Monday, July 10, 2023

‘BÌNH THƯỜNG MỚI’ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

(‘New Normal’ in the Mekong Delta)

Nguyen Thuy Mien – Bình Yên Đông lược dịch

Mekong Eye – 25 February 2022

 

Một người đàn bà chèo thuyền qua chợ nổi ở Cần Thơ, một thành phố ở Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. 

[Ảnh: Vince Gx]

 

Sông Mekong trong vùng đồng bằng của Việt Nam đã liên tục nhận những dòng chảy thấp nhất trong những năm gần đây, giới hạn việc trồng lúa và các hoa màu khác.  Thay đổi khí hậu, nước mặn xâm nhập, và các đập thủy điện tất cả đã ảnh hưởng đáng kể đến sinh kế của nông dân nhưng Nghị quyết 120, một đáp ứng từ chánh phủ Việt Nam, được mong đợi để cung cấp một số hy vọng cho một sự chuyển biến trong chiến lược nông nghiệp và an ninh lương thực trong tương lai.

 

Với trên 30 năm kinh nghiệm trong việc trồng lúa, Cung Tran ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng trong Đồng bằng sông Cửu Long của Viêt Nam (ĐBSCL), quyết định không trồng lúa đông-xuân trong năm nay.  Trong những năm gần đây, vì thiếu nước ngọt và thêm nước mặn trong mùa khô, ông đã giảm vụ mùa chánh từ 3 xuống 2 mỗi năm.

Ông có thể nhớ rõ ràng cái đã xảy ra 2 năm trước.  Vào năm 2020, tất cả nông dân ông biết trong vùng đã trắng tay khi họ cố gắng để trồng mùa đông-xuân trễ (mùa thứ 3rd trong năm).  Các cây lúa xanh trở thành nâu.  Đất nứt nẻ có thể trông thấy trong nhiều ruộng lúa.  Tuy nhiên, nông dân không thể làm gì khác ngoài việc chứng kiến lúa chết.

 

Sông Mekong mất dòng chảy to lớn

Trong những năm gần đây, nông dân như Tran đã mất mùa ở huyện Long Phú, nằm kế bên sông Hậu (cũng được gọi là Bassac ở Khmer), và phần cuối của sông Mekong chảy từ Cambodia đến Việt Nam.  Và 2020 là năm tồi tệ nhất của nông dân vì họ không thể có nước ngọt.

Vào lúc đó, mực nước của sông Mekong xuống đến mức thấp nhất kỷ lục ở khúc sông Bassac chảy qua tỉnh Stung Treng ở đông bắc Cambodia, theo chánh quyền Cambodia và Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)).

Mực nước ở Stung Treng mất một số lượng tổng cộng tương đương trên 60 triệu hồ bơi Olympic trong năm 2020, so với mức trung bình 421,3 km3 từ năm 1910 đến 2008.

Phúc trình mới nhất của MRC trong tháng 1 năm 2022, Tình trạng Dòng chảy Thấp và Hạn hán Mekong trong 2019-2021, ghi nhận rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng bao nhiêu nước có thể chảy, gồm có khí hậu tồi tệ và lượng mưa thấp bất thường và thủy điện ở thượng lưu.

 

Du khách đi thuyền qua một kinh đào ở ĐBSCL vừa đối mặt với nhiều thách thức, gồm có các đập thủy điện ở thượng lưu và thay đổi khí hậu làm thay đổi dòng chảy tự nhiên của sông. [Ảnh: Tomáš Malík]

 

“Từ năm 2008, các đập chánh của Trung Hoa ở Xiaowan (Tiểu Loan) và Nuozhadu (Nọa Trát Độ) bắt đầu thay đổi đáng kể chế độ dòng chảy của Mekong,” Brian Eyler, Giám đốc Đông Nam Á (ĐNA) của Trung tâm Stimson, nói.

“Điều đó đưa đến 5 của 10 dòng chảy thấp hàng đầu của năm, so với mức trung bình từ 1910 đến 2008.”

Đó là các năm 2010, 2015, 2019, 2020 và 2021, theo dữ kiện cập nhật của MRC.  Phúc trình MRC cũng kết luận rằng trong 3 năm vừa qua, dòng chảy trong dòng chánh Mekong đã giảm đến mức không thấy trong hơn 60 năm.

“Kể từ năm 2015, chế độ thủy học đã thay đổi, với dòng chảy trong mùa khô nhiều hơn và dòng chảy trong mùa mưa giảm vì việc trữ nước trong các hồ chứa gia tăng trong lưu vực.  Và thời kỳ 2019-2021 là một ngoại lệ vì lượng mưa giảm và điều kiện khí hậu tồi tệ,” phúc trình nói.

Ngoài ra, Theo dõi Đập Mekong (Mekong Dam Monitor (MDM)), một diễn đàn trên mạng cung cấp báo cáo và dữ kiện gần tức thời của nhiều chỉ số không được công bố trước đây trong Luu vực Mekong, có thể cho chúng ta một hình ảnh rõ hơn về cái đã xảy ra trong thời kỳ 2019-2021.

“Trong mùa nắng và mưa của 2019, vùng hạ lưu Mekong trải qua hạn hán ở Chiang Saen, Thái Lan vì 11 đập trên dòng chánh ở Trung Hoa giữ lại nước đã lấy đi hoàn toàn nhịp nước đáng lý chảy ra khỏi Trung Hoa trong mùa mưa 2019,” Eyler của Trung tâm Stimson, tổ chức nghiên cứu đã đồng phát triển MDM, nói.

“Thay vì dòng chảy gia tăng trong mùa mưa như thường lệ, dòng chảy giảm lần đầu tiên và nhịp mùa mưa hoàn toàn không được quan sát trong dữ kiện.”

Tiến sĩ (TS) Nguyễn Ngọc Huy, Cố vấn Trưởng về Thay đổi Khí hậu của Oxfam ở Việt Nam, cũng liệt kê các yếu tố chánh tương tự cho cái đang xảy ra ở ĐBSCL: thay đổi khí hậu, xâm nhập nước mặn, và các đập thủy điện.

Hơn nữa, ảnh hưởng và can thiệp của con người đã tăng tốc các nguyên nhân tự nhiên, khiến cho mọi thứ thách thức hơn.  Nói vắn tắt, không có đủ nước xả từ thượng lưu Mekong và kết quả là, dòng sông hùng vĩ nầy đã mất dòng chảy tự nhiên của nó.  Thật vậy, lần cuối cùng mà sông Mekong có nhịp lũ tự nhiên là năm 2011, TS Huy ghi nhận.

 

Ảnh hưởng kinh tế và chuyển biến nông nghiệp ở trong nước

ĐBSCL cũng chứng kiến nhiều khí hậu và thời tiết cực đoan hơn trước.  Trong năm 2015-2016, nó bị nước mặn xâm nhập tồi tệ nhất kể từ năm 1991 và rồi trong năm 2019-2020.

Trong lúc hạn hán nghiêm trọng và nước mặn xâm nhập trong năm 2015-2016, nhiều tỉnh bị thiệt hại, chẳng hạn như An Giang, giảm trên 15% sản lượng thủy sản hàng năm từ 2014-2016.  Điều nầy có nghĩa là gần 1 trong 7 con cá biến mất mỗi năm trong thời kỳ nầy.

Trong một sự kiện do U.S. Mission in Vietnam (Phái bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam) tổ chức trong tháng 11 năm 2021, TS Cao Le Quyen, Phó Giám đốc Viện Quy hoạch và Kinh tế Thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD), chia sẻ ảnh hưởng kinh tế đối với việc nuôi cá ở ĐBSCL của 2 lần nước mặn xâm nhập trước đây.

Theo TS Quyen, nước mặn xâm nhập trong năm 2015-2016 gây thiệt hại cho 20.000 hectares (5% tổng diện tích nuôi cá ở ĐBSCL) với 8.716 hectares nuôi cá bị thiệt hại (1%) trong năm 2019-2020.  Cà Mau, Tiền Giang, Bến Tre, Kiên Giang và Bạc Liêu là những tỉnh bị ảnh hưởng nhiều nhất, với hàng chục ngàn mất các chủng loại, chẳng hạn như tôm, động vật thân mềm, cá chép nước ngọt, và cá tra.

Một người bán trái cây sắp xếp quầy của bà trong một chợ ướt ở thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố ở ranh giới phía bắc của ĐBSCL. [Ảnh: Francois Le Nguyen]

 

Theo dữ kiện của Tổng cục Thống kê Việt Nam, từ năm 2001-2021, có chiều hướng ngược lại trong số gia đình tham gia trong việc sản xuất lúa và thủy sản.  Trong 10 năm, 1 trong 5 gia đình trở thành nuôi thủy sản, nhưng số gia đình dựa vào canh tác giảm trên 15%.  Điều nầy cho thấy 3 trong 20 gia đình canh tác ở ĐBSCL bỏ nghề vì nhiều lý do.

Dữ kiện mới nhất cho thấy mức di dân ròng ở ĐBSCL trong năm 2019 là -8%.  Nó có nghĩa chiều hướng di dân ra khỏi gia tăng nhanh hơn di dân đi vào, với 2 trong mỗi 25 người di chuyển ra khỏi ĐBSCL trong năm 2019.

 

Con đường khả chấp đến an ninh lương thực

Ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, nông dân địa phương như Tran không biết cái đang xảy ra bên ngoài địa phương của họ, chẳng hạn như các siêu đập ở thượng lưu sông Mekong hay mực nước biển dâng vì thay đổi khí hậu toàn cầu.  Họ lấy quyết định trong việc canh tác dựa trên năng khiếu hay kinh nghiệm dày dặn, cũng như tin tức về nước mặn xâm nhập và lượng mưa từ chánh quyền địa phương.

Với 3 thập niên kinh nghiệm trong việc trồng lúa, ông thấy rằng mọi thứ trở nên tồi tệ trong 7-8 năm qua.  Nay ông phải dùng thêm phân bón nhưng năng suất vẫn xấu.  Thí dụ, trong quá khứ ông dùng khoảng 30 kg phân bón cho mỗi 1.000 m2, nhưng nay nó đã tăng lên 50-60 kg cho mỗi 1.000 m2.  Và giá phân bón trong năm 2021 tăng trên gấp đôi năm trước.

Năm nay, Tran suy nghĩ cẩn thận trước khi quyết định để đồng ruộng nghỉ ngơi vài tháng sau khi thu hoạch mùa thu-đông.  Ông không muốn thử - và trong trường hợp tệ hại – mất tất cả mùa màng hay dám cho thuê ruộng của ông cho nông dân khác.

Điều nầy được quyết định vì nước mặn có thể tàn phá ruộng lúa và có thể mất nhiều thời gian và nhân công để phục hồi.  Trong những năm gần đây, thiếu nước ngọt trong mùa khô luôn luôn là một thực tế thường xuyên trong vùng của ông.  Thỉnh thoảng, sông Long Phú gần ruộng của ông gần trơ đáy vì không có đủ nước.

Tran nhớ lại làm thế nào người dân không có ruộng quyết định thuê đất, nhưng rồi khi lúa chết, họ bị đẩy vào nợ nần.  Sau một số mùa thất bại, ông nhận thấy rằng trong 10 nông dân, có 1 người bán đất để trả nợ và di chuyển lên thành phố hay làm việc khác để sinh sống.

“Nhiều người di chuyển đến Bình Dương (cách thành phố Hồ Chí Minh 30 km) để tìm việc trong các hãng xưởng,” ông nói.

Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên viên độc lập về sinh thái ĐBSCL, nói trong một khảo sát của IUCN trong năm 2016 rằng 3 vụ một năm là quá nhiều cho một số gia đình trong tỉnh Đồng Tháp.

Có 1 gia đình phải bỏ đất và “đi Bình Dương” sau khi thử tăng từ 2 lên 3 mùa một năm.  Chất dinh dưỡng của đất cạn kiệt, chi phí canh tác cao, và tài nguyên thiên nhiên kiệt sức, theo IUCN.

 

ĐBSCL là nguồn lương thực chánh của hàng triệu người ở Việt Nam và bên ngoài.

[Ảnh: Basak Ar]

 

Nước lợ là tài nguyên và sự trỗi dậy của Nghị quyết 120

Dựa trên các phỏng vấn với chuyên viên cho bài nầy, tất cả đều thừa nhận những thách thức mà ĐBSCL đang đối mặt và ca ngợi hành động nhanh chóng của chánh phủ Việt Nam.

Sau khi khu vực bị mất mát lớn lao khi hạn hán nghiêm trọng và nước mặn xâm nhập kết hợp sức mạnh vào cuối năm 2015 và đầu năm 2016, chỉ mất 1 năm để chánh phủ công bố Nghị quyết 120 về Phát triển Khả chấp và Chịu đựng Khí hậu ĐBSCL.

Thiện nói Nghị quyết 120 cũng chánh thức chuyển nông nghiệp Việt Nam chú trọng từ một chu kỳ lúa-các hoa màu khác-nuôi cá sang thủy sản-hoa màu khác-lúa.  Trên căn bản, đây là một giải pháp dựa trên thiên nhiên thích ứng với tình trạng thật sự của Mekong để chú trọng đến thâm canh lúa và chuyển sang nông nghiệp dựa vào lũ.

Về phần mình, TS Lê Phát Quới, một chuyên viên khu vực của Trung Tâm Môi trường Toàn cầu ở Malaysia, đề nghị giảm từ 3 mùa chánh xuống 2 mùa một năm để giúp đất của ĐBSCL phục hồi.

Ngoài ra, nông dân không nên bán rơm sau khi canh tác nhưng để rơm lại trên đồng ruộng để trả lại và tăng chất dinh dưỡng cho đất.  Ông yêu cầu chánh quyền địa phương không sợ nước mặn xâm nhập và ngăn chận dòng chảy tự nhiên của các hệ thống sông bằng cách xây nhiều đê và cống.

“Đến lúc để cứu xét nước lợ như một tài nguyên thiên nhiên, và nuôi các chủng loại ở dưới nước thích hợp, chẳng hạn như tôm sông, tôm, cua, vân vân,” ông đề nghị.  “Nếu anh muốn giữ phát triển khả chấp, anh nên chú trọng đến các giải pháp để thích ứng với thay đổi khí hậu”

Chánh quyền địa phương nên tìm cách để tiến lên với hệ sinh thái tự nhiên ở ĐBSCL, và không can thiệp với nó,” TS Quới nói thêm.  Cái ông tin tưởng sẽ xảy ra là giúp cho ĐBSCL mua thời gian, cho vùng đồng bằng thời gian cần thiết để thích ứng.

TS Võ Tòng Xuân, được gọi là ‘TS Lúa’ của ĐBSCL, so sánh Nghị quyết 120 như cách để bỏ đi các hạn chế ngăn chận nông dân trồng lúa đã lâu.  Chuyên viên nông nghiệp hàng đầu và được nể nang nhất ở Việt Nam đã có một giải pháp cho ĐBSCL.

Trước hết, giảm diện tích trồng lúa trong mùa khô, nhất là các vùng đất thấp (Đồng Tháp, An Giang, một phần của Cần Thơ, Vĩnh Long).  Thay vào đó, nông dân có thể đào sâu hơn các mương nước mưa để chứa nước ngọt và lấy đất để xây vùng trồng cây ăn trái nhiệt đới có giá trị xuất cảng cao.  Nước ngầm chỉ được sử dụng cho đời sống hàng ngày.

Trong mùa khô, ông tiếp tục, các địa phương chỉ trồng lúa bên trong cái được gọi là ‘vùng an ninh lương thực’ giáp ranh với Cambodia, chẳng hạn như các tỉnh Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Long An và Tiền giang.

Những tỉnh nội đồng nầy là những vùng đầu tiên nhận nước ngọt từ sông Mekong và giữ một khoảng cách bảo đảm đến biển để tránh nước mặn xâm nhập.  Và các tỉnh ven biển có thể nuôi thêm cá hay tôm và bất cứ chủng loại nào có thể mang lại giá trị cao cho người nuôi cá.

Theo TS Xuân, nuôi cá không chỉ góp phần quan trọng cho an ninh lương thực và giảm nghèo ở ĐBSCL mà còn có thể trở thành một nguồn mạnh mẽ cho ngân sách của chánh phủ Việt Nam để đầu tư trở lại vào việc sản xuất lúa.

Về phần họ, chánh quyền trung ương và địa phương cần xây dựng một hệ thống hỗ trợ đầy đủ hơn cho nông dân, chẳng hạn như làm nghiên cứu và thương mại ở nước ngoài, giới thiệu các sản phẩm tiêu biểu có giá trị từ mỗi tỉnh, thiết lập đặc tính của sản phẩm trái cây và cá nuôi từ Việt Nam, và hành động như lực lượng hướng dẫn cho các địa phương trong việc trồng và nuôi các sản phẩm nông nghiệp.

Trong những năm gần đây, một số quốc gia tây phương chẳng hạn như Hoa Kỳ đã chú trọng đến các vấn đề liên quan đến sông Mekong.  Trong một tuyên bố, Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ Marie C. Damour đồng ý rằng chánh phủ Việt Nam đã có nỗ lực lớn để thực hiện nghị quyết, bằng chứng là việc phát triển Kế hoạch Hành động được chấp thuận trong năm 2019 để thực hiện Nghị quyết 120 về phát triển khả chấp và chịu đựng khí hậu của ĐBSCL.

Nghị quyết 120 thừa nhận rằng ảnh hưởng của thay đổi khí hậu, với mực nước biển dâng, biến đổi thời tiết nhiều hơn, và nước mặn, đã trở nên bình thường mới của ĐBSCL.

Nó cung cấp nền tảng để biến đổi việc phát triển của vùng, từ khái niệm nông gia nhỏ và tỉnh đến khái niệm xuyên biên giới, toàn đồng bằng và liên tỉnh; từ khái niệm thành phần ngắn hạn đến đường lối kết hợp, nhiều thành phần và dài hạn.

“Nghị quyết 120 cho thấy cam kết của chánh phủ Việt Nam để chống lại thay đổi khí hậu.  Chúng tôi rất quan tâm để thấy làm thế nào Nghị quyết 120 sẽ được thực hiện trong những năm sắp tới và cảm ơn công việc mà Việt Nam đã làm để tiến đến tính khả chấp,” theo Damour.

CỨU ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG KHỎI CHẾT CHÌM

 (Save the Mekong Delta from drowning)

 

G.M. Kondolf, R.J.P. Schmitt, P.A. Carling, M. Goichot, M. Keskinen, M.E. Arias, S. Bizzi, A. Castelletti, T.A. Cochrane and T. Wild – Bình Yên Dông lược dịch

Science – 5 May 2022

 


Chánh sách phải giải quyết các động cơ, không chỉ các triệu chứng, của sụt lún.

Do bởi vài thập niên của ảnh hưởng con người và việc quản lý không khả chấp tài nguyên thiên nhiên của lưu vực sông Mekong, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang rút xuống một cách nhanh chóng.  Hầu hết đồng bằng, là nơi cư trú của 17 triệu người và một cổ máy kinh tế, có thể chùi xuống dưới mặt biển vào năm 2100 (1).  Để tránh một ảnh hưởng tai họa như thế sẽ đòi hỏi những hành động có phối hợp thừa nhận những nguyên nhân cội rễ của mất đất và tầm quan trọng toàn cầu của đồng bằng.  Các đồng bằng hiện hữu và tăng trưởng nếu nguồn cung cấp phù sa từ thượng lưu vực sông xây đất đồng bằng có cùng hay lớn hơn mức độ mà dất chìm xuống bởi mực nước biển dâng tương đối và sạt lở.  Với mực nước biển dâng nhanh hơn, nhiều nguồn phù sa cần đến để duy trì phạm vi hiện tại của đồng bằng.  Chỉ có việc cai quản phối hợp và đầu tư được cải thiện, được thông tin bởi khoa học, sẽ cung cấp cho đồng bằng những tài nguyên quan trọng đó.

ĐBSCL, hầu hết nằm ở Việt Nam, là 1 trong những đồng bằng lớn nhất trên thế giới.  Đồng bằng đã được biến đổi trong thế kỷ qua thành một khung cảnh nhân tạo, hay “Bộ máy Đồng bằng” (2) cung cấp 7 đến 10% của tất cả lúa được buôn bán trên thế giới.  Đồng bằng, trên trung bình, dưới 1 m trên mặt biển, vì thế nó dễ tổn thương vì sụt lún và sạt lở ven biển.  Nhiều sáng kiến đã hổ trợ các biện pháp thích ứng ở địa phương để giải quyết các triệu chứng của một đồng bằng đang chìm, nhưng không giải quyết các động cơ do con người tạo ra ở bên dưới của sụt lún ở qui mô đồng bằng lẫn lưu vực, hay cứu xét bản chất quốc tế của lưu vực.

Trước cuối thế kỷ 20th, đồng bằng nhận 140 đến 160 triệu tấn (Mt) phù sa hàng năm từ lưu vực sông Mekong.  Trên ½ số đó nay bị chận trong các hồ chứa nước trên thượng lưu Mekong ở Trung Hoa (Lancang), 8 đập thủy điện lớn đã được hoàn tất, với 20 đập khác đang được xây cất hay dự trù.  Trong Mekong, 133 đập được xây hay dự trù, trong số đó 11 đập trên dòng chánh ở hạ lưu.  Nếu được xây như dự trù, tất cả các đập sẽ ngăn chận 96% phù sa trước đây đến đồng bằng (3).  Ngoài ra, nguồn cung cấp phù sa từ bão nhiệt đới, đưa khoảng 32% lượng phù sa lơ lững đến đồng bằng đang giảm vì đường đi của bão chuyển về phía bắc (4).

Lượng phù sa còn lại bị giảm thêm bởi việc khai thác đáy sông.  Một ước tính 54 Mt/năm cát từ sông Mekong, hầu hết ở Cambodia và Việt Nam, được dùng trong xây cất và cải tạo đất (5).  Khai thác cát làm đói phù sa ở hạ lưu và góp phần làm sạt lở ven biển và cắt lòng lạch, khuếch đại thủy triều, và xâm nhập nước mặn (6).

Quản lý đồng bằng trong lịch sử chú trọng đến việc kiểm soát nước để làm dễ dàng việc thâm canh nông nghiệp và kiểm soát lương thực, và để ngăn ngừa nước mặn xâm nhập.  Mặc dù thành công trong lãnh vực nầy, nó đã ảnh hưởng trên căn bản các tiến trình tự nhiên đã duy trì đất của đồng bằng.  Nơi các nhánh sông và dòng nước ven biển trước đây phân phối nước lũ đầy phù sa trên khắp đồng bằng và dọc theo bờ biển, đê nay giới hạn nước và phù sa vào các lòng lạch chánh, lấy đi của đồng bằng sự bồi lắng trong khi lũ lụt.  Cây đước tự nhiên ngăn chận phù sa để xây nên đất, hấp thu năng lượng sóng biển, và làm giảm sạt lở ven biển.  Tuy nhiên, đước ở đồng bằng phần lớn đã được thay thế bởi nông nghiệp và nuôi thủy sản, và đước còn lại nay đói phù sa để ngăn chận (7).

Tát cả đồng bằng sụt lún một cách tự nhiên, khi phù sa vừa mới bồi lắng nén xuống.  Đối với ĐBSCL, sụt lún tự nhiên nầy dược làm tồi tệ bởi ảnh hưởng của việc khai thác nước ngầm cho nông nghiệp và sử dụng đô thị, hiện nay là động cơ lớn nhất của sụt lún trong đồng bằng (8).  Vào năm 2100, tình huống “làm ăn như thường lệ” gây ra sụt lún trung bình tương đối đến 1,8 m, có thể đưa đến làm ngập 90% của đồng bằng.  Tình trạng tốt nhất (cấm bơm, khai thác cát, và xây đập mạnh mẽ) gây sụt lún 0,15 m, sẽ làm ngập khoảng 10% của đồng bằng (1).

Các động cơ được nói trên có thể tạo nên những chu kỳ xấu.  Thí dụ, khi nước mặn xâm nhập vào đồng bằng, nông dân có thể dùng thêm nước ngầm, hay di chuyển đến các trung tâm đô thị đã là trung tâm của sụt lún.  Khi sụt lứn tồi tệ thêm, xây đê để chận nước lũ trở nên hấp dẫn hơn với quyền lợi ở địa phương, nhưng những đê nầy ngăn chận phù sa trải ra trên mặt cùa đồng bằng và xây cao độ.

 

Giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của sụt lún

Sự hiện hữu của ĐBSCL như chúng ta biết hôm nay là do những điều chỉnh lớn lao của con người – kinh đào, đê, đập ngăn mặn, và những can thiệp thủy lực khác – đã đưa đến những biến chuyển sinh thái và kinh tế quan trọng (9,10).  Kể từ khi Việt Nam thống nhất trong năm 1975, đồng bằng đã có một số nghiên cứu và kế hoạch tổng thể, hầu hết với hỗ trợ quốc tế, để khuyến khích quy hoạch kết hợp tập trung với chú trọng đến phát triển kinh tế (11).  Mặc dù thành công trong việc biến đồng bằng thành một cỗ máy nông nghiệp và kinh tế, điều nầy càng ngày ngày đưa việc quản lý đồng bằng vào một đường lối không khả chấp với khả năng thích ứng kém, cai quản cô lập, và thiếu phối hợp với các hành động ở các quốc gia ở thượng lưu.

Chú trọng đến phát triển kinh tế xã hội và tin tưởng mạnh mẽ vào quyền lực của con người trên thiên nhiên cũng giải thích tại sao các chánh sách hiện nay đã thất bại để công nhận một cách thích đáng rằng hầu hết đồng bằng có thể rơi xuống khỏi mặt biển trung bình trong 1 đời sống của con người.  Tài liệu hướng dẫn then chốt của chánh phủ Việt Nam để phát triển đống bằng là Nghị quyết 120 (có hiệu lực trong năm 2017), có những bước theo chiều hướng đúng, nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc phát triển dựa vào thiên nhiên và khuyến khích quy hoạch kết hợp trên khắp thành phần và qui mô không gian khác nhau, và nhằm để “phát triển một kế hoạch kết hợp để phát triển khả chấp và chịu đựng khí hậu cho ĐBSCL” (12).  Nhưng Nghị quyết và “Kế hoạch ĐBSCL” trước đó xem lũ lụt, mặn và sạt lở ven biển như những thách thức kỹ thuật, đề nghị các giải pháp trên qui mô địa phương, thay vì xem chúng như những triệu chứng của những nguyên nhân bên dưới trải rộng nhiều qui mô.  Mặc dù Kế hoạch báo cáo các đề nghị để tối thiểu hóa sụt lún, tái lập việc nối kết phù sa, và gia tăng sức chịu đựng của dồng bằng.  Khoảng trống quản lý nầy cũng không vượt qua trong các kế hoạch gần đây hơn, chẳng hạn như “Kế hoạch Kết hợp Khu vực ĐBSCL” được đề nghị lên Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam trong tháng 7 năm 2020 hay phúc trình của chánh phủ duyệt xét 3 năm đầu của việc thực hiện Nghị quyết 120 (14).

Cùng lúc, đầu tư qui mô lớn tiếp tục đổ vào đồng bằng, với một hỗn hợp đầu tư để tiến tới phát triển và đáp ứng với đe dọa do thay đổi khí hậu gây ra.  Thí dụ, Ngân hàng Thế giới đã cam kết các khoản vay và tài trợ song phương gần 2 tỉ USD từ năm 2007 đến 2022.  Mặc dù mức tài trợ nầy nhỏ so với đầu tư tư nhân, các quyết định tài trợ của các tổ chức có ảnh hưởng lớn lao trong việc lập tiêu chuẩn cho các nhà đầu tư khác và có thể giúp thức đẩy đầu tư làm cho đồng bằng có sức chịu đựng hơn.  Rủi ro có tiếng là động lực quan trọng ngày càng tăng đối với các nhà đầu tư tư nhân, người chịu ảnh hưởng bởi những thí dụ hiết lập bởi các diễn viên quốc tế quan trọng.  Hầu hết tài trợ từ người cho quốc tế nhằm để giải quyết ảnh hưởng mà một đồng bằng đang chìm gây ra cho cuộc sống của cư dân để bảo vệ chống lại ngập lụt ở địa phương và sạt lở ven biển, đối phó với nguồn cung cấp nước bị nhiễm mặn, và hỗ trợ quy hoạch thích ứng.  Tuy nhiên, các đề nghị đầu tư thường nói rất ít hay không nói về các rủi ro hiện hữu lâu dài cho cuộc sống và đầu tư, cũng không nói về các cơ hội để giảm nhẹ chiều hướng đó qua những hành động có phối hợp ở qui mô lớn hơn.

 


Đáp ứng với những đe dọa

Những thách thức kéo dài từ những hệ thống cai quản từ trên xuống có thứ bậc và những đối thủ tổ chức ngăn chận sự tiến hóa tích cực đang tiếp tục.  Để cho đồng bằng kéo dài vào tương lai, có những thay đổi căn bản trong kinh tế chánh trị và mối liên hệ khoa học-xã hội-chánh sách được đòi hỏi để làm dễ dàng 6 bước thay đổi trong việc quản lý lưu vực, với chú ý đặc biệt đến phù sa.  Trước hết, đầu tư ở đồng bằng trong khắp các thành phàn kinh tế then chốt (nông nghiệp, nuôi thủy sản, giao thông, năng lượng, xây cất) và các diễn viên (các công ty quốc gia và quốc tế, các tổ hợp quốc doanh, chánh quyền quốc gia và địa phương và các diễn viên phát triển quốc tế) cần phải đăng ký và giải quyết những hậu quả của qui mô hệ thống của đầu tư của họ, chẳng hạn như ảnh hưởng của họ đối với sụt lún đồng bằng.  Điều nầy sẽ đòi hỏi các cơ chế quy hoạch được cải thiện, dựa trên việc thi hành các khuôn khổ kiểm soát.  Thú nhì, các diễn viên chẳng hạn như các nhóm xã hội dân sự và các nhà đầu tư khu vực và quốc tế có quan tâm trong đầu tư có lợi lâu dài và khả chấp phải thúc đẩy quan tâm chung trong việc thay đổi có qui mô lưu vực.  Thí dụ, họ có thể nhấn mạnh rằng tránh các đập có ảnh hưởng lớn sẽ mang lợi không những cho các cộng đồng địa phương mà còn cho đồng bằng và toàn thể lưu vực.  Thứ ba, tác động khoa học-chánh sách phải được nâng cao.  Một vấn đề trong khoa học lưu vực Mekong là những khác biệt thứ yếu giữa các nghiên cứu khoa học được nhấn mạnh.  Điều nầy cho cảm giác bấp bênh lớn đối với các tiên đoán khoa học, nhưng trên thực tế, có nhất trí khoa học rộng rãi đối với những lo ngại then chốt.  Những điều nầy nên được nhấn mạnh khi các nhà khoa học liên lạc với những nhà lấy quyết định.  Các nhà lấy quyết định, qua trao đổi, không nên lấy những khác biệt còn lại trong các điều khoa học được tìm thấy như một lý do để không hành động.

Để đáp ứng với đe dọa căn bản đối mặt với đồng bằng, các dự án trong tương lai phải không đóng góp vào sụt lứn và mất đất gia tăng, và chúng phải chịu đựng với sụt lứn trong tương lai.  Để thực hiện điều nầy, chúng tôi đề nghị rằng các biện pháp trong tương lai nên cứu xét rõ ràng qui mô trong đó các động cơ điều hành, và rằng các nỗ lực quản lý được thực hiên ở các qui mô thích hợp.  Mặc dù một số động cơ của sụt lún có thể bị ảnh hưởng bởi các hành động địa phương hay quốc gia, những hành động khác sẽ đòi hỏi sự can thiệp được phối hợp giữa Cambodia và Việt Nam, và trên toàn lưu vực, từ đó nguồn nước và phù sa cần thiết bắt nguồn.

Quy hoạch có phối hợp trên qui mô lớn hơn có lẽ không thể được vì những thực tế chánh trị hiện nay và những thách thức cai quản kéo dài.  Thay đồi những thực tế đó đến đối thoại toàn lưu vực rất cần để mở ra một không gian giải pháp lớn hơn ở đó tất cả các quốc gia duyên hà thừa nhận tình hình và có quyền lẫn bổn phận.  Ở đây, tác động qua lại khoa học-chánh sách tích cực, gồm có vai trò của kiến thức trung gian chẳng hạn như các hệ thống khu vực và các tổ chức xã hội dân sự (2,10,15), đóng một vai trò quan trọng.  Hiểu biết khoa học của những đe dọa sống còn đối mặt với đồng bằng đã rõ, và sự hiểu biết nầy phải được diễn dịch một cách tích cực thành các đề nghị chánh sách.  Diễn dịch những đề nghị như thế thành các quyết định có ảnh hưởng đòi hỏi ý chí chánh trị và hành động có phối hợp, ở qui mô quốc gia và lưu vực.  Điều nầy đòi hỏi chấp nhận rằng một số hoạt động quan trọng, chẳng hạn như bơm quá mức, khai thác cát, và phát triển thủy điện, có thể cần được giới hạn hay chấm dứt từng giai đoạn, mặc dù tầm quan trọng chánh trị và quyền lợi kinh tế của chúng.  Trong bối cảnh nầy, chúng tôi đề nghị 6 biện pháp để bảo vệ đồng bằng và cuộc sống của nó.  Chúng tôi xác định những điều dễ dàng và chướng ngại để thực hiện (Bảng S1).  Các biện pháp sẽ có hiệu quả nhất nếu có phối hợp, và thực hiện hoàn toàn sẽ là một thách thức.  Nhưng mỗi biện pháp có những tiền lệ (Bảng S1).

 

Tránh các đập có ảnh hưởng cao

Không xây đập ở những vị trí có tiềm năng ngăn chận phù sa cao nhất.  Sử dụng phân tích thành quả qui mô hệ thống (network-scale portfolio analysis) để xác định vị trí đập tối ưu để tối thiểu hóa ảnh hưởng trong khi duy trì việc sản xuất thủy điện.  Lợi ích và ảnh hưởng của nguồn năng lượng thay thế nên được cứu xét cùng với thủy điện.

 

Để phù sa đi qua hay đi vòng qua đập

Các chiến lược quản lý phù sa khả chấp chẳng hạn như tháo nước, xả nước, và đi vòng có thể cho phép một số phù sa di chuyển từ thượng lưu xuống hạ lưu, như được ghi trong hướng dẫn thiết kế đập dòng chánh của Ủy hội Sông Mekong (MRC).  Cần nghiên cứu để lượng định nếu đập hiện nay chưa được trang bị để quản lý phù sa có thể được sửa chữa.

 

Chấm dứt khai thác cát ở đáy sông từng giai đoạn

Ảnh hưởng của khai thác cát có thể được giảm qua việc thi hành tốt hơn các quy định khai thác giới hạn mức lấy cát đến một tỉ lệ khả chấp của lượng phù sa còn lại, và khuyến khích vật liệu thay thế để xây cất, thí dụ, từ các đồng lụt và vật liệu tái chế.

 

Biến chuyển nông nghiệp trong đồng bằng

Sản xuất ít hơn nhưng phẩm chất cao hơn, và chấp nhận các lề lối nông nghiệp để tối thiểu hóa việc bơm nước ngầm và nối lại các nhánh với đồng bằng.  Như được đề nghị bởi Nghị quyết 120 của Chánh phủ Việt Nam (12), giảm bơm nước ngầm bằng cách chuyển qua hoa màu ít cần nước, cải thiện việc tiếp cận với nguồn cung cấp nước mặt và duy trì phẩm chất của chúng, kiểm soát nhu cầu nước, và tái sử dụng nước.

 

Duy trì nối kết với đồng lụt của đồng bằng

Thích ứng hạ tầng cơ sở nước ở đồng bằng để cho phép dòng chảy đầy phù sa trải trên mặt của đồng bằng ít nhất 3 năm 1 lần, và công nhận lợi ích kinh tế xã hội cũa lụt và phù sa.  Ngăn ngừa đê cắt ngang các lòng lạch với đồng lụt.

 

Thúc đẩy bảo vệ bờ biển dựa trên thiên nhiên

Với chi phí thấp, đước và đất ngập nước tự nhiên là một giải pháp được chứng minh cho sạt lở bờ biển với nhiều lợi ích cho đa dạng sinh học và cuộc sống, nhưng đối với những hê sinh thái xây dựng đất, phải có một nguồn cung cấp phù sa để chúng ngăn chận.

 

Nghiêm trọng, cấp bách, cần thiết

Theo tầm quan trọng quốc gia, khu vực và toàn cầu của nó, ĐBSCL đã thu hút quan tâm lớn lao từ chánh phủ Việt Nam, các đối tác phát triển quốc tế, các tổ hợp đa quốc gia, các nhà nghiên cứu và xã hội dân sự (2,10,15).  Nhưng tính nghiêm trọng và cấp bách của đe dọa sống còn – rằng hầu hết đồng bằng sẽ chìm dưới mặt biển vào năm 2100 – chưa được đưa vào dòng chánh một cách rõ ràng trong các chánh sách và kề hoạch đầu tư then chốt.  Sáu biện pháp được đề nghị sẽ đòi hỏi những chi phí quan trọng và sẽ đòi hỏi phối hợp giữa, các diễn viên dân sự, doanh thương, và chánh trị để đi qua những được-mất giữa các thành phần ở qui mô quốc gia và khu vực.  Hồ sơ 6 biện pháp được đề nghị không dễ để thực hiện, nhưng ở trên chúng tôi phác họa một số điều làm dễ dàng sẽ cấn thiết trong việc cai quản lưu vực, thành phần tư nhân, giới học thuật, và xã hội dân sự.  Trong đồng bằng, các chánh quyền tỉnh và quốc gia có thể hành động ngay bây giờ để phát triển và thi hành các quy định cho việc quản lý nước ngầm khả chấp và đầu tư vào việc thi hành các quy định.  Trong lưu vực, các tổ chức xuyên biên giới hiện hữu phải đóng một vai trò then chốt.  Mặc dù MRC có lẽ không có quyền bắt buộc để lất quyết định phát triển chiến lược, nó cần được tăng cường vai trò của nó như một môi giới kiến thức và khuếch đại các vấn đề môi trường xuyên biên giới (15), kể cả việc cho thấy rằng hợp tác đem lại lợi ích lớn hơn hành động đơn phương.  Khi thêm đầu tư sẽ đổ vào lưu vực, đó là với sự làm mạnh thêm sức mạnh mậu dịch của ASEAN (Association of Southeast Asan Nations (Hiệp hội các Quốc gia ĐNA)), tin tức như thế sẽ rất quan trọng để quy trách nhiệm cho các nhà đầu tư chánh phủ và tư nhân về những cái giá bên ngoài của đầu tư của họ.

Các tổ chức với các hồ sơ đầu tư xuyên thành phần và xuyên biên giới tích cực, đó là các ngân hàng phát triển đa phương chẳng hạn như Ngân hàng Thế Giới và Ngân hàng Phát triển Á Châu, đã nằm trong tư thế để lượng định ảnh hưởng hệ thống của đầu tư thay vì chỉ chú trọng dến đánh giá tính khả chấp ở mức dự án (10).  Vì tính dễ thấy cao của các ngân hàng phát triển đa phương và các tổ chức quốc tế khác, cam kết của họ đối với giải pháp hệ thống và chiến lược có thể được biết giữa các diễn viên quốc gia, và họ ở vị trí tốt để hỗ trợ những cải cách thành phần và nhấn mạnh vai trò của đánh giá chiến lược và sử dụng khả chấp tài nguyên ven sông.

Tất cả những tổ chức và diễn viên đó cần mở rộng phạm vi của họ từ chú trọng hẹp hòi để việc phát triển tài nguyên năng lượng và nước của lưu vực (10) để cứu xét thêm các thành phần (đó là xây cất, lương thực) và các giải pháp toàn bộ để đối phó với các nguyên nhân cội rễ của một dồng bằng đang chìm.  Thực hiện những giải pháp đó có thể làm cho ĐBSCL là người lính gác việc quản lý đồng bằng sáng tạo và hợp nhất và thích ứng khí hậu, thay vì bị chết chìm vào cuối thế kỷ.

 

 

Mekong Dam Monitor (For July 10 - 23, 2023)

 






Sunday, July 9, 2023

CÁC NHÓM DÂN THIỂU SỐ BỊ ĐÓI KHI RỪNG ĐƯỢC KHAI QUANG Ở LÀO

 (Ethnic groups starve as forests are cleared in Laos)

Kunravee S. – Bình Yên Đông lược dịch

Mekong Eye – 26 June 2023

 


Các đồn điền chuối mở rộng ở Houayxay trong tỉnh Bokeo ở thượng Lào là kết quả của việc chuyển nhượng đất của chánh phủ nhằm mục đích nâng cao nền kinh tế quốc gia.

[Ảnh: Thitipan Pattanamongkol]

 

Rừng được khai quang để chuyển nhượng đất cướp đi thực phẩm của các nhóm Hmong mà họ thu thập từ thiên nhiên trong nhiều thế hệ.

 

BANGKOK, THAILAND – Việc giành đất ở Lào đang buộc nhiều nhóm dân tộc thiểu số Hmong bị mất tiếp cận với rừng đã cung cấp cho họ thực phẩm.  Có những mối lo sợ những dàn xếp đất đai nầy sẽ làm tồi tệ nạn đói và suy dinh dưỡng mà người Hmong đã đối mặt trong những gia đình nghèo khó.

Một người đàn ông Hmong 41 tuổi tên Toyang và gia đình ông, sống trong tỉnh Luang Namtha, ở trên bờ vực thẩm của nạn đói.  Trong nhiều thế hệ, cộng đồng thiểu số của ông đã dựa vào rừng để có thực phẩm.

Đất ẩm và giàu đa dạng sinh học trong rừng núi cung cấp cho họ cây ăn được, từ măng và nấm đến rau.

 

Nguồn: Mapbox

Bất cứ dư thừa nào từ thực phẩm họ thu nhặt được trong thiên nhiên sẽ được bán ở các chợ địa phương và cho họ một số thu nhập thêm.

Được tiếp cận với rừng tránh cho nhiều dân tộc thiểu số, nhất là những người nghèo khó như Toyang, khỏi bị đói.  Rừng cũng cung cấp nước cho trang trại của ông, nơi ông trồng thực phẩm.

Tuy nhiên, trong thập niên qua, Toyang và cộng đồng Hmong của ông đã phải chật vật để tìm thực phẩm trong thiên nhiên khi diện tích rừng thu hẹp kích thước.

 

Các dân tộc thiểu số, gồm có Hmong và Kha-mu, sống gần núi Phu Chang trong huyện Sam Nuea tỉnh Hua Phan ở thượng Lào.  Rừng trong vùng núi cung cấp thực phẩm và chất dinh dưỡng cho dân làng. 

[Ành: Citizen journalist]

 

Lái buôn bán rau cải và trái cây, một số đến từ rừng, ở một chợ đia phương trong tỉnh Hua Phan ở thượng Lào. 

[Ảnh: Citizen journalist]


Nơi từng là rừng rậm xanh thươi đã được biến thành các đồn điền độc canh đại qui mô sử dụng hóa chất rộng rãi điều hành bởi “các nhà đầu tư” đa quốc gia – họ đến thị trấn của ông sau khi được cấp đất cho thuê hay chuyển nhượng bởi chánh phủ Lào.

Cao su, chuối, khoai mì, mía, bắp, đậu và cà phê là những hoa màu được trồng trên đất được giao cho các nhà đầu tư nầy.

“Tôi không thể có được nhiều từ rừng.  Nước cũng không có nhiều, và trang trại của tôi cũng không còn màu mỡ nữa,” Toyang nói.

 

Không còn nhiều để ăn

Được phát động vào cuối thập niên 1990s, việc lấy đất là một chiến lược của chánh phủ Lào để nâng cao việc phát triển kinh tế địa phương bắng cách chuyển quyền sử dụng đất cho các nhà đầu tư ở trong nước và ngoại quốc trong một thời gian được đồng ý.

Một phúc trình năm 2020 được công bố bởi Trung tâm Phát triển và Môi trường (CDE) của Đại học Bern ở Switzerland, cho thấy rằng một tổng số 1.758 dàn xếp đất đai – bao gồm một diện tích 11.75 triệu hectares, hay khoảng 50% lãnh thổ Lào – được giao cho các nhà đầu tư.  Con số nầy được ước tính dựa trên dữ kiện được thu thập từ năm 2014 đến 2017.

 


Đất được các nhà đầu tư lấy phần lớn được dùng trong thành phần khai mỏ, nông nghiệp và đồn điền cây cối, nhất là cau su và bạc hà.  Đầu tư ngoại quốc chiếm 61% của tổng số diện tích đất đai được dàn xếp.  ½ số họ đến từ Trung Hoa, Việt Nam và Thái Lan.

Phúc trình tương tự cho thấy rằng 240 dàn xếp đất đai nầy, chiếm một diện tích 137.332 hectares, là rừng quốc gia.

Một khảo sát các cộng đồng địa phương bị ảnh hưởng bởi 296 việc dàn xếp đất thấy rằng ¼ làng trải qua việc mất tính sẵn có thực phẩm vì nhiều yếu tố, gồm có mất tiếp xúc với rừng cộng đồng, thay đổi điều kiện khí hậu và ô nhiễm hóa chất do việc thay đổi cách sử dụng đất.

 


 Somporn, một nhân viên xã hội ở thượng Lào, nói một nhà đầu tư Trung Hoa đến vùng của bà và khai quang rừng để trồng chuối, cao và các loại cây có thể ăn được khác.  Hoa màu thu hoạch được gởi trở lại Trung Hoa để nuôi dân ở đó, trong khi dân làng địa phương ở Lào bị ảnh hưởng bởi những vụ dàn xếp đất đai nầy bị đói

“Sau khi các doanh thương đến đây, và cây cối bị đốn xuống, chúng tôi còn rất ít để ăn,” một người dân tộc Hmong 37 tuổi tên Saisana từ Sam Nuea, thủ phủ của tỉnh Houaphanh ở thượng Lào, nói.

Vì các cộng đồng địa phương than phiền, chánh phủ Lào công bố một loạt tạm ngưng việc dàn xếp đất, gần đây nhất trong năm 2018, để ngăn ngừa các chuyển nhượng mới cho khai mỏ, đồn điền cao su và bạc hà.

Nhưng ảnh hưởng của việc lấy đất tiếp tục khi việc cho thuê hay chuyển nhượng có thể kéo dài đến 50 năm.

 

Nguy cơ suy dinh dưỡng

Dân làng ở thượng Lào nói với Mekong Eye rằng nay họ bị buộc phải đựa thêm vào việc mua thực phẩm vì họ không còn lấy thực phẩm từ thiên nhiên nữa, như họ đã làm trong nhiều thế hệ.

Điều nầy có lẽ sẽ gia tăng vấn đề suy dinh dưỡng, nhất là cho các gia đình dân tộc nghèo khó và trẻ con của họ, người có mãi lực hạn chế và rừng là tài nguyên cuối cùng của họ.

Chỉ số Đói Toàn cầu 2020 cho thấy rằng suy dinh dưỡng trong dân số Lào đang ở mức nghiêm trọng.  Nạn đói có thể được cảm nhận khác nhau giữa các cộng đồng vì sự khác biệt địa lý, dân tộc, giới tính hay của cải.  Mức trẻ con còi cọc trung bình 33% ở Lào trong chỉ số năm 2020, và tương tự trong chỉ số 2022.

Phúc trình 2022 khác được công bố bởi Trung tâm Dinh dưỡng thuộc Bộ Y tế Lào cho thấy rằng mức trẻ con thiếu cân dưới 5 tuổi vào khoảng 21% và suy dinh dưỡng cấp thời là 9%.

Suy dinh dưỡng được báo cáo trong 54% số trẻ con trong tỉnh Phongsali, 49,9% ở Sekong, 48,3% ở Xieng Khoang và 40,7% ở Hua Phan.  ½ trẻ em còi cọc từ các gia đình Hmong, phần lớn sống trong vùng phía bắc của quốc gia.

Một bác sĩ ở một bệnh viện trong tỉnh Phongsali nói với Mekong Eye rằng trẻ con sống trong các vùng xa xôi thường ốm và thấp vì không có đủ chất dinh dưỡng.  Cha mẹ của chúng phải làm việc ở ngoài đồng và chật vật để cung cấp thực phẩm tốt cho con cái của họ.

“Hầu hết trẻ con [ở thượng Lào] thường ăn trái cây, nấm, măng tre và côn trùng ở trong rừng.  Chúng không có nhiều thịt.  Một số cha mẹ không cung cấp cho con cái đầy đủ [với chất đạm] cho đến khi con cái của họ được 1 tuổi,” một nhân viên xã hội ẩn danh ở thượng Lào, nói.

Sitthiroth Rasphone, người cầm đầu Viện Nghiên cứu Phát triển thuộc Bộ kế hoạch và Đầu tư, nới trong Quốc hội khóa 8th trong năm 2022 rằng giới chức Lào và các thành phần liên hệ đã có những nỗ lực tiến đến việc giải quyết suy dinh dưỡng.

Ông đưa ra một số giải pháp, gồm có khuyến khích sản xuất thực phẩm nhiều loại và phẩm chất, và canh tác khả chấp.

Nhưng một số nhân viên xã hội cho thấy rằng chánh phủ đối phó không thích hợp một giải pháp lâu dài - ảnh hưởng của việc dàn xếp đất đai đối với an ninh lương thực của các cộng đồng địa phương. 

 

Giàu đa dạng sinh học trong rừng núi ở thượng Lào cung cấp cho các dân tộc thiểu số thực phẩm thiên nhiên. 

[Ảnh: Citizen journalist]

 

Các gia đình thiểu số nghèo ở Lào dựa vào thực phẩm thiên nhiên – gồm có cá nước ngọt và côn trùng – để có chất đạm. 

[Ảnh: Citizen journalist]

 

Một nhân viên xã hội ẩn danh nói rằng cai quản đứt đoạn đóng một vai trò lớn trong thất bại của chánh phủ để nối ảnh hưởng của an ninh lương thực và dàn xếp đất đai.

Thí dụ, Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp chú trọng đến năng suất của trang trại, trong khi Bộ kế hoạch và Đầu tư ưu tiên việc gia tăng đầu tư, gồm có nới rộng độc canh và dàn xếp đất.

Suy dinh dưỡng chỉ được xem từ khái niệm y tế, một nhân viên xã hội nói, và nó không được kết hợp với các kế hoạch phát triền trung ương của quốc gia.

 

Thu hút đầu tư trước hết

Song song với việc phá rừng liên quan đến việc lấy đất, thay đổi khí hậu cũng đóng một vai trò trong việc xáo trôn anh ninh lương thực cùa các dân tộc thiểu số.

Phúc trình của Tổ chức Lương thực thế giới được công bố trong tháng 4 năm 2022 đề nghị rằng thay đổi khí hậu, kết hợp với việc tiếp xúc kém với thị trường và cuộc sống đa dạng, ảnh hưởng an ninh lương thực của người dân trong các vùng cao xa xôi, nơi 25% gia đình không có an ninh lương thực.

Một phúc trình 2020 của Cục Thay đổi Khí hậu thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường nối các dự án đầu tư và phát triển khác nhau – từ các đồn điền và thay đổi cách sử dụng đất đại qui mô đến kỹ nghệ khai mỏ đưa đến việc phá rừng rộng lớn – đã góp phần vào ảnh hưởng thay đổi khí hậu, nhất là hạn hán và lũ lụt.

Phát triển nầy, nếu được thực hiện vô trách nhiệm, có thể phá hủy an ninh lương thực của dân số ở Lào, 80% kiếm sống bằng canh tác, nuôi gia súc, đi săn và thu nhặt thực phẩm.


Một số cây trong rừng ở đồi núi trong tỉnh Bokeo ở thượng Lào được đốn xuống để làm đồn điền thương mại. 

[Ảnh: Thitipan Pattanamongkol]

 

Thong Chan, một dân làng 36 tuổi sống ở Wiang Kham trong tỉnh Luang Prabang nói rằng hạn hán nghiêm trọng hơn trong vùng núi ở thượng Lào, nơi hệ thống thủy nông không đến nhiều làng dân tộc thiểu số.

“Khi rừng bị phá hủy [trong việc cho thuê đất hay vùng chuyển nhượng,] nước khô cạn hơn,” ông nói, thêm rằng tình trạng thiếu nước cũng ảnh hưởng người dân kiếm sống bằng cách nuôi gia súc.

Lu, một người Hmong 57 tuổi trong tỉnh Luang Nam Tha ở thượng Lào, nói rằng sự sụt giảm thực phẩm thiên nhiên liên quan đến phá rừng đã buộc người trẻ trong cộng đồng của bà di cư và tìm việc làm trong hãng xưỡng và lao động ở Lào và Thái Lan.

Theo quan niệm của chánh phủ Lào, ảnh hưởng của việc dàn xếp đất đai đối với các cộng đồng địa phương phải được so sánh với thịnh vượng quốc gia.

“Người dân trong nước của chúng tôi vẫn còn nghèo, và cần phải thu hút đầu tư trước tiên từ quan điểm của chánh phủ,” một viên chức Lào ẩn danh nói.

Monday, June 26, 2023

MOU ĐƯỢC KÝ KẾT CHO DỰ ÁN LỌC NƯỚC MEKONG ĐẦY THAM VỌNG

 (MoU signed for ambitious Mekong treatment project)

 

Tith Reanu Pichet – Bình Yên Đông lược dịch

The Phnom Penh Post – 3 June 2023

 

Bộ trưởng Kỹ nghệ, Khoa học, Kỹ thuật và Sáng tạo Cham Prasidh và chủ tịch Li Daosong của Beijing Urban Construction Group Co. Ltd (BUCG) ký MoU ngày 1 tháng 6. [Ảnh: MISTI]

 

Bộ Kỹ nghệ, Khoa học, Kỹ thuật và Sáng tạo đã ký một Biên bản Ghi nhớ (MoU) với một công ty Trung Hoa để hợp tác trong một nghiên cứu khả thi cho việc xây cất một hệ thồng trạm bơm để loại trừ các chất ô nhiễm hóa học khỏi sông Mekong, góp phần vào việc phát triển thành phần nước của Cambodia.

Lễ ký kết trên mạng hôm 1 tháng 6 được tham dự bởi Bộ trưởng Kỹ nghệ, Khoa học, Kỹ thuật và Sáng tạo Cham Prasidh và Li Daosong, chủ tịch của Beijing Urban Construction Group Co. Ltd (BUCG).

Hoạt động trùng hợp với lễ kỹ niệm thứ 65th của mối liện lạc ngoại giap và lễ kỹ niệm lần thứ 10th của Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Hoa, bộ trưởng sáng tạo nói.

Prasidh thêm rằng dự án đáng kể và ngoài khả năng của các công ty nhỏ, vì nó đòi hỏi một số tư bản lớn và kỹ thuật tân tiến.  Trạm bơm sẽ lấy nước từ hàng trăm km của sông Mekong và chuyển đến các nhà máy lọc nước.

“Một khi dự án được thực hiện, nó sẽ giải phóng người dân ở phía đông sông Mekong đến biên giới Việt Nam khỏi những nguy hiểm của chất độc hóa học,” ông nói.

“Như chúng ta biết, trong chiến tranh hồi cuối thập niên 1960s và đầu thập niên 1970s, Hoa Kỳ đã thả hàng triệu tấn bom trong vùng – nhiều hơn họ bỏ trong Thế Chiến II.  Họ cũng sử dụng chất da cam, một loại thuốc khai quang mạnh đã ảnh hưởng đời sống của con người và thú vật từ đó.  Hóa chất độc hại thấm vào nước ngầm và đầu độc hầu hết đất đai,” ông giải thích.

Li cảm ơn bộ đã hỗ trợ và phối hợp, nói rằng Trung Hoa cam kết để thực hiện dự án.  Ông lưu ý rằng dự án sẽ mang lợi cho người dân trong các tỉnh Kampong Cham, Thong Khmum và Kratie.

BUCG là một công ty quốc doanh lớn và được biết đến trong việc xây dựng các dự án hạ tầng cơ sở lớn ở trong nước và ngoại quốc chẳng hạn như phi trường, sân vận động, xa lộ và các nhà máy lọc nước uống và nước thải.

Để bảo đảm việc thực hiện MoU có hiệu quả, Pradidh sẽ thành lập một nhóm công tác của bộ chú trọng đến nghiên cứu khả thi.