vào đồng ruộng từ sông và kinh đào.  Điều nầy không cho đất có một lớp bùn và chất hữu cơ hàng năm.  Có nhận thức rằng đất nay khô hơn trước và ‘kiệt quệ’.  Năng suất giảm xuống và để duy trì, phân bón đã tăng gấp đôi trong những năm gần đây, thí dụ, trong một số trường hợp từ 25 kg/công đến 50 kg/công3.  Điều nầy đúng cho nhiều loại hoa màu, không chỉ cho lúa.  Với việc mất nước lũ, nguồn cung cấp cá tự nhiên và các ‘hàng hóa miễn phí’ khác vào đồng ruộng đã ngưng.  Thí dụ, trước đây cá nhỏ gọi là cá linh có rất nhiều trong nước lũ.  Nó có thể được lưới với số lượng lớn và làm mắm trong các hủ lớn để cung cấp một dung dịch giàu chất đạm gọi là nước mắm.  Những gia đình nghèo có thể ăn với cơm, rau và một vài cá nhỏ trong bữa ăn.  Nông dân giàu có có thể dùng cho những món khác, nhưng đối với các nông dân nghèo và những nhà không có đất, đây là một sự mất mát nghiêm trọng.  Người dân ăn ít cá hơn trong ẩm thực của họ.

 

Hình 3.  Nông dân tưởng tượng cách hoạt động của đê cải thiện.

 

Cần thêm chuyến công tác và phân tích trước khi có thể rút ra kết luận.  Tuy nhiên, có một nhận thức mạnh mẽ ở giai đoạn nầy rằng những lợi ích y tế và giáo dục từ việc nâng cao đê và bằng chứng rằng những lợi ích kinh tế ban đầu thì không khả chấp.  Người dân lo ngại về việc sử dụng hóa chất nhiều hơn trước và ảnh hưởng của nó đối với đất, nước và chính họ.  Trong một số người dân, kể cả giới chức, họ nói đến sự cần thiết để phá đê và cho phép nước lũ trở lại đất.  Thực hiện điều nầy sẽ là một thách thức và cần phải hòa giải giữa các nhóm quyền lợi khác nhau.  Nông dân trồng lúa có thể có lợi, nhưng người trồng cây ăn trái sẽ bị thiệt hại.  Cái cần thiết là một số hệ thống có thể giữ lại những lợi ích y tế và giáo dục, trong khi giảm các bất lợi môi trường.  Một giải pháp bán phần có thể là phá đê ở một số nơi, nhưng giữ một loạt đường đi bên trên mức lũ.  Lợi ích đối với giáo dục, y tế và giao thông có thể được duy trì, trong khi nước lũ có thể phục hồi độ phì nhiêu của đất và cung cấp tiếp xúc hàng hóa miễn phí cho người nghèo, như được đề nghị trong Hình 3.

Chú thích

1           Vo-Tong Xuan and Shigeo Matsui (1998) Development of Farming Systems in the Mekong Delta of Vietnam Ho Chi Minh City: Ho Chi Minh Publishing House

2           Vo-Tong Anh, personal communication with the author, April 2005

3           one công is a tenth of a hectare or 1,000m²

 

Ý KIẾN: ĐẤT NGẬP NƯỚC ĐỒNG LỤT CỦA MEKONG – ĐANG BIẾN MẤT?

(Opinion: Floodplain wetlands of the Mekong – going, going, gone?)

Ding Li Yong and Khwankhao Sinhaseni – Bình Yên Đông lược dịch

The Third Pole – April 11, 2022

Một cặp sếu đầu đỏ, đã sụt giảm nhanh chóng trong đồng lụt Mekong

vì mất nơi cư trú và xáo trộn.

[Ảnh: Harshvardhan Sekhsaria]

 

Rừng đầm lầy, bãi sậy, đồng cỏ ngập nước của hạ lưu vực Mekong hình thành một trong những vùng sinh học quan trọng nhất trên địa cầu.  Nhưng những hệ sinh thái nầy đang biến mất ở mức đáng báo động.

Một thay đổi nhanh chóng và không thể đảo ngược đang xảy ra trong hạ lưu vực Mekong.  Các đồng cỏ và đất ngập nước nước ngọt đang biến mất – những hệ sinh thái kỳ lạ từng hỗ trợ cho nhiều cộng đồng động vật có vú lớn và chim chóc nẩy nở.  Chúng gồm có sếu đầu đỏ kỳ lạ; già đẫy, một trong những chủng loại cò lớn nhất trên thế giới; và ô tác Bengal, một loại chim lớn như gà nổi tiếng với kiểu bay lao xuống.  Ngày nay, chúng là những chim lớn có nguy cơ tuyệt chủng nhất.  Trong khi đó, nai, trâu rừng và mèo rừng đã hoàn toàn tuyệt giống trên khắp hầu hết khu vực bởi sự kết hợp của áp lực săn bắn và mất nơi cư trú.

Ba trăm năm trước, đồng bằng Mekong là một vùng rừng đầm lầy bao la, bãi sậy và đồng cỏ ngập nước hình thành một vùng đất ngập nước nội địa khổng lồ có kích thước gần bằng Lebanon, được biết như “Đồng Sậy”.  Từ đó, đất ngập nước có trên ½ kích thước, và đồng bằng nay là biển của canh tác và nuôi cá.

Ở xa về phía thượng lưu, vùng Isaan ở đông bắc Thái Lan là một vựa lúa quan trọng, cũng như những vùng trên khắp biên giới ở Lào.  Đồn điền cao su, chuối và các hoa màu có giá trị khác đang gia tăng trên khắp vùng.  Phần nầy của đồng lụt Mekong từng được che chở trong rừng khô thay lá, bãi sậy và đồng cỏ ngập nước theo mùa.

Ướt sũng với chất dinh dưỡng từ nhịp lũ mưa mùa, các đồng lụt Mekong phì nhiêu lạ thường.  Các hệ sinh thái Mekong hình thành trung tâm của điểm nóng đa dạng sinh học Indo-Burma, một trong những vùng sinh học quan trọng nhất trên trái đất.  Các chủng loại mới được khám phá liên tục: khoảng 200 chủng loại cây cối và thú vật mới được ghi nhận trong năm 2020.  Trong số các chủng loại được nhận ra nhiều nhất của Mekong là sếu đầu đỏ, chân bơi (masked finfoot) (một loại vịt hay lẫn tránh), cá sấu Siamese và cá tra dầu Mekong, cũng như trâu rừng có lẽ đã diệt chủng.

Nguồn: The Third Pole

Sự phì nhiêu đã cho lưu vực đa dạng sinh học phong phú như thế cũng là lý do nhiều vùng lớn của đồng lụt ở Thái Lan, Lào và Cambodia nay là một biển đồng lúa không chấm dứt.

Ở mọi nơi dọc theo Mekong, đất ngập nước bao la hiện hữu từng mảnh.  Chúng ta có thể thấy tàn tích của những đầm lầy, bãi sậy và rừng đầm lầy ở Công viên Quốc gia Tràm Chim ở Việt Nam, vùng bảo vệ Boeng Prek Lapov và Anlung Pring ở Cambodia và đất ngập nước Xe Champhone và Bueng Kiat Ngong ở Lào, và các nơi khác.

Ở Thái Lan, một cái nhìn của những nơi nầy trước đây có thể được tìm thấy ở hồ Nong Bong Khai và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nam Kham, nơi là một vùng chật chội nhưng vùa được phục hồi của bãi sậy ven sông đầy dẫy chim di cư chẳng hạn như chim chích sậy và oanh cổ đỏ.

 

Đất ngập nước ở Khu Bảo tồn Nam Kham ở Thái Lan, được phục hồi bởi nhóm bảo tồn ở địa phương Nhóm Chim Lanna, cho một cái nhìn của cái đất ngập nước đồng lụt Mekong từng có. [Ảnh: Nam Kham Nature Reserve]

 

Sụt giảm của sếu đầu đỏ lạ thường

Chủng loại chim tiêu biểu nhất của đồng lụt Mekong có lẽ là sếu đầu đỏ.  Sếu là cư dân duy nhất ở Đông Nam Á (ĐNA), nâng cao một phân chủng đặc thù, sếu đầu đỏ từng có mặt rộng rãi trong các vùng đất thấp của khu vực, kéo dài về phía bắc đến Yunnan (Vân Nam), Trung Hoa, nơi nay nó bị tuyệt chủng.

Những con sếu uy nghi nầy sinh sống trong rừng khô thay lá và liên quan đến đất ngập nước dọc theo đồng lụt của Mekong và các phụ lưu trong mùa mưa.  Đến mùa khô, chúng di chuyển xuống hạ lưu để định cư ở đất ngập nước dọc theo hồ Tonle Sap ở Cambodia, cũng như vài đất ngập nước ở phía trên đồng bằng sông Cửu Long giáp với biên giới Cambodia-Việt Nam.

Số sếu đầu đỏ đã sụt giảm đều đặn trong lưu vực Mekong, với dưới 200 đếm được ở Cambodia và Việt Nam trong năm 2021, một sự sụt giảm 80% kể từ năm 2013.  Không rõ nếu sếu còn ở Lào.  Số sếu ở Thái Lan rất nhỏ, bắt nguồn từ chim được thả trong tỉnh Buriram.

Sếu đối mặt với nhiều đe dọa, từ các hoạt động canh tác không khả chấp trong tầm bay của chúng đến mức vỡ tổ cao vì xáo trộn của việc làm tổ và thú ăn thịt.  Cùng với sự xáo trộn nầy, sự mất mát nhanh chóng và lớn lao của đất ngập nước ở hạ lưu Mekong có lẽ là lý do quan trọng nhất cho sự sụt giảm nhanh chóng của chim trong vài thập niên qua.

Vì sao đất ngập nước đồng lụt đang mất?

Mekong chảy xuống từ cao nguyên Qinghai-Tibet (Thanh Hải-Tây Tạng) ở Trung Hoa, nơi nó được gọi là Lancang.  Sông và nhiều phụ lưu uốn khúc gần 4.000 km qua đồi núi và đất thấp của lục địa ĐNA, nuôi dưỡng nhiều vùng lớn ở Lào, Cambodia, Myanmar và Thái Lan trước khi đổ ra Biển Đông trong một vùng đồng bằng châu thổ kéo dài từ Cambodia đến Việt Nam.

Rất nhiều đã được viết về ảnh hưởng của các đập lớn trên Mekong.  Việc xây cất các siêu đập đã thay đổi lớn lao thủy học của sông.  Trên 10 đập đã được xây trên thượng lưu Mekong trong tỉnh Yunnan, Trung Hoa.  Trong lúc đó, đập Xayaburi và Don Sahong đầy tranh cãi trong vùng Si Phan Don trên biên giới Lào-Cambodia, cũng như các đập được dự trù trên sông Tonle Sap, được mong đợi sẽ làm thay đổi thêm.

Việc điều hành các đập lớn trên Mekong gây nên lũ lụt trái mùa và làm giảm lưu lượng của sông, tạo căng thẳng cho hệ sinh thái dựa vào nước lũ, và chủng loại đã phát triển cùng với nhịp của sông.  Chim chóc dựa vào các đảo và cồn cát dọc theo sông để làm tổ đã giảm rất nhiều hay nay đã bị tuyệt chủng ở địa phương.  Nhạn sông, nhạn yếm đen và nhạn Indian, những chủng loại ven sông cổ điển thường xảy ra dọc theo Mekong và một số phụ lưu, nay phần lớn là chuyện của quá khứ.  Chim te mào và dô nách (pratincole), mặc dù chịu đựng hơn một ít, cũng ở dưới quyền của lưu lượng trái mùa làm ngập nơi sinh sống ven sông dễ tổn thương.

 


Đánh cá quá mức, ô nhiễm, hủy hoại nơi cư trú và xây đập cũng làm sụt giảm nghiêm trọng số di ngư trong Mekong.  Trọng lượng của cá bắt  từ sông được ước tính là 4,4 triệu tấn mỗi năm và có trị giá 17 tỉ USD.  Nếu số cá nầy sụp đổ, các quốc gia Mekong chẳng hạn như Cambodia có thể mất nguồn chất đạm và sinh kế quan trọng của hàng triệu người.

 

Mekong ở Si Phan Don trên biên giới Cambodia-Lào. [Ảnh: Ding Li Yong]

Làm thế nào để bảo vệ đồng lụt Mekong

Rừng và đất ngập nước còn lại của Mekong đang lâm nguy do việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên không khả chấp khi các quốc gia ĐNA cố gắng để thúc đẩy việc phát triển kinh tế.

Cái cần thiết cấp bách hiện nay là các chánh phủ, các nhà khoa học và các nhà bảo tồn phải nâng cao nỗ lực để bảo tồn các hệ sinh thái đồng lụt còn lại, trong khi phục hồi nối kết giữa những khung cảnh nầy nếu có thể được.  Những hành lang ven sông chưa ngăn đập chẳng hạn như sông Sekong ở Cambodia rất hiếm, và cần được bảo đảm cho đa dạng sinh học và sinh kế của người dân địa phương.

Những thách thức gây áp lực nhất có lẽ là điều kiện kinh tế xã hội của các cộng đồng con người sống trong hạ lưu vực Mekong.  Nghèo khó triền miên trong các cộng đồng nông thôn là một khối trở ngại quan trọng của hành động để bảo tồn đa dạng sinh học của đồng lụt, và có thể được mong đợi để tiếp tục thúc đẩy việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên không khả chấp trong tương lai.

Cuối cùng, quản lý và bảo vệ một vùng bao la và phức tạp như lưu vực Mekong sẽ đòi hỏi sự tham gia và hợp tác của các bên liên hệ ở mọi cấp, gồm có các cộng đồng ở địa phương, và chánh quyền tỉnh và quốc gia.  Hợp tác quốc tế mạnh mẽ hơn cũng cần thiết giữa các quốc gia Mekong để cải thiện các nỗ lực xuyên biên giới để bảo tồn đa dạng sinh học, cũng như đẩy mạnh sinh kế của các cộng đồng con người.

Sunday, May 1, 2022

TẠI SAO MỰC NƯỚC SÔNG MEKONG TẠI TÂN CHÂU VÀ CHÂU ĐỐC HẠ THẤP KỂ TỪ NĂM 2001

Nguyễn Minh Quang

30 tháng 4 năm 2022


Phần dẫn nhập

Tân Châu và Châu Đốc - 2 trong 21 trạm thủy học chánh ở hạ lưu vực sông Mekong [1] – là cửa ngỏ để sông Mekong chảy vào Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam (ĐBSCL).  Đây là 2 trạm thủy học quan trọng của ĐBSCL, vì thế mực nước ở 2 trạm nầy được người Pháp đo đạc hàng ngày kể từ thập niên 1920s và sau đó được Ủy Ban Mekong chọn làm trạm thủy học chánh trong hệ thống trạm thủy học ở hạ lưu vực sông Mekong kể từ cuối thập niên 1950s (Hình 1).  Để cho đỡ rườm rà, bài viết nầy chỉ dùng mực nước kể từ năm 1979 đến nay được lấy từ trang web của Ủy hội Sông Mekong [2]; tuy nhiên, thời gian nầy cũng đủ dài để bao gồm những thay đổi quan trọng trong lưu vực, nhất là việc xây cất các đập thủy điện trong hạ lưu vực ở Việt Nam và Lào và thượng lưu vực ở Trung Hoa.

Trước năm 2002, mực nước trong mùa mưa tại 2 trạm Tân Châu và Châu Đốc thường dao động ở cao độ từ +4,0 đến +5,0 m.  Kể từ năm 2003, cao độ của mực nước sông Mekong trong mùa mưa hạ thấp dần và chỉ lên đến +2,63 m ở Tân Châu và +2,46 m ở Châu Đốc trong năm 2021.  Trong mùa khô, mực nước tại 2 trạm Tân Châu và Châu Đốc thường dao động ở cao độ +0,6 đến +0,8 m; nhưng kể từ năm 2001, cao độ của mực nước sông Mekong tại 2 trạm nầy hạ xuống +0,29 m rồi tiếp tục giảm đến -0,37 m ở Tân Châu và -0,43 m ở Châu Đốc trong năm 2021.  Đây là một hiện tượng khác thường mà bài viết nầy sẽ cố gắng để tìm một giải thích hợp lý.

Hình 1. Hệ thống trạm thủy học ở hạ lưu vực sông Mekong [1]

 

Ảnh hưởng của chuỗi đập thủy điện Vân Nam ở Trung Hoa

Trong những năm gần đây, nhất là sau nghiên cứu của Eyes on Earth [3] và phân tích của Trung tâm Stimson [4], một số người đã “lên án” chuỗi đập thủy điện Vân Nam ở Trung Hoa vì cho nó là nguyên nhân của những ảnh hưởng tiêu cực ở hạ lưu vực Mekong, kể cả gây ra hạn mặn ở ĐBSCL [5,6].  Họ lên án thủy điện, có lẽ vì không nắm được nguyên tắc của thủy điện: trữ nước trong mùa mưa và xả nước trong mùa khô; do đó, một đập thủy điện làm giảm lưu lượng/mực nước sông trong mùa mưa và làm tăng lưu lượng/mực nước sông trong mùa khô ở hạ lưu.  Ảnh hưởng nầy giảm dần khi đi về phía hạ lưu và có thể bị chi phối bởi điều kiện thủy học ở hạ lưu.

Hình 2.  Mực nước hàng ngày trong sông Mekong tại Chiang Saen, Thái Lan từ năm 1979 đến 2021.

 

Ảnh hưởng của chuỗi đập thủy điện Vân Nam ở Trung Hoa có thể được nhận thấy rõ rệt ở trạm thủy học Chiang Sean, Thái Lan, cửa ngỏ vào hạ lưu vực sông Mekong.  Mực nước cao nhất trong mùa mưa tại trạm nầy giảm từ +10,38 m trong năm 2002 xuống +6,57 m trong năm 2021; trong khi mực nước thấp nhất trong mùa khô tăng từ +0,88 m trong năm 2004 đến +1,88 m trong năm 2021 (Hình 2).  Đây là một thí dụ điển hình về ảnh hưởng thủy học của các đập thủy điện đối với mực nước sông ở hạ lưu.

Ảnh hưởng của các đập thủy điện ở Lào và Việt Nam

Hình 3.  Mực nước hàng ngày trong sông Mekong tại Kratie, Cambodia từ năm 1999 đến 2021.

Ảnh hưởng của các đập thủy điện ở Trung Hoa, Lào và Việt Nam được đánh giá bằng cách cứu xét mực nước sông Mekong tại trạm thủy học Kratie ở Cambodia (Hình 3).  Mực nước tại trạm nầy cho thấy ảnh hưởng lẫn lộn của các đập thủy điện ở thượng lưu và điều kiện thủy học ở hạ lưu.  Mặc dầu mực nước cao nhất trong mùa mưa, nói chung, có khuynh hướng giảm từ +22,86 m trong năm 2002 xuống +18,51 m trong năm 2021; nhưng lại gần bằng hay vượt quá +22,86 m trong năm 2011 (22,88 m), 2013 (22,69 m), 2014 (22,79 m) và 2019 (22,73m).  Mực nước thấp nhất trong mùa khô tại trạm nầy không bi ảnh hưởng bởi các đập thủy điện ở thượng lưu vì chúng không tăng mà vẫn giữ ở khoảng +7 m.  Mực nước thấp nhất trong những năm 2014, 2017, 2018 và 2019 cao hơn là do lưu lượng trong những năm nầy cao hơn trung bình.

Mực nước hàng ngày trong sông Mekong tại trạm thủy học Neak Luong, Cambodia (Hình 4) cũng giống như mực nước tại trạm thủy học Kratie.  Mực nước cao nhất trong mùa mưa giảm từ +8,12 m trong năm 2000 xuống +5,48 m trong năm 2021; nhưng lại gần bằng +8,12 m trong năm 2011 (+8,06 m), 2013 (+7,65 m), 2014 (+7,25 m) và 2019 (+9,96 m).  Cũng giống như trạm Kratie, mực nước thấp nhất trong mùa khô tại trạm nầy cũng không bị ảnh hưởng của các đập thủy điện ở thượng lưu; ngoại trừ những năm 2014, 2017, 2018 và 2019, mực nước thấp nhất trong mùa khô cao hơn mực nước các năm khác vì lưu lượng trong các năm nầy cao hơn lưu lượng trung bình.


Hình 4.  Mực nước hàng ngày trong sông Mekong tại Neak Luong, Cambodia từ năm 1999 đến 2021.

 

Mực nước sông Mekong ở trạm thủy học Tân Châu và Châu Đốc

Mực nước cao nhất trong sông Mekong trong mùa mưa tại 2 trạm thủy học Tân Châu và Châu Đốc không giống như mực nước cao nhất tại trạm Kratie và Neak Luong, chúng có khuynh hướng giảm rõ rệt kể từ năm 2000.  Mực nước giảm từ +5,06 m (Tân Châu) và +4,89 m (Châu Đốc) trong năm 2000 xuống +2,63 m (Tân Châu) và +2,51 m (Châu Đốc) trong năm 2021; ngoại trừ các năm 2011 (+2,77 m ở Tân Châu và +2,24 m ở Châu Đốc), 2013 (+4,33 m ở Tân Châu và +3,72 m ở Châu Đốc), 2014 (+3,71 m ở Tân Châu và +2,95 m ở Châu Đốc) và 2019 (+3,46 m ở Tân Châu và +3,14 m ở Châu Đốc).

Mực nước thấp nhất trong sông Mekong trong mùa khô tại 2 trạm thủy học Tân Châu và Châu Đốc cũng không giống như mực nước thấp nhất ở trạm Kratie và Neak Luong mà giảm đều đặn từ năm 2000 (+0,74 m ở Tân Châu và +0,73 m ở Châu Đốc) đến năm 2005 (-0,23 m ở Tân Châu và -0,26 m ở Châu Đốc) và xuống đến mức thấp nhất trong năm 2021 (-0,37 m ở Tân Châu và -0,43 m ở Châu Đốc).  Đây là một hiện tượng thủy học, mà cho đến nay, chưa có một giải thích thỏa đáng.  Theo Phúc trình Lụt Mekong Hàng năm từ 2015 đến 2018 [7-10], lưu lượng trung bình hàng năm của sông Mekong tại Tân Châu và Châu Đốc từ năm 1980 đến 2014 là 539 km3, trong khi lưu lượng trong năm 2015 là 236 km3, 2016 là 292 km3, 2017 là 420 km3, và 2018 là 465 km3.  Lưu lượng trong những năm 2015-2018 đều thấp hơn lưu lượng trung bình từ 1980-2014 có thể giải thích một phần vì sao mực nước thấp nhất trong mùa khô tại 2 trạm Tân Châu và Châu Đốc giảm đều đặn kể từ năm 2001.

Đáy sông Mekong sâu hơn do khai thác cát

Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu khoa học nào được công bố về chiều sâu của sông Mekong ở ĐBSCL.  Chỉ có một bài báo trên tờ Tuổi Trẻ [11] cho biết rằng sông Tiền (dài 250 km) và sông Hậu (dài 200 km) ngày càng sâu thêm, trong khoảng 20 gần đây, 2 sông nầy sâu thêm từ 5 đến 7 m.

Bài báo kèm theo bản đồ cho thấy trước năm 2008, sông Tiền có chiều sâu từ 3 m đến 10 m; đến năm 2016, chiều sâu nầy tăng lên 8 m đến 14 m, và có nơi sâu hơn 14 m như ở cầu Mỹ Thuận.  Chiều sâu của sông Hậu trước năm 2008 thay đổi từ 3 m đến 8 m; đến năm 2016, chiều sâu nầy tăng lên 7 đến 17 m.  Thay đổi độ sâu của sông chắc chắn là một trong những yếu tố quan trọng làm cho mực nước tại 2 trạm Tân Châu và Châu Đốc hạ thấp từ năm 2001.

 

Vị trí trên sông Tiền và Hậu có chiều sâu sâu hơn trước.

[Nguồn: Chi cục Đường thủy Nội địa phía Nam/Tấn Đạt]

 

Phần kết luận

Trước năm 2001, mực nước cao nhất trong sông Mekong tại 2 trạm thủy học Tân Châu và Châu Đốc – cửa ngỏ vào ĐBSCL – thường vượt quá +4,0 m.  Nhưng kể từ năm 2001, nó thường thấp hơn +4,0 m và ở mức +2,63 m ở Tân Châu và 2,46 m ở Châu Đốc trong năm 2021.  Mực nước thấp nhất ở 2 trạm nầy thường dao động ở cao độ +0,6 đến +0,8 m.  Nhưng kể từ năm 2001, mực nước thấp nhất tại 2 trạm nầy giảm xuống +0,29 m trong năm 2001 rồi tiếp tục giảm đến -0,37 m ở Tân Châu và -0,43 m ở Châu Đốc trong năm 2021.

Qua việc phân tích mực nước hàng ngày của sông Mekong tại các trạm thủy học Chiang Saen ở Thái Lan – cửa ngỏ vào hạ lưu vực sông Mekong, Kratie và Neak Luong ở Cambodia, và Tân Châu và Châu Đốc ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy rằng ảnh hưởng của các đập thủy điện ở thượng lưu đối với mực nước thấp nhất giảm dần rồi biến mất, rõ nhất ở Chiang Saen (tăng từ +0,88 m trong năm 2004 đến +1,78 m trong năm 2021) và không còn ở Kratie và Neak Luong (mực nước không thay đổi).

Cho đến nay, vẫn chưa có một giải thích thỏa đáng cho việc hạ thấp của mực nước trong sông Mekong tại Tân Châu và Châu Đốc kể từ năm 2001.  Có điều chắc chắn là nó không chịu ảnh hưởng của các đập thủy điện ở thượng lưu.  Theo một số dữ kiện hạn chế của Ủy hội Sông Mekong tại 2 trạm Tân Châu và Châu Đốc, lưu lượng ở 2 trạm nầy đều thấp hơn lưu lượng trung bình hàng năm từ năm 1980 đến 2014 có thể giải thích một phần.  Nhưng chiều sâu của sông sâu hơn đáng kể do việc khai thác cát chắc chắn là một trong những yếu tố góp phần làm hạ thấp mực nước trong sông Mekong tại 2 trạm nầy kể từ năm 2001.

Sơ lược về tác giả

Tác giả nguyên là Kỹ sư Công chánh Chuyên nghiệp (Professional Civil Engineer) của tiểu bang Florida và California.  Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh tại Trường Cao đẳng Công chánh, Trung tâm Quốc gia Kỹ Thuật Phú Thọ, Sài Gòn năm 1972.  Trưởng ty Kế hoạch, Ủy ban Quốc gia Thủy lợi, Bộ Công chánh và Giao thông, Sài Gòn đến tháng 4 năm 1975.  Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh (1983) và Cao học Thủy lợi (1985) tại Đại học Nebraska, Hoa Kỳ.  Chuyên viên Thủy học (Hydrlogist) của Sở Quản trị Thủy lợi, Broward County, Florida đến năm 1989.  Từ năm 1990 đến 2015, Kỹ sư Giám sát Trưởng (Senior Supervising Engineer) của Stetson Engineers Inc., một công ty cố vấn về thủy lợi và ô nhiễm nguồn nước, thành lập năm 1957 ở Los Angeles.  Về hưu từ năm 2016.

Tài liệu Tham khảo

[1]       Mekong River Commission and Ministry of Water Resources of China.  October 2016.  Technical Report - Joint Observation and Evaluation of the Emergemcy Water Supplement from China to the Mekong River.  Mekong River Commission, Vientiane, Lao PDR. https://www.mrcmekong.org/assets/Publications/Final-Report-of-JOE.pdf

[2]       Mekong River Commission. 1979-2020. Mekong River Monitoring.  Mekong River Commission. https://www.mrcmekong.org/

[3]       Alan Basist and Claude Williams. April 10, 2020. Monitoring the quantity of water flowing through the upper Mekong basin under natural (unimpeded) conditions. LMI Sustainable Infrastructure Partnership, Bangkok April 2020. https://www.pactworld.org/Monitoring%20the%20quantity%20of%20water%20flowing%20through%20the%20Upper%20Mekong%20basin%20under%20natural%20%28unimpeded%29%20conditions

[4]       Brian Eyler and Courtney Weatherby.  April 13, 2020. “New Evidence – Hoa China Turned Off the Tap on the Mekong River.”  Stimson. https://www.stimson.org/2020/new-evidence-how-china-turned-off-the-mekong-tap/

[5]       Ngô Thế Vinh. 23 tháng 3 năm 2020.  “Vũ khí giải cứu Mekong: Chất xám và tiếng nói.”  Người Việt. https://www.nguoi-viet.com/dien-dan/vu-khi-giai-cuu-mekong-chat-xam-va-tieng-noi/

[6]       Nguyen Tuan Khoa. 4 tháng 4 năm 2021. “Bênh vực tộc ác thủy điện Vân Nam cũng là một tội ác.”  Bauxite Việt Nam. https://boxitvn.blogspot.com/2021/04/benh-vuc-toi-ac-thuy-ien-van-nam-cung.html

[7]       Mekong River Commission.  February 2018.  Annual Mekong Flood Report 2015.  Mekong River Commission.  Vientiane, Lao PDR.  https://www.mrcmekong.org/assets/Publications/AMFR-2015.pdf

[8]       Mekong River Commission.  February 2018.  Annual Mekong Flood Report 2016.  Mekong River Commission.  Vientiane, Lao PDR.  https://www.mrcmekong.org/assets/Publications/AMFR-2016.pdf

[9]       Mekong River Commission.  September 2019.  Annual Mekong Flood Report 2017.  Mekong River Commission.  Vientiane, Lao PDR.  https://www.mrcmekong.org/assets/Publications/Annual-Mekong-Flood-Report-2017.pdf

[10]     Mekong River Commission.  June 2020.  Annual Mekong Hydrology, Flood, and Drought Report 2018.  Mekong River Commission.  Vientiane, Lao PDR.  https://www.mrcmekong.org/assets/Publications/amhr_2018.pdf

[11]     Vân Trường. 16 tháng 8 năm 2016. “Vì sao sông Tiền, sông Hậu sâu bất thường?” Tuổi Trẻ. https://tuoitre.vn/vi-sao-song-tien-song-hau-sau-bat-thuong-1155532.htm