Saturday, August 7, 2021

XÂY ĐẬP CÓ PHẢI LÀ NGUYÊN NHÂN LỚN GÂY XÂM NHẬP MẶN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HAY KHÔNG?

Nguyễn Minh Quang

30 tháng 7 năm 2021

Đập Xiaowan (Tiểu Loan) trên sông Lancang (Mekong) ở Trung Hoa.

 [Ảnh: WorldAtlas]

 

Phần giới thiệu

Một bài báo trên tờ Tuổi Trẻ ngày 23 tháng 7 năm 2021 [1] cho biết “Theo trang tin Mongabay, nghiên cứu mới của Viện nghiên cứu độc lập Deltares (Hà Lan) đánh giá nguyên nhân lớn nhất gây ra tình trạng xâm nhập mặn ở vùng châu thổ sông Mekong hiện nay là do con người (xây đập chặn dòng nước), nhưng đến năm 2050 biến đổi khí hậu sẽ đóng vai trò chính.  Nói cách khác, các quốc gia sông Mekong, đặc biệt là Việt Nam nằm ở cuối nguồn, chỉ có từ đây đến năm 2050 để áp dụng các biện pháp giảm thiểu thiệt hại, từ đó về sau mọi thứ sẽ vượt ngoài tầm kiểm soát của con người.”

Bài viết nầy sẽ tìm hiểu về nghiên cứu của Deltares và những yếu tố ảnh hưởng đến sự xâm nhập của mước mặn trong các sông ở đồng bằng, chẳng hạn như sông Cửu Long ở Việt Nam (ĐBSCL).  Sau đó, dữ kiện thủy học do Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) thu thập ở các trạm thủy học dọc theo sông Mekong ở hạ lưu sẽ được phân tích để xem các đập thủy điện ở Trung Hoa, Lào và Việt Nam có ảnh hưởng đến tình trạng thủy học cũng như sự xâm nhập của nước mặn ở ĐBSCL.

 

Nghiên cứu Deltares

Nghiên cứu do Đại học Utrecht và Deltares cầm đầu sử dụng một mô hình 3 chiều của châu thổ sông Mekong, trải rộng từ Kratie, Cambodia ra khỏi bờ biển ĐBSCL 70 km để mô phỏng độ mặn trong các cửa sông chánh và hệ thống kinh thủy nông chánh và phụ trên khắp ĐBSCL [2].  Trong mô hình nầy, độ mặn chịu ảnh hưởng của yếu tố thiên nhiên và nhân tạo.  Yếu tố thiên nhiên liên quan đến thay đổi khí hậu được phản ánh trong mực nước biển dâng và sự thay đổi của lưu lượng ở thượng lưu.  Yếu tố nhân tạo được phản ánh bởi sự sụt lún đất do khai thác nước ngầm và sự thay đổi cao độ của lòng sông do đói phù sa.

Nghiên cứu Deltares có 2 kết luận đáng chú ý.  Thứ nhất, “… lần đầu tiên, chúng tôi phân biệt ảnh hưởng của “các yếu tố phơi bày (exposure) và tính dễ tổn thương (vulneranility)” trong một siêu đồng bằng (trong trường hợp của ĐBSCL) và xác nhận rằng, mặc dù nước biển dâng tương đối ảnh hưởng đến độ mặn ở nhiều nơi của đồng bằng, thay đổi cao độ của lòng sông là đe dọa lớn nhất cho những nơi khác của đồng bằng.”  Thứ nhì, mô hình tiên đoán rằng lưu lượng trong mùa khô của sông Mekong trong 4 thập niên sắp tới, 2020s đến 2050s, sẽ gia tăng như được mô tả trong Hình 1.

 

Hình 1: Tiên đoán lưu lượng trong mùa khô của sông Mekong. [3]

 

Ngoài ra, vì nghiên cứu Deltares dựa trên những giả thiết không chắc chắn, chẳng hạn như cao độ của lòng sông và lớp nước đá tan ở Nam Cực, nên tính thuyết phục của kết quả cũng bị ảnh hưởng.

 

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự xâm nhập của nước mặn

Có một vài yếu tố vật lý quan trọng làm thay đổi các đặc tính của đồng lụt và góp phần đáng kể vào tiến trình xâm nhập của nước mặn vào các vùng đồng bằng.  Chúng gồm có sự thay đổi của khí hậu, dao động của mực nước biển, thủy học của sông và hình thái (morphology) của đồng bằng [3].  Các yếu tố nầy được mô tả dưới đây.

 

Gió và thời tiết

Ba đặc tính của khí hậu trong khu vực có liên hệ trực tiếp đến thủy học của các sông chịu ảnh hưởng của thủy triều: sự phân phối mưa theo mùa; thay đổi chiều gió, kể cả tần suất và tác động của bão nhiệt đới và sóng cồn.  Mưa liên quan đến nước chảy tràn từ đồng bằng và mực nước trong các hệ thống sông chánh.  Gió, phát xuất từ bão nhiệt đới, sóng, mực nước ở ven biển và các dòng nước ở các cửa sông.

 

Dao động của mực nước biển

Dao động của mực nước biển làm cho nước mặn chảy vào sông khi mực nước lên cao và chảy ra khi mực nước xuống thấp.  Điều nầy xảy ra trong một khoảng thời gian, gồm có chu kỳ của thủy triều, sóng cồn, thay đổi theo mùa và các dao động dài hơn.  Ở vùng ĐBSCL, mực nước biển có thể dao động đến 3 m ở Biển Đông, nhưng không quá 1 m ở Vịnh Thái Lan.

 

Hình thái và thay đổi khung cảnh trên đồng bằng

Sông rạch, nhất là cao độ của lòng sông, và cao độ của đồng bằng là các yếu tố ảnh hưởng đến sự xâm nhập của nước mặn.  Các vùng thấp có nhiều sông rạch dễ bị nước mặn xâm nhập hơn các vùng cao có ít sông rạch.

 

Thủy học của sông

Hai đặc tính thủy động học của sông chịu ảnh hưởng của thủy triều là dòng chảy của sông và dòng chảy 2 chiều.  Dòng chảy của sông gồm có sự thay đổi theo mùa hay nhất thời của lượng nước ngọt, trong khi dòng chảy 2 chiều bị chi phối bởi thủy triều, và phức tạp vì tác động của nước ngọt-nước mặn cũng như các sự kiện khí tượng.  Lưu lượng của dòng chảy trong sông là yếu tố quyết định của sự xâm nhập của nước mặn vào cửa sông và đóng một vai trò quan trọng trong việc làm giảm nước mặn ở nội đồng, nhất là khi lưu lượng sông đủ cao để thay thế hoàn toàn nêm thủy triều (tidal prism) trong giai đoạn triều dâng [4].

 

Thay đổi khí hậu

Thay đổi khí hậu làm cho mực nước biển dâng cao và do đó ảnh hưởng đến sự xâm nhập của nước mặn.  Nước biển dâng do giản nở nhiệt độ của đại dương, băng tan và tuyết tan.  Mực nước biển dâng có thể làm cho nước mặn xâm nhập sâu về phía thượng lưu.

 

Ảnh hưởng của các đập thủy điện

Nhiệm vụ của các đập thủy điện là trữ nước trong mùa khô và xả nước trong mùa khô để sản xuất thủy điện.  Vì thế, chúng làm cho lưu lượng/mực nước sông giảm trong mùa mưa và tăng trong mùa khô.  Ảnh hưởng nầy giảm dần về phía hạ lưu và có thể bị chi phối bởi điều kiện thủy học ở hạ lưu.

Ảnh hưởng của chuỗi đập thủy điện trên thượng lưu Mekong ở Trung Hoa được nhận thấy rõ nhất ở trạm thủy học Chiang Saen, Thái Lan, cửa ngỏ vào hạ lưu vực sông Mekong.  Mực nước cao nhất trong mùa mưa tại trạm nầy giảm từ 10,38 m trong năm 2002 xuống 4,83 m trong năm 2020; trong khi mực nước thấp nhất trong mùa khô tăng từ 0,88 m trong năm 2004 đến 2,06 m trong năm 2020 (Hình 2).  Đây là một thí dụ điển hình về ảnh hưởng thủy học của các đập thủy điện đối với mực nước sông ở hạ lưu. [5]

 

Hình 2.  Mực nước hàng ngày trong sông Mekong tại Chiang Saen, Thái Lan

 từ năm 1979 đến 2020. [5]

 

Vì ở cuối nguồn, nên mực nước tại trạm thủy học Tân Châu và Châu Đốc ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của các đập thủy điện ở Trung Hoa, Lào và Việt Nam và những điều kiện thủy học ở hạ lưu vực.  Mực nước cao nhất trong sông Mekong trong mùa mưa giảm từ 5,06 m (Tân Châu) và 4,89 m (Châu Đốc) trong năm 2000 xuống 2,69 m (Tân Châu) và 2,56 m (Châu Đốc) trong năm 2020; ngoại trừ các năm 2011 (2,77 m ở Tân Châu và 2,24 m ở Châu Đốc), 2013 (4,33 m ở Tân Châu và 3,72 m ở Châu Đốc), 2014 (3,71 m ở Tân Châu và 2,95 m ở Châu Đốc) và 2019 (3,46 m ở Tân Châu và 3,14 m ở Châu Đốc).  (Hình 3) Mực nước cao nhất trong sông Mekong trong mùa mưa ở Tân Châu và Châu Đốc chịu ảnh hưởng của các đập thủy điện ở thượng lưu.

Tuy nhiên, mực nước thấp nhất trong sông Mekong trong mùa khô tại 2 trạm thủy học Tân Châu và Châu Đốc không chịu ảnh hưởng của các đập thủy điện ở thượng lưu, vì nó không tăng như ở trạm Chiang Saen mà giảm đều đặn từ 0,90 m trong năm 2001 xuống đến mức thấp nhất trong năm 2020 (-0,54 m ở Tân Châu và -0,53 m ở Châu Đốc).  Đây là một hiện tượng thủy học, mà cho đến nay, chưa có một giải thích thỏa đáng. 

 

Hình 3: Mực nước hàng ngày trong sông Mekong tại Tân Châu và Châu Đốc, Việt Nam 

từ năm 1979 đến 2020. [5]

 

Phần kết luận

Một bài báo trên tờ Tuổi Trẻ ở Việt Nam, nói là dựa trên nghiên cứu của Deltares, cho rằng nguyên nhân lớn nhất gây ra tình trạng xâm nhập mặn ở vùng châu thổ sông Mekong hiện nay là do con người (xây đập chặn dòng nước), nhưng đến năm 2050 biến đổi khí hậu sẽ đóng vai trò chính.  Nhưng nghiên cứu của Deltares không hề kết luận rằng xây đập chặn dòng nước là nguyên nhân chánh của sự xâm nhập của nước mặn ở ĐBSCL.  Trái lại, mô hình của họ mô phỏng độ mặn trong đồng bằng dựa trên các yếu tố thiên nhiên và nhân tạo.  Yếu tố thiên nhiên liên quan đến thay đổi khí hậu như mực nước biển dâng và sự thay đổi của lưu lượng ở thượng lưu.  Yếu tố nhân tạo như sự sụt lún đất do khai thác nước ngầm và sự thay đổi cao độ của lòng sông do đói phù sa. 

Ngoài ra, nghiên cứu của Deltares cũng nhấn mạnh rằng thay đổi cao độ của lòng sông là đe dọa lớn nhất.  Điều nầy không phù hợp với các yếu tố ảnh hưởng đến sự xâm nhập của nước mặn, trong đó lưu lượng của sông và dao động của thủy triều là yếu tố quyết định của sự xâm nhập của nước mặn vào cửa sông và đóng một vai trò quan trọng trong việc làm giảm nước mặn ở nội đồng.

Dữ kiện mực nước của MRC cho thấy chuỗi đập thủy điện trên sông Lancang (Mekong) ở Trung Hoa có ảnh hưởng đến mực nước tại trạm Chiang Saen, Thái Lan.  Mực nước cao nhất trong mùa mưa ở trạm Tân Châu và Châu Đốc, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của các đập thủy điện, nhưng mực nước thấp nhất trong mùa khô ở 2 trạm nầy giảm đều đặn từ năm 2001, chứng tỏ nó không chịu ảnh hưởng của các đập thủy điện ở thượng lưu, giống như trạm Chiang Saen.  Vì thế, xây đập không phải là nguyên nhân lớn gây xâm nhập nước mặn vào ĐBSCL.

 

Sơ lược về tác giả

Tác giả nguyên là Kỹ sư Công chánh Chuyên nghiệp (Professional Civil Engineer) của tiểu bang Florida và California.  Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh tại Trường Cao đẳng Công chánh, Trung tâm Quốc gia Kỹ Thuật Phú Thọ, Sài Gòn năm 1972.  Trưởng ty Kế hoạch, Ủy ban Quốc gia Thủy lợi, Bộ Công chánh và Giao thông, Sài Gòn đến tháng 4 năm 1975.  Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh (1983) và Cao học Thủy lợi (1985) tại Đại học Nebraska, Hoa Kỳ.  Chuyên viên Thủy học (Hydrologist) của Sở Quản trị Thủy lợi, Broward County, Florida đến năm 1989.  Từ năm 1990 đến 2015, Kỹ sư Giám sát Trưởng (Senior Supervising Engineer) của Stetson Engineers Inc., một công ty cố vấn về thủy lợi và ô nhiễm nguồn nước, thành lập năm 1957 ở Los Angeles.  Về hưu từ năm 2016.

 

Tài liệu tham khảo

[1]       Phúc Long. 23 tháng 7 năm 2021.  “Nghiên cứu của Hà Lan: Nguyên nhân lớn gây xâm nhập mặn ở ĐBSCL là do xây đập.”  Tuổi Trẻ.  https://tuoitre.vn/nghien-cuu-cua-ha-lan-nguyen-nhan-lon-gay-xam-nhap-man-o-dbscl-la-do-xay-dap-20210723112032192.htm

[2]       Sepehr Eslami et al. 2021. “Projections of salt intrusion in a mega-delta under climatic and anthrpogenic stressors.”  Communications Earth & Environment.  https://www.researchgate.net/publication/353274818_Projections_of_salt_intrusion_in_a_mega-delta_under_climatic_and_anthropogenic_stressors

[3]       Cob SM, Saynor MJ, Eliot M, Eliot I and Hall R.  2007.  Saltwater intrusion and mangrove encroachment of coastal wetlands in the Alligator Rivers Region, Northern Territory, Australia.  Department of the Environmental and Water Resources.  Australian Government.  http://www.environment.gov.au/system/files/resources/7dac4eaf-eb06-42b0-ad22-243da511e767/files/ssr191-intro-chap1.pdf

[4]       Ruqayah Mohammed and Miklas Scholz.  2018.  “Critical revierw of salinity intrusion in rivers and estuaries.”  Journal of Water and Climate Change.  https://iwaponline.com/jwcc/article/9/1/1/37946/Critical-review-of-salinity-intrusion-in-rivers

[5]       Nguyễn Minh Quang. 28 tháng 6 năm 2021.  “Tại sao mực nước sông Mekong trong mùa khô tại Tân Châu và Châu Đốc giảm dần kể từ năm 2001.”

 .

Sunday, August 1, 2021

THÁI ĐỘ HIẾU CHIẾN CỦA TRUNG HOA: BÓP MÉO DÒNG CHẢY, VŨ KHÍ HÓA NƯỚC

 (China's Belligerence: Twisting flows, Weaponising water)

Salma Kouser Asif – Bình Yên Đông lược dịch

Bangla News 24 – 15 July 2021


Đồng bộ với địa chánh trị hiện đại, có vẻ như Trung Hoa có ý định lợi dụng tài nguyên thiên nhiên như một chiến lược chiến tranh tương tự như chánh sách tiêu thổ để lực lượng địch không có tài nguyên cần thiết để sống còn.  Với chiến lược nầy, Trung Hoa đang xây một đập lớn nhất thế giới trong Khu Tự trị Tây Tạng để chứng tỏ tính ưu việt của mình trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở qua một hành động mà không có quốc gia nào khác đã thực hiện vào bất cứ lúc nào trong lịch sử.

Hơn nữa, Trung Hoa dự định xây các nhà máy thủy điện trên các sông khác chẳng hạn như Salween, Mekong, Yangtze và Bramaputra có khả năng sản xuất điện đến 120 GW.  Trên mặt phía tây, nước nầy đang tài trợ và xây cất Chuỗi Bắc Sông Indus bằng cách xây các đập trong khu vực Kashmir do Pakistan quản lý, được xem như một sai lầm ở Himalayas.  Việc xây đập trở lại trong năm 2010 khi Trung Hoa khởi động việc xây dựng các đập nhỏ dọc theo dòng chánh Bramaputra (Yarlung Tsangpo) với 2 đập đã hoàn tất và một số nữa sẽ hoạt động không bao lâu nữa.  Chỉ riêng đập lớn nhất thế giới như được dự trù trên Yarlung Tsangpo sẽ sản xuất 60 GW, 3 lần nhiều hơn công suất của đập lớn nhất hiện nay ở Trung Hoa, đập Three Gorges (Tam Hiệp).  Bằng cách ảnh hưởng dòng chảy, vận tốc và chiều hướng của con sông khổng lồ nầy và các phụ lưu của nó, Trung Hoa có thể ngăn chận hay chuyển nước sông theo ý muốn vào các dự án phát triển hạ tầng cơ sở đại qui mô.  Thí dụ, Dự án Chuyển nước Nam-Bắc và Dự án Chuyển Điện Tây-Đông và việc nối kết các sông chánh để lấy nước từ vùng có nhiều nước đến các vùng thiếu nước, tất cả là một phần của đại kế hoạch để làm cho Trung Hoa tự túc về nguồn nước mà không đếm xỉa đến hậu quả cho các quốc gia duyên hà ở hạ lưu.  Tuy nhiên, đây là một cái giá môi trường không thể bào chữa, vùng nầy là một trong những vùng núi non trẻ nhất, đó là rặng Himalayas.  Nó cũng có thể biến thành một ác mộng kỹ thuật cho các hoạt động xây cất mà cuối cùng có thể hủy hoại sinh thái mong manh của khu vực.

Không còn nghi ngờ gì nữa, các hành động trên của Trung Hoa đã gây nhiều lo ngại cho các quốc gia duyên hà ở hạ lưu: Ấn Độ và Bangladesh.  Mặc dù Trung Hoa đã hạ thấp những lo ngại nầy, sự e sợ của 2 quốc gia nầy không hoàn toàn bất ngờ.  Tình hình địa chánh trị hiện thời và sự bành trướng vô độ của tham vọng Trung Hoa cùng nắm tay để châm ngòi cho ngững lo ngại nầy.  Các đập xây trên sông Mekong có thể xem như một điềm báo trước cho một khủng hoảng như thế với ý niệm lờ mờ về cái theo sau.  Thí dụ, trong trận hạn hán năm 2019 trong lưu vực Mekong, các nhánh ở thượng lưu Trung Hoa nhận được mưa kỷ lục nhưng các đập đã giữ lại gần hết nước và không còn bao nhiêu chảy xuống hạ lưu mặc dù các quốc gia ở hạ lưu mong muốn một cách tuyệt vọng.  Ngược lại, các đập của Trung Hoa bị nghi ngờ đã gây lũ lụt, chằng hạn như 1 thập niên trước dọc theo Mekong ở Lào.  Trung Hoa xem các dự án nầy như một quốc gia ở thượng lưu và lớn nhất của hệ thống phụ lưu, họ tin rằng các quốc gia duyên hà ở hạ lưu tương đối nhỏ hơn không có phương tiện để chống lại hay mặc cả hữu hiệu trong việc thương lượng về nước.

Việc Trung Hoa từ chối xác nhận đường chảy của các sông nầy cũng đưa đến nghi ngờ rằng việc xây cất với kỹ thuật phá nổ có ý định chuyển nước đến Trung Hoa.  Cũng nên lưu ý rằng Trung Hoa cũng ngăn cản một phụ lưu của Bramaputra trên sông Xiabugu.  Cách đây không lâu, Trung Hoa cũng cố gắng để cản trở đường chảy của sông Galwan, bắt nguồn từ vùng Aksai do Trung Hoa kiểm soát, nơi gần đây đã chứng kiến các cuộc đụng độ giữa 2 quốc gia - Ấn Độ và Trung Hoa.

Với các đập khổng lồ nầy, nông nghiệp của Ấn Độ sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nông nghiệp của Bangladesh cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi các kiến trúc nầy sẽ giữ lại một số phù sa đáng kể do sông mang xuống để làm cho đất ở vùng hạ lưu phì nhiêu và đóng một vai trò quan trọng trong việc sản suất nông nghiệp của Ấn Độ và đông bắc Bangladesh.  Thật vậy, Bangladesh là quốc gia duyên hà ở cuối nguồn đối mặt với đe dọa nặng nề.  Hầu hết dân số của quốc gia ở trong các vùng lũ lụt như Padma, Meghna, Jamura và Barak.  Lượng nước xả quá nhiều trong Jamuna (hạ lưu của Bramaputra) có thể đưa đến lũ lụt lớn, khiến cho hàng triệu người phải dời cư.  Nó cũng có hậu quả cho người tị nạn tìm nơi cư trú ở nước láng giềng và có thể gây ra phiền phức xuyên biên giới.

Là một quốc gia ở thượng lưu, Trung Hoa có lợi thế lớn lao trong việc thay đổi dòng chảy của sông với tiềm năng dùng nó như một chiến thuật/đe dọa để bắt nạt các quốc gia ở hạ lưu trong bất cứ cuộc đối đầu nào.  Thí dụ, mặc dù Ấn Độ có một thỏa thuận chia sẻ dữ kiện thủy học với Trung Hoa, trong cuộc chạm trán ở Doklam, Trung Hoa đã đơn phương đình chỉ thỏa thuận, ảnh hưởng đến hàng triệu người dựa vào nguồn nước nầy.  Mặc dù hiện trạng được tái lập sau đó trong năm 2018, hành động nầy là một chỉ dấu rõ rệt cho thái độ hiếu chiến của Trung Hoa, để lại dấu ấn bất tín nhiệm thường thực giữa 2 quốc gia với nhận thức rằng Trung Hoa có khả năng vũ khí hóa tài nguyên thiên nhiên như một phần của chiến thuật làm áp lực của họ.  Cũng có thể là chiều hướng giữ lại tài nguyên đơn phương của Trung Hoa đã đưa đến việc chạm trán ở Pangong Tso vì nó ở gần thung lũng Shaksgam, một vùng có nhiều silica được dùng như nguyên liệu thô cho kỹ nghệ chip điện tử hàng tỉ USD và được Pakistan tặng cho Trung Hoa trong năm 1963.

Ngoài ra, Nhóm Liên Chánh phủ về Thay đổi Khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC)) đã nhấn mạnh trong các phúc trình của họ rằng vùng Himalayas rất dễ bị động đất và các thảm họa thiên nhiên do các chuyển động địa chấn không thể đoán trước.  Bất cứ sự can thiệp nào với địa hình và sinh thái của nó của các dự án hạ tầng cơ sở hiện đại sẽ đặt toàn thể khu vực và hàng tỉ người trong nhiều quốc gia vào sự nguy hiểm chết người.

Tuy thế, Trung Hoa vẫn lập luận rằng việc xây cất thủy điện trên sông Bramaputra là các đập dòng chảy, không có trữ nước hay chuyễn nước.  Tuy nhiên, các chuyên viên độc lập nói rằng không thể bảo đảm các dự án đó không làm giảm dòng chảy xuống hạ lưu, nhất là trong mùa khô hay ngược lại gây lũ lụt trong mùa mưa.  Vì thế, những lo ngại của các quốc gia ở hạ lưu có vẻ thành thật vì họ cần phải đối phó với lưu lượng quá nhiều trong mùa mưa có thể gây ngập lụt và châm ngòi cho lũ lụt tàn khốc.

Với tình huống toàn cầu hiện nay và đe dọa của thay đổi khí hậu, băng tan, hệ sinh thái mong manh, sạt lở đất phì nhiêu, đất chuồi thường xuyên và kinh tế yếu kém, cần phải nới rộng phạm vi hợp tác ra ngoài các tay chơi quốc gia để đạt được những khát vọng của khu vực.  Với một địa hình tự nhiên hiểm trở, việc xây đập là một thách thức kỹ thuật trong giới hạn của kỹ thuật xanh.  Khi bài viết nầy được in, một phần lớn băng của cao nguyên Tây Tạng tiếp tục tan và có lẽ sẽ biến mất không lâu.  Thật vậy, phúc trình của IPCC nói rằng số băng còn lại trên cao nguyên Tây Tạng sẽ sớm biến mất nếu mức hủy hoại hiện nay tiếp tục không ngừng gây ra hâm nóng toàn cầu và thay đổi khí hậu.  Gia tăng tuyết tan, mực nước biển dâng và nhiệt độ lên cao cũng gia tăng tần suất của thảm họa thiên nhiên.  Giới chức Trung Hoa thú nhận rằng họ cũng biết các rủi ro liên quan đến việc xây dựng hạ tầng cơ sở nhưng điều đó không ngăn chận họ theo đuổi những nỗ lực gây thiệt hại môi trường.  Không chỉ thế, trong quá khứ Trung Hoa được biết đã phá hoại một con sông xuyên biên giới bằng cách gây ô nhiễm đến mức không thể dùng trong gia đình, ảnh hưởng đến việc sản xuất nông nghiệp và kinh tế thủy sản.

Đánh giá cấp bách

Từ một tư thế đặc quyền, là một quốc gia duyên hà ở thượng lưu, Trung Hoa là kho tin tức về tình trạng của các sông và nước trong sông, nếu được dùng đúng có thể giúp quản lý lũ lụt tốt hơn cho các quốc gia duyên hà và các sông ở hạ lưu.  Vì sự lệ thuộc vào Trung Hoa để có tin tức cần thiết khiến nước nầy có lợi thế trong việc thao túng và giữ lại dữ kiện nước.  Như trong trường hợp của Ấn Độ, vì thiếu cơ chế dàn xếp hỗ tương về chia sẻ nước cho các sông xuyên biên giới, và với việc Trung Hoa từ chối việc dàn xếp quốc tế, có rất ít giải pháp ngoại giao cho các quốc gia có quan tâm.  Ấn Độ nay có những lựa chọn miễn cưỡng trong việc sử dụng hữu hiệu các sông ở trong nước và thu hoạch tối đa nước mưa là một.  Các quốc gia Đông Nam Á (ĐNA) khác cũng báo động vì Trung Hoa từ chối tham vấn với các nước láng giềng ở hạ lưu.  Đã đến lúc các quốc gia Nam và ĐNA thương thảo với Trung Hoa như một nhóm thống nhất để sống còn.  Sau cùng, đặc tính của thiên nhiên là không biết các biên giới và Trung Hoa phải chấp nhận rằng việc sử dụng khả chấp của họ không phải trỗi dậy từ bá quyền của một quốc gia mà là bổn phận tập thể của các quốc gia có trách nhiệm.

.

TAI HỌA TRUNG HOA TRÊN SÔNG MEKONG

 

(Chinese calamity on the Mekong river)

Fabien Baussart – Bình Yên Đông lược dịch

Times of Israel – July 13, 2021

Đập Dachaoshan trên thượng lưu Mekong ở Trung Hoa. [Ảnh: AP]

 

Sông Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng và chảy qua 6 quốc gia là nơi cư trú của nền thủy sản nội địa lớn nhất thế giới và hỗ trợ cho cuộc sống của trên 60 triệu người trong các quốc gia nghèo khó như Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam.  Người dân sống ven sông và những người dựa vào nước sông nay đang đối phó với thách thức sống còn vì việc xây cất các đập thủy điện khổng lồ của Trung Hoa khiến cho khu vực bị khô hạn.  Tính nghiêm trọng của vấn đề có thể đo lường từ sự kiện là Lào, với trách nhiệm và minh bạch kém, đã có kế hoạch để xây 140 đập trên Mekong và các phụ lưu với trợ giúp tài chánh của Trung Hoa.

Trung Hoa đã xây 11 đập khổng lồ trong vùng núi non ở thượng lưu Mekong để đáp ứng với nhu cầu năng lượng của mình.  Ngoài ra, Trung Hoa cũng có kế hoạch để nới rộng sông và xây hàng trăm đập ở hạ lưu sông Mekong và các phụ lưu như một phần của Sáng kiến Vành đai và Con đường (Belt and Road Initiative (BRI)).  Vì các hoạt động xây cất nguy hiểm của Trung Hoa ở thượng lưu Mekong, những vùng ở hạ lưu vực đang chứng kiến hạn hán cũng như sự tàn phá của các hoạt động thủy sản và nông nghiệp.  Ngày nay, các hoạt động xây cất của BRI, bao gồm việc thay đổi dòng chảy của Mekong, sẽ có những ảnh hưởng môi trường tiêu cực, hủy hoại hàng triêu cuộc sống trong các quốc gia nghèo ở Đông Nam Á (ĐNA).

Các đập thủy điện của BRI gây một số rủi ro liên hệ đến tính dễ tổn thương khí hậu và thiệt hại tiềm tàng cho các cộng đồng địa phương và hệ sinh thái.  Những ảnh hưởng xấu gồm có việc phóng thích khí methane, thay đổi mực nước, sự phân phối phù sa và tính sẵn có của cá và các động vật ở dưới nước khác.  Một phúc trình năm 2018 của Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)), một tổ chức lưu vực liên chánh phủ, nói các hoạt động xây đập sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sinh thái và sức khỏe và cuộc sống của người nghèo dọc theo sông Mekong.  Người nghèo sẽ được lợi ít trong khi chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực.  “Các đập thủy điện làm giảm dòng chảy trong mùa mưa và gia tăng dòng chảy trong mùa khô khi điều hành bình thường (ngoại trừ các cực đoan khí hậu).  Điều nầy làm tăng việc dẫn thủy, giảm thiệt hại lũ lụt, cung cấp cứu trợ hạn hán, nhưng có ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái của sông, tính khả chấp và an ninh lương thực liên quan đến thủy sản,” phúc trình cảnh báo.

Không chỉ có lòng sông mà các làng mạc dọc theo sông bị phá hủy để lấy đất cho các đập khổng lồ do Trung Hoa xây cất.  Năm 2019, mực nước trong sông Mekong đã xuống thấp đến mức kỷ lục trong 100 năm.  Điều nầy đã ảnh hưởng nặng nề đến nguồn cá, việc trồng lúa và sự lành mạnh của hệ sinh thái chung quanh sông.  Khi các đập được xây cất thiếu kiểm soát, khu vực Mekong đang đi đến “kiểm họa sinh thái,” tăng tốc bởi thay đổi khí hậu, có thể làm cho sông chết sớm, Brian Eyler, giám đốc chương trình ĐNA của Trung tâm Stimson, nói.  Đập của Trung Hoa ở thượng lưu Mekong đã làm giảm mực nước ở hạ lưu vực, gây hạn hán.  Điều nầy đã ảnh hưởng đáng kể đến Việt Nam, buộc người dân phải đi rất xa để lấy nước gia dụng hàng ngày.

Việc xây cất đập Nuozhadu (Nọa Trát Độ) của Trung Hoa khiến cho sông Mekong thay đổi đường chảy tự nhiên của nó, đưa đến việc “thiếu nước trầm trọng ở hạ lưu Mekong”, ảnh vệ tinh từ 1992 đến 2019 cho thấy.  Các đập của Trung Hoa do BRI bảo trợ đã ngăn chận một số lượng nước chưa từng thấy chảy xuống hạ lưu để hỗ trợ cho cuộc sống của hàng triệu người.  “Việc quản lý đập của Trung Hoa đang gây ra những thay đổi thất thường và tàn phá trong mực nước ở hạ lưu.  Các trận lũ lụt thình lình và không ngờ ở hạ lưu nay có thể liên kết với việc hoàn tất của đập Dachaoshan (Đại Chiếu Sơn) và đập Nuozhadu trong năm 2002 và 2012-2014.  Việc xả nước bất ngờ từ đập làm cho mực nước sông lên nhanh đã tàn phá các cộng đồng ở hạ lưu, gây thiệt hại hàng triệu USD và làm chấn động các tiến trình sinh thái của sông,” Trung tâm Stimson, một tổ chức nghiên cứu, quan sát.

Đập Nuozhadu trên thượng lưu Mekong ở Trung Hoa. [Ảnh: Pinterest]

 

Các quốc gia ĐNA quá yếu để yêu cầu Trung Hoa ngưng ngăn chận nước.  Họ tiếp tục đối mặt với các ảnh hưởng xấu của việc xây cất đập của Trung Hoa.  Ở Cambodia, thủy sản và canh tác nông nghiệp đã bị ảnh hưởng khi các đập thủy điện làm giảm nguồn cá và chất dinh dưỡng.  Ở Thái Lan, quân đội được trưng dụng để giúp người dân bị ảnh hưởng của hạn hán, châm ngòi bởi đập Xayaburi trên Mekong [Lời người dịch: Đập Xayaburi là đập dòng chảy nên không trữ nước.  Tất cả số nước chảy đến đập đều chảy qua đập].  Ngoài ra, chánh phủ Beijing (Bắc Kinh) có kế hoạch để nới rộng Mekong bằng cách dùng thuốc nổ để phá các ghềnh thác và cồn cát để tạo luồng lưu thông cho các tàu trọng tải 500 tấn của Trung Hoa.  Nó đang được tiến hành theo kế hoạch mặc dù việc chống đối đang tạm thời ngăn chận.  Các nhà môi trường đã quy trách nhiệm cho Trung Hoa đã dành ưu tiên cho quyền lợi kinh tế do thủy điện mang lại, thay vì công nhận các ảnh hưởng tai hại đối với sông Mekong và các cộng đồng ở hạ lưu sông.

.