Friday, December 15, 2017

Miền Tây rộn ràng mùa cá về sông


15/12/2017 15:53 

Đây là thời điểm dân câu lưới ở miền Tây hào hứng với mẻ cá bội thu cuối mùa cùng niềm hy vọng có một cái Tết sung túc.
Tháng 10 (âm lịch), nước lũ rút ra sông lớn và các loài cá theo đó mà "vượt vũ môn" tìm nguồn sống. Đây là thời điểm dân câu lưới miền Tây hào hứng với mẻ cá bội thu cuối mùa cùng niềm hy vọng có một cái Tết sung túc.

Những cơn gió bấc vi vu thổi qua cánh đồng xả lũ đã trơ bờ bãi. Mấy đám mạ non ở ô ruộng gò đã lấm tấm xanh, xen lẫn với màu đất xám sau mấy tháng được "tắm" trong cái mát ngọt của phù sa. Bà Nguyễn Thị Hai, người dân xã Vĩnh Tế (TP. Châu Đốc, An Giang) đang lui cui nấu bữa cơm trưa bên túp lều dựng tạm cạnh bờ kênh Tha La. Đã 30 mùa lũ, bà Hai mưu sinh với chiếc vó càng. Ngần ấy thời gian, nước lũ đến rồi đi như người bạn thủy chung nuôi sống gia đình bà. "Hồi đó, chỉ cần chiếc vó càng thôi là nhà tôi có thể sống khỏe trong mấy tháng nước lên. Cứ một lát kéo vó thì dính 2-3kg cá đủ loại. Thời đó cá đồng rẻ lắm, cả chục ký cá mới đổi được vài ký gạo, 6 miệng ăn của nhà tôi không bị đói. Những dịp mùng 10 hay 25 (âm lịch), cá "chạy" dữ lắm, sản lượng có thể gấp 2-3 lần ngày thường" - bà Hai chia sẻ.

Với dân câu lưới cố cựu như bà Hai, con nước cuối mùa lũ được xem là bội thu nhất năm. Những con cá đồng sau mấy tháng "lang thang" trên đồng đã lớn nhanh và theo con nước xuống kênh, rồi từ kênh ra sông lớn. "Ai sống nhờ con cá đều chờ đợi thời điểm này. Sắp nhỏ kéo dính hơn 70kg cá mỗi đêm mang ra chợ bán kiếm được 600.000-700.000 đồng/ngày. Ngặt nổi con nước cuối mùa chỉ được vài bữa nên ai cũng phải để dành mua sắm cho cái Tết" - bà Hai thật tình. Cá từ vó kéo lên được chia thành 2 loại. Những loại cá ngon có giá cao như: cá heo nước ngọt, cá kết, cá trèn… bà Hai mang ra chợ Tha La bán từ lúc 4 giờ sáng. Còn lại mớ cá hủn hỉn, bà đợi bạn hàng chạy xuống tới vó cân về ủ mắm với giá 8.000 đồng/kg. Bà bật mí, cá hủn hỉn tuy rẻ nhưng khi ủ mắm thì trở thành thứ đặc sản dân dã của người dân miền Tây, không nơi nào sánh được.

Kéo vó càng trên kênh Tha La

Cũng là dân câu lưới lâu năm, anh Phạm Văn Út (ngụ xã Nhơn Hưng, Tịnh Biên, An Giang) hiểu mùa lũ như chính bàn tay của mình. "Con cá cuối mùa lũ là ngon nhất bởi nó đủ lớn để mình thưởng thức. Tập tính loài cá theo nước mát mà đi, chúng sẽ gom từ cánh đồng lên đến cửa đập tràn Trà Sư. Vì vậy, những ngày này dân câu lưới tập trung lại cửa đập đánh bắt cá bằng đủ cách, người thì chài lưới, người cầm vợt xúc, người ngồi câu… Người nào "yếu nghề" thì cũng được vài ký về nhà ăn, nếu là dân có kinh nghiệm thì đủ đem ra chợ bán" - anh Út tỏ ra am hiểu. Mấy năm nay, anh Út mở thêm quán phục vụ cá đồng bên cạnh cái nghề câu lưới nên đồng vô khá hơn. Tuy nhiên, anh Út vẫn háo hức chờ đợi mùa cá về sông để được tận tay bắt những con cá ngon, phục vụ thực khách khắp nơi ghé lại quán Ven Sông của mình.
Thời điểm này, lượng cá đồng dồi dào nên các món ăn tại quán của anh Út khá phong phú và giá cả cũng bình dân. "Năm nay, lũ "đãi" dân câu lưới nên ai cũng bắt được kha khá. Tôi thu mua cá tươi để phục vụ thực khách chừng 30 bàn/ngày, mình có "cơm" thì dân bà cậu cũng có "cháo". Chỉ mong là từ đây cho đến cuối mùa nước, cá đồng sẽ có đều đều, bởi từ năm 2011 đến nay thì chỉ mùa lũ này dân câu lưới kiếm được kha khá trong mấy tháng nước lên" - anh Út thật tình.

Mùa lũ năm nay "đãi" dân câu lưỡi khá hơn. Ảnh: THANH TIẾN

Từ lâu, con xép Năng Gù nổi tiếng với nghề dỡ chà của ngư dân Châu Phú bởi yếu tố cha truyền con nối. Đặc biệt, nghề này bội thu nhất là vào thời điểm cá ra sông. Với cách khai thác cá "thân thiện" với thiên nhiên, dỡ chà mang nét độc đáo riêng, thể hiện trí thông minh của lớp ngư dân đầu tiên cắm sào trên đất đồng bằng. Năm nay, ông bảy Hồng (ngụ xã Bình Mỹ, Châu Phú) phấn khởi hơn bởi đống chà của mình dính nhiều cá so với mấy mùa nước trước. Nhanh tay rút những nhánh chà ném lên bờ, bảy Hồng khề khà: "Mùa trước, mỗi lần gạn chà chưa đến trăm ký cá. Mùa này khá hơn, sản lượng cá nhiều gấp đôi nên tôi mừng lắm. Cá dỡ chà thì đủ loại, từ cá dảnh, cá mè vinh, cá vồ đém cho đến cá chốt chuột, chốt gạo, cá ngát… đều dính hết. Bạn hàng mua với giá 17.000 đồng/kg, trừ chi phí thức ăn, vật liệu, nhân công thì tôi còn kiếm được vài triệu đồng. Nửa tháng mới dỡ chà một lần nên thu nhập chỉ đủ trang trải trong gia đình, còn một mớ dành ăn Tết".

Những con cá nhảy "tanh tách" khỏi mặt nước khi chiếc lưới gạn chà dần thu hẹp lại khiến người xem trố mắt thích thú. Với bảy Hồng, mùa cá năm nay sẽ khá hơn bởi nước lũ còn thương những người theo nghề hạ bạc như ông. "Đám trẻ không mặn mà với nghề này nên tôi phải ráng mà theo. Nếu mình siêng năng thì chắc lũ cũng không phụ mình, chỉ mong năm nào nước lũ cũng mang đến nguồn thu khá cho chúng tôi để dân câu lưới còn có thể háo hức trông chờ mùa cá về sông" - bảy Hồng trải lòng.

Theo THANH TIẾN (TTMT)





Thursday, December 14, 2017

GS. Thái Công Tụng: Rừng, lá phổi của nhân loại



1. Tổng quan
2. Các loại rừng trên thế giới
* Đồng rêu đới lạnh
* Rừng  taiga
* Rừng  ôn đới
* Rừng mưa ôn đới
* Rừng Địa Trung Hải
* Thảo nguyên
* Savan hay rừng có đới nóng
* Rừng rậm rụng lá nhiệt đới 
* Rừng mưa nhiệt đới
3. Vai trò của rừng trong môi trường và cuộc sống:
* Rừng bảo vệ đất
* Rừng với khí quyển
* Rừng chống nạn cát bay/ chắn sóng ven biển
* Rừng giúp cho sức khoẻ
* Rừng cung cấp gỗ củi
* Rừng cung cấp các lâm sản ngoài gỗ
* Rừng có nhiều cây cho tinh dầu
* Rừng cung cấp thuốc trị bệnh
* Rừng là kho gen qúy giá
* Rừng cho nhiều loại trái cây ăn được
* Rừng là lá phổi của hành tinh ta ở
* Rừng với nước
4. Rừng và tâm linh
5. Bảng sau đây tóm tắt các dịch vụ của rừng.
6. Hậu quả của sự phá rừng:
7. Cải thiện môi trường rừng

***



1. Tổng quan

Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố năm 2011 là năm quốc tế về rừng để báo động về sự tàn phá rừng một cách đại quy mô với trung bình 350km2 rừng bị mất đi  mỗi ngày, làm tổn thương sự  đa dạng sinh học và làm tăng thêm sự sưởi nóng toàn cầu.
Trái Đất xưa kia rất nhiều rừng; rừng che phủ mọi nơi; sự mục rửa cây cối trong những điều kiện nhất định đã tạo nên dầu hoả, mỏ than. Xưa kia, người thưa thớt, sống du mục, săn bắn. Nhưng dần dà, dân đông, nhu cầu chất đốt, nguyên liệu làm nhà cửa, đồ mộc nên con người khai thác rừng làm diện tích rừng thu hẹp.

Theo tài liệu của Tổ Chức Lương Nông Quốc Tế FAO, các loại rừng cây bao phủ gần 4 tỷ hecta tức 30% của diện tích đất trên thế giới, nhưng mỗi năm lại mất đi trên 7 triệu hecta do phá rừng để lấy đất trồng trọt. 

Nếu có ai hỏi hãy tìm chỉ một cá thể duy nhất vừa bảo đảm đất giàu, vừa điều hòa được nước và lụt, vừa phát sinh hơi nước, vừa tồn trữ cacbon, vừa thanh lọc không khí, vừa điều hòa nhiệt độ, vừa chứa động vật và thực vật, vừa làm đẹp cảnh quan thì chắc hẳn câu trả lời đó là một cây và cây lại là một phần của rừng. Con người từ thời thượng cổ cách đây mấy trăm ngàn năm cũng phải dựa vào rừng mà sống:  săn bắn, củi đốt, làm nhà, thuốc thang đều nương vào rừng. Không rừng, con người không có nguyên liệu, không muông thú để săn bắn. 
Trong bài quốc ca của Việt Nam thời trước 1945, còn gọi là Đăng Đàn Cung, có câu hát:
        Kìa núi vàng bể bạc, có sách trời, sách trời định phần
Núi vàng không phải là núi có vàng mà ý nói là núi chứa đựng nhiều tài nguyên trong đó rừng là một. Rừng chính là vàng xanh; rừng còn qúy hơn vàng vì rừng ảnh hưởng đến khí hậu, đến thủy văn, đến sức khoẻ con người. Qủa vậy, rừng có nhiều chức năng liên hệ đến môi trường thiên nhiên và nhân văn.

2. Các loại rừng trên thế giới

Đi từ cực địa cầu đến xích đới, có 8 loại rừng lớn như: đồng rêu đới lạnh, rừng taiga còn gọi là rừng thông phương bắc, rừng lá ôn đới, rừng Địa Trung Hải,  thảo nguyên, xavan hay rừng có đới nóng, rừng rậm nhiệt đới, rừng ngập nước.

2.1. Đồng rêu đới lạnh (toundra) nằm trên các vùng có băng đóng vĩnh viễn trên mặt đất. Ngày mùa hạ rất dài. Mùa đông, đêm kéo dài hàng tháng. Do đó thực vật chỉ là rêu và địa y (lichen)

2.2. Rừng taiga, còn gọi là rừng thông phương Bắc (forêt boréale de Conifères) có phía bắc giáp với vùng toundra, phía nam giáp với vùng rừng hỗn hợp lá kim và lá rộng. Rừng taiga ở phía Alaska, bắc Canada, Bắc Âu, bắc Siberia nằm thành một đới dài trên Trái Đất. Rừng taiga có những loài cây lá nhọn như thông (Pinus), linh sam (Abies), vân sam (Epicea), thông rụng lá (Larix). Khí hậu rừng taiga lạnh, mùa đông kéo dài. Động vật thường gặp là tuần lộc (caribou), nai sừng tấm (orignal) sống và di chuyển từng đàn hàng ngàn con và các loài thú ăn thịt như gấu, chó sói, cáo ...Riêng Quebec, các vùng bắc Baie Comeau, bắc Sept Iles, bắc Abitibi có nhiều loại rừng này.

2.3. Rừng ôn đới phát triển mạnh ở Đông Canada, Đông Bắc Hoa Kỳ, Tây Âu và Đông Âu.. Loại rừng này vừa có cả các loài thực vật có lá rụng: cây bulô (bouleau), cây dương (peuplier), cây phong (erable), cây sồi rừng ( hêtre), cây sồi (chêne), vừa có cả cây loại thông (conifers) như cây thông (pin), cây lãnh sam (sapin), cây cù tùng ( sequoia), cây thông bá hương ( cèdre)
Có lá rụng mùa thu: 
Anh đi rừng chưa thay lá
anh về rừng lá thay chưa
phố cũ bây chừ xa lạ
hắt hiu đợi gió giao mùa

Rừng thu lá úa em vẫn chưa về
Rừng đông cuốn gió em đứng bơ vơ
Rừng thu thay lá mây bay buồn rầu
Rừng đông buốt giá mưa bay rạt rào

Đây là vùng nhiều cây phong (Acer) có lá vàng đỏ vào mùa thu. Lượng mưa vừa phải; lá rụng vào thu, tạo một lớp lá khô dày đặc trên đất. Có nhiều thú như hươu, nai. Truyện Kiều có câu: 
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Người về chiếc bóng năm canh ...

là nói đến loại rừng ôn đới có nhiều ở Trung Quốc

2.4. Rừng mưa ôn đới (temperate rainforest; forêt pluviale tempérée)
Có ai đã đi Vancouver và miền Bắc British Columbia thì chắc hẳn nhận thấy vùng này mưa nhiều, mưa quanh năm và ít tuyết. Gặp ở Tây Bắc Hoa Kỳ như tiểu bang Washington, Oregon, gặp ở Tây Bắc Canada như bắc Vancouver. Ngoài ra, rừng này có ở Tân Tây Lan (New Zealand), Đông Australia.

2.5. Rừng Địa Trung Hải thường gặp không những ở các xứ quanh bờ Địa Trung Hải mà còn  có mặt ở Nam Cali (Hoa Kỳ) ) và bắc Mexico mà danh từ địa phương gọi là 'chapparal ', miền Nam Australia, Nam Phi.. Mùa hè nóng. Thực vật khá đa dạng vì gồm những cây như sồi xanh (Quercus ilex), sồi bần (Quercus suber), nhiều loài thông bá hương (Cedrus) cũng như cây bạc hà (Eucalyptus) trong các rừng ở Australia. Loại rừng này gặp quanh vùng Địa Trung Hải nhưng cũng có mặt ở Cali (Mỹ)

2.6. Thảo nguyên (steppe) gặp ở các xứ Trung Á và Trung Quốc
Thực vật rất nghèo, chỉ vài cây bụi nhỏ với đám cỏ thấp, có rễ rất dài ăn xuống các lớp đất sâu để hút nước. Nhiều cây mọc rất nhanh về mùa xuân khi mặt đất còn ẩm ướt, chúng lớn lên ra hoa, tạo qủa trong vòng 1 tháng rồi chết. Động vật hoang mạc có lạc đà một bướu, linh dương. Sự thích nghi của động vật với đời sống hoang mạc rất rõ nét biểu hiện ở các điểm chống cự được với khô nóng như giảm sự tiết mồ hôi và nước tiểu, hoạt động chủ yếu về đêm, có đời sống chui rúc trong đất. 

2.7. Savan hay rừng có đới nóng như ở Mali, Niger. Khi mùa khô kéo dài quá 3 tháng và lượng mưa ít dần thì rừng nhiệt đới thưa dần và nhường chỗ cho thảo nguyên. Thảo nguyên có nhiều dạng, từ thảo nguyên có cây thưa thớt rải rác trên cánh đồng cỏ mà mùa xuân 'cỏ non xanh tận chân trời '  đến thảo nguyên chỉ có thỉnh thoảng vài lùm bụi . Vào mùa khô, cây rụng lá vì thiếu nước, cỏ cũng bị khô cằn. Sự đốt rừng nguyên thủy ở Phi Châu và châu Mỹ nhiệt đới đã tạo những thảo nguyên rộng lớn với nhiều động vật móng guốc tăng lên .Động vật có ngựa vằn, hươu cao cổ, tê giác. Chúng thích nghi với sự vận chuyển trên đồng cỏ hoang vu (thân thon, chân co dà khỏe, có guốc). Có những loài thú ăn thịt thích nghi với sự chạy nhanh, chúng săn bắt thú ăn cỏ (sư tử, báo ..), có những loại chim như đà điểu . Sâu bọ có cào cào, châu chấu (criquet pelerin).Châu Phi có cây bao bab có thân rất to.
Việt Nam có nhiều savan cỏ tranh (Imperata cylindrica).

2.8. Rừng rậm rụng lá nhiệt đới (deciduous dense forest) như ở Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và vùng xích đạo Amazone, Phi Châu. Khí hậu nóng và ẩm. Lượng mưa lớn do đó rừng có nhiều tầng, cao, rậm rạp. Mặt trời ít khi xuống tận mặt đất. Cây to, dưới gốc có 'bạnh' như cây bằng lăng, trên thân có phong lan, tầm gửi chằng chịt.

2.9. Rừng mưa nhiệt đới (wet evergreen forest, còn có tên là tropical rainforest). Gặp ở vùng Amazonie của Bresil, Congo bên Phi Châu, Đông Nam Á, Indonesia. Riêng rừng vùng Amazone đã chiếm 5.500.000 km2 trong đó 60% diện tích nằm trong xứ Bresil, còn lại nằm trong các xứ Peru, Colombia, Venezuela, Bolivia , Guyana, Surinam


 
Bên Úc châu cũng có  loại rừng này,   đông bắc Queensland 


Mưa suốt bốn mùa, nhiệt độ nóng đều  (từ 24 độ C đến 30 độ C) nên cây cối rậm rạp, giây leo chằng chịt, nhiều loài phụ sinh trên thân cây, lá xanh quanh năm; có trên 100 loài thực vật trong mỗi hecta.  Lượng mưa lớn do đó rừng có nhiều tầng, cao, rậm rạp. Mặt trời ít khi xuống tận mặt đất. Cây to, dưới gốc có 'bạnh' như cây bằng lăng, trên thân có phong lan, tầm gửi, mây chằng chịt. Động vật phong phú với vượn, khỉ, sóc, chim, voi, trâu rừng, thỏ. Tuy chỉ chiếm 7 % diện tích đất nhưng trên 50% chủng loại động vật và thực vật là nằm trong loại rừng này. Do đó, đây là hòn ngọc, là hột xoàn về đa dạng sinh học của hành tinh chúng ta.     

Cùng một vùng khí hậu, nhưng các quần xã thực vật khác nhau vì tính chất lý hoá của đất khác nhau:
* gần biển, trên đất mặn, có rừng ngập mặn, vừa úng nước, vừa nhiều mặn gồm các loại cây như cây mắm (Avicennia), cây đước (Rhizophora), cây vẹt, cây bần  là những cây dễ bám trụ trên đất còn dao động với biển. Động vật bao gồm nhiều loài như ngao, sò, ốc, hến, tôm, cua, ghẹ, cá… Trong rừng, ta còn gặp đủ các loài sống trên cây, trên đất, ăn lá, mật hoa, quả và hạt như khỉ, sóc, chuột, lợn rừng, ong, ngoài ra các loài ăn sâu bọ, ăn thịt và ăn tạp khác như rái cá, mèo cá, rắn, kì đà, cá sấu, dơi, nhiều nhất là chim, sống tập trung thành những sân chim hàng chục vạn con như cò, ngỗng, bồ nông, sếu, mòng biển…

* xa hơn phía sau rừng ngập mặn, có rừng tràm (Melaleuca)  





- rừng ven sông suối:
Sông Tần một giải trong xanh
Loi thoi bờ liễu mấy cành dương quan

Loi thoi chứ không phải lôi thôi! Loi thoi bờ liễu nghĩa là bờ liễu không thẳng, nhô ra, nhô vào

- rừng miền đồi núi đá vôi có cây ưa vôi, phát triển chậm, nhưng gỗ rát cứng như trai, nghiến
Trên Dalat có nhiều rừng thông 2 lá (Pinus merkusì), thông 3 lá (Pinus Khasya), tùng Juniperus), bách tán (Araucaria excelsa).
Vùng Đông Bắc như Sơn La, Lai Châu, Fan Si Pan, có các cây pơmu (Fokiena hodginsì), samu (Cunninghamia lanceolata), du sam (Keteleeria davidiana) là các cây gỗ qúy

- rừng khộp có  nhiều cây  họ Dipterocarpaceae tại các vùng cao độ thấp có mùa khô rõ rệt như Ban Don, Cheo Reo
Vùng mưa đều và mùa khô ít rõ rệt, có rừng dày luôn luôn xanh (Kontum, thượng nguồn Trị, Thiên, Nam, Ngãi), có cây trắc (Dalbergia cochinchinensis), giáng hương (Pterocarpus pedatus), cẩm lai (Dalbergia oliverrì), gụ (Sindora cochinchinensis)..

Trở lên là nói về các loại rừng. Nhưng sự phân phối địa lý rừng thì không đồng đều: Có 5 xứ rất giàu về rừng (Liên Bang Nga, Bresil, Canada, Hoa Kỳ và Trung Quốc) và diện tích rừng 5 xứ này đã chiếm trên nửa (53%) của diện tích rừng trên toàn thế giới. Nam Mỹ với rừng Amazonie chiếm 21% diện tích rừng trên thế giới.Trong 64 xứ tổng số trên 2 tỷ người thì trái lại rừng chỉ chiếm 10% của lãnh thổ. Cũng lại có nhiều xứ nhỏ khác thì hầu như toàn là rừng như đảo Dominica miền Caraibes, Guyane thuộc Pháp (98%), Suriname (95%), Seychelles (88%). Ở lục địa Phi châu, rừng chiếm nhiều diện tích ở Congo, Gabon, Nam Phi.

3. Vai trò của rừng trong môi trường và cuộc sống

- Rừng bảo vệ đất: Khi mưa xuống, nước mưa một phần được tàn cây ngăn chận, một phần  chảy xuống thân cây rễ cây nên tốc độ dòng chảy chậm hơn và có thì giờ thấm dần vào lớp đất sâu tới lớp nước ngầm, tạo thành dòng chảy trong đất, nhờ vậy, đất bớt xói mòn hơn. Nếu không có rừng, sự xói mòn sẽ chuyên chở các bùn cát xuống các hồ nhân tạo trữ nước trên núi, làm trữ lượng nước trong hồ bị giảm mạnh. Khác với đất trồng trọt, đất rừng tự cung cấp lấy các dưỡng liệu vì nhờ rừng nên đất có thảm cỏ lá mục, cải tạo môi trường đất, có tác dụng nâng cao độ phì nhiêu của đất. Mất rừng dẫn đến lớp phủ thổ nhưỡng bị rửa trôi, lòng hồ đập bị nâng cao, các dòng sông nhỏ bị lấp đầy, đáy lòng sông chính bị nâng cao, các cửa sông bị thu hẹp sau mỗi mùa lũ, thậm chí sau mỗi trận/đợt lũ lớn. Các cửa sông, lối thoát ra biển của nước lũ bị thu hẹp do trầm tích từ trên cao đổ về, sẽ kéo dài thời gian ngập lũ, nhất là vào lúc triều cường.

- Rừng với khí quyển: rừng chuyển vào không khí nhiều oxy hơn; do quang hợp, cây rừng đã đưa vào khí quyển trung bình 16 tấn ôxi/ha rừng, giữ cân bằng nồng độ ôxi của bầu khí quyển. Đó là lí do các công viên có cây xanh rất cần trong thành phố.

- Rừng chống nạn cát bay/ chắn sóng ven biển: Nhiều nơi như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên có nạn cát bay làm cát chiếm các đồng ruộng, đường sá: mùa mưa, cát trôi thành suối cát; mùa hè, gió Lào khô nóng thổi mạnh xen kẽ với gió mùa Đông Nam gây nạn sa mạc hoá. Do đó, trồng cây cố định các đồi cát là việc ảnh hưởng tích cực đến môi trường.

- Rừng giúp cho sức khoẻ. Rừng tác động thuận lợi đến sức khoẻ loài người vì trong rừng, khí hậu trong lành, ít ô nhiễm, ít tiếng động, ít bụi bặm và nhờ vậy, tâm hồn bớt căng thẳng.

- Rừng cung cấp gỗ củi: gỗ làm bàn ghế giường tủ; củi nấu ăn, nung trong lò gạch, làm than. Kỹ nghệ gỗ và nhất là kỹ nghệ bột giấy ở Canada rất phát đạt. Riêng tại tỉnh bang Quebec, cứ trong 6 công việc thì đã có 1 liên hệ đến ngành rừng như nhà máy cưa xẻ, nhà máy giấy, xưởng làm đồ mộc.

- Rừng cung cấp các lâm sản ngoài gỗ. Các dân tộc ít người sống miền núi thường thu lượm, biến chế, buôn bán các sản phẩm ngoài gỗ như: nấm, mật ong, măng tre, mây, hoa lan, dược thảo, trầm..Nấm trong rừng có nhiều loại: nấm mèo đen, nấm mèo trắng, bào ngư, linh chi, hầu thủ v.v. Nấm mèo (Auricularia polytricha), còn có tên là mộc nhĩ là nấm sống trên gỗ mục. Vùng núi có nấm hương (Agaricus rhinozerotis) có mùi thơm, ăn ngon.. Trong rừng có tre, có nứa (Neohouzeaua) sặt (Arundinaria), luồng (Dendrocalamus), trúc (Phyllostachys) và các loài tre này dùng trong nhiều việc: dụng cụ trong nhà (làm đủa, đan thúng, tăm, giường), dụng cụ bắt cá (lờ, rọ, cần câu ..), bẫy chuột, làm vách phên nhà, làm dụng cụ săn bắn (cung, tên), làm dụng cụ âm nhạc (sáo), làm giấy

- Rừng có nhiều cây cho tinh dầu. Nhiều thực vật cho phẩm nhuộm: phẩm vàng như nghệ, hoa hoè; phẩm đỏ như lá cẩm

 - Rừng cung cấp thuốc trị bệnh.  Xưa kia, con người nhờ các loại cây cỏ trong rừng để chữa bệnh vì cây cỏ có chất làm lành vết thương, giải nhiệt, giải độc, mụn nhọt, trị cảm cúm, trị ho.. Ngày nay, dù khoa học có tiến bộ nhưng rừng vẫn là nơi các thực vật cung cấp nguyên liệu để khảo cứu, trích các tinh dầu.
 Nạn sốt rét gây tàn phá làm chết rất nhiều sinh mạng. Cây quinquina (Cinchona sp) cho chất quinine và các thuốc trị sốt rét như chloroquine, quinacrine, primaquine đều từ quinine mà ra. Chất này không phải chỉ trị sốt rét mà còn dùng chữa nhều bệnh khác nữa.
Trong quãng 3 000 cây chứa các đặc tính chống ung thư thì có đến hơn 2 000 cây từ rừng nhiệt đới. Riêng Việt Nam có hàng trăm loài thực vật chứa các alcaloit khác nhau và các alcaloit có thể dùng làm nhiều loại thuốc, đáng chú ý là các alcaloid có tính chất kháng sinh và an thần.

- Rừng là kho gen qúy giá
Rừng là một ngân hàng tài nguyên gen to lớn vì chứa rất nhiều thực vật, động vật từ chim, thú, thực vật khác nhau nên một khi phá rừng thì nguồn gen vĩnh viễn bị mất đi.

- Rừng cho nhiều loại trái cây ăn được

 .trái sim: Nhiều loài cây trong rừng có trái ăn được: sim, mồng quân, dâu rừng, giẻ ..
Đói lòng ăn mớ trái sim
Nhịn ăn khát nước đi tìm người thương
. trái dâu rừng  mọc chủ yếu ở vùng núi, trung du nhiều tỉnh miền Trung, khi chín có màu đỏ rực, được biết đến nhiều nhất ở vùng rừng núi của Quảng Nam ( huyện Nam Giang, Tiên Phước, Phước Sơn, Trà My..) Không như các loại dâu khác mọc ra từ cành lá, quả dâu rừng lại phát triển từ thân cây. Thừa Thiên, vùng Truồi cũng có dâu rừng.

Dâu rừng chín đỏ trên cây


Thừa Thiên, vùng Truồi cũng có dâu rừng:

Quít giấy Hương Cần
Cam đường Mỹ Lợi
Vải trạng cung Diên
Nhãn lồng Phụng Tiên
Đào tiên Thế Miếu
Thanh trà Nguyệt Biều
Dâu da rừng Truồi
Hột sen hồ Tịnh

- Rừng là lá phổi của hành tinh ta ở
Khi trái đất còn hỗn mang, trái đất không có cây cối. Dần dà, trái đất có cây xanh lá chứa chất diệp lục; chất này có đặc tính hấp thụ được một phần năng lượng mặt trời qua hiện tượng quang hợp. Trước kia, trái đất cũng không có oxy và cũng chính nhờ hiện tượng quang hợp này, mà có oxy: trong sự quang hợp, cây hút CO2 và nhả ra oxy. Chính nhờ rừng hút bớt được chất CO2 do khói nhà máy, khói xe cộ nên rừng là 'giếng' chứa cacbon (carbon sink).





- Rừng với nước. Rừng bảo vệ nguồn nước, hạn chế thiên tai. Nếu không có rừng đầu nguồn trên lưu vực thượng lưu, sự xói mòn đất đai của thượng lưu dòng sông sẽ chuyên chở bùn cát hư hại mùa màng ở hạ lưu, khiến hoa màu bị thiệt hại. Lượng nước bốc hơi từ đất rừng thấp hơn ở nơi không cây cối vì trong rừng, nhiệt độ thấp hơn ngoài đồng trống. Rừng giúp giảm cường độ của gió, chưa kể đến hấp thụ cacbon mà cacbon, tức khí CO2 là khí làm gia tảng sự biến đổi khí hậu. Lớp thảm mục dưới tàn cây rừng che chở đất bớt bốc hơi nên ẩm độ trong đất rừng cao hơn đất trống vì nước được giữ lại; nhiệt độ đất trên đất rừng thấp hơn đất trống trải. Khi chế độ nước khô hạn, khi nhiệt độ đất cao thì đó là các điều kiện để sa mạc hoá. Rừng tích nước cho các dòng sông, tạo ra và duy trì độ phì nhiêu cho đất, là hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học lớn nhất trên cạn.
Tóm lại rừng cung cấp nguyên liệu cho kỹ nghệ (cưa xẻ, giấy, đồ mộc), tạo công ăn việc làm, giảm lụt lội, chống xói mòn, nơi trú ẩn cho động vật hoang dã, đóng góp rất lớn vào cải thiện khí hậu và đất đai, tạo môi trường sinh thái cho du lịch và như vậy đóng góp không nhỏ vào sức khỏe và đời sống con người. 

4. Rừng và tâm linh 

Rừng là một phần của thiên nhiên, của tạo vật và là một tài nguyên vô giá. Nó là nguồn rung cảm của thi nhân, là nguồn năng lượng xanh, tái tạo được
Vào rừng, thở không khí trong lành, nhìn sao ban đêm, nhìn suối, nghe nước róc rách, bướm lượn nhởn nhơ, chuồn chuồn, nghe côn trùng rỉ rả, mặt trăng lên, sao đêm nở đày trời, giúp ta tránh được các căng thẳng của cuộc sống máy móc đô thị, giúp ta quên đi những nỗi nhọc nhằn của thể chất và của tâm linh, ngỡ lòng mình là rừng, ngỡ hồn mình là mây (thơ Hồ Dzếnh),  tạo điều kiện giúp con người thoát tục dễ dàng hơn, buông xả được các bụi bặm phù du phiền muộn của cái tôi, -vô ngã- để hoà mình vào nhịp sống bao la của vũ trụ. Ta cũng thấy trước cảnh vật bao la của vũ trụ rằng con người chỉ là một thành phần nhỏ bé và từ đó cảm thấy khiêm tốn hơn .Mà khiêm tốn giúp cho con người đến đức tin chân thật và đức tin chân thật mới hưóng dẫn con người đến được nơi có Thượng Đế ngự trị dễ đi vào nội tâm hơn.
Vào rừng để thấy vô thường: mùa xuân cây trổ lộc non, mùa hạ lá cây xanh um nhưng mùa thu lá vàng úa “Nhìn những mùa thu đi, em nghe sầu lên trong nắng/ Và lá rụng ngoài song, nghe tên mình vào quên lãng/ Nghe tháng ngày chết trong thu vàng (…) Đã mấy lần thu sang / Công viên chiều qua rất ngắn / Chuyện chúng mình ngày xưa, anh ghi bằng nhiều thu vắng, đến thu này thì mộng nhạt phai” và mùa đông cành lá trơ trụi khẳng khiu.
Vào rừng giúp cõi lòng lắng xuống, giúp ta dễ đồng nhất với vũ trụ, cảm nghiệm lẽ trời trong tĩnh lặng để buông xả, để phá chấp. Tóm lại là vô trụ, nghĩa là không bám víu . . . . .Buông xả thì hết phiền não. Ta khổ vì ta nắm chặt. Ta khổ vì ta nắm chặt các tị hiềm
Vào rừng yên tĩnh thì  con người thư giãn, thoải mái hơn, vì vậy, rừng là nơi an dưỡng tinh thần ; rừng Thiền là nơi để tu tập thiền định, thiền quán. Thiền định, thiền quán chính là hàm dưỡng nội lực, bản lãnh .Các tu viện Thiền thường ở các vùng có rừng núi thiên nhiên, giúp cho con người tìm lại chính mình, xa lánh những sinh hoạt lăng xăng rầm rộ, như vậy đó là môi trường tạo điều kiện giúp cho tâm con người mát mẻ, vắng lặng, dễ thoát vòng tục lụy, dễ giác ngộ, dễ giải thoát.
 



5. Bảng sau đây tóm tắt các dịch vụ của rừng


Dịch vụ của rừng                                                  Ví dụ

Cung cấp
gỗ củi                                                                    gỗ làm nhà, đóng bàn ghế
thuốc trị bệnh                                                        trong các cây thuốc
kho gen thực vật                                                   nhiều gen kháng lạnh, kháng hạn
các lâm sản ngoài gỗ củi                                       nấm, trái cây rừng, mật ong rừng

Điều hoà
bảo vệ đầu nguồn lưu vực                                     chống xói mòn, tăng nước ngầm
bảo vệ ven biển                                                     cản sóng, cản gió
điều hoà khí hậu                                                    tảng độ ẩm trong không khí

Văn hoá
tâm linh và ngắm cảnh                                          thiền
giải trí                                                                    du ngoạn
thẩm mỹ                                                                 tảng vẻ đẹp thiên nhiên

Yễm trợ
xã hội                                                                     cư dân miền sơn cước
tạo thổ                                                                    giữ đất khỏi xói mòn





6. Hậu quả của sự phá rừng
Giản đồ sau đây cho thấy hậu quả của phá rừng





- phá rừng để có đất trồng trọt. Dân số tăng nhanh, nảy sinh ra một số nhu cầu về chất đốt, về đất trồng trọt, về gỗ xây dựng.  Sự phá rừng bừa bãi, đốn cả cây lớn lẫn cây bé đã kéo theo xói mòn đất đai, suy thoái phì nhiêu, trầm tích các hồ chứa nước, giảm đa dạng sinh học. Vùng cao nguy ên Việt Nam, mỗi năm vẫn mất trung bình 26 nghìn ha rừng, 10 năm mất hơn 300 nghìn ha rừng, sa mạc hóa Tây Nguyên đã xuất hiện do suy thoái rừng, đó cũng là tình trạng chung về rừng của cả nước .Người miền núi vẫn sống theo lối đốt rừng làm nương rẫy trồng trọt vài năm sau đó khi đất mất đi sự phì nhiêu lại sang một cánh rừng khác đốt rừng tiếp tục làm nương rẫy.Vì vậy, rừng càng ngày càng thoái hoá, cả về diện tích lẫn số lượng các loài. Đa dạng sinh học bị mất đi, nhiều tài nguyên về di truyền cũng mai một đi  

- đốn củi để có chất đốt. Đốn củi liên tục trên những khu rừng gần các thôn bản ở các chân núi dãy Trường Sơn, làm cho rừng không còn điều kiện thuận lợi để có thể tái tạo tự nhiên khiến rừng thêm suy thoái và đất có đồi trọc rất nhiều ngày nay ở Việt Nam.

- cháy rừng: nạn cháy rừng mỗi năm làm thiệt hại rất nhiều rừng và thảo nguyên: chỉ cần một đóm lửa, gặp thảm cỏ khô mùa hạ nóng bức,
Năm 2015, các vụ cháy rừng lớn ở Indonesia gây thiệt hại ước tính lên tới 220.000 tỉ rupiah (khoảng 16,4 tỉ USD), ảnh hưởng đến nhiều tỉnh ở các vùng Sumatra và Kalimantan của nước này.Khói mù dày đặc và độc hại không chỉ cản trở các hoạt động kinh tế tại nhiều tỉnh của Indonesia mà còn ảnh hưởng đến chất lượng không khí của các nước láng giềng Singapore và Malaysia.Chính tình trạng này đã gây không ít phiền toái về ngoại giao khi các quốc gia láng giềng phản ứng mạnh về việc chính quyền Indonesia tỏ ra bất lực với các công ty đốt rừng làm đất trồng cọ.

- phát triển hạ tầng:  sự tạo dựng các hồ chứa nước, xẻ đường cũng làm nhiều rừng bị mất đi. Hiện nay, nhiều vùng như vùng Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu) rừng chỉ còn khoảng 10% tổng diện tích đất đai tự nhiên, trong khi tỷ lệ che phủ các vùng núi cao đầu nguồn phải cao (50-70%) mới bớt được lụt lội.  

- với sự thay đổi khí hậu do đốt than và dầu, khí nhà kính như CO2 sẽ tăng lên, nhưng rừng sẽ giúp giữ lại khí nhà kính, làm giảm thiểu tác động.


7. Cải thiện môi trường rừng 

Vài biện pháp để cải thiện:
- bảo tồn và làm giàu tài nguyên rừng: trồng cây gây rừng, trồng thâm canh ở các thung lũng hoa màu lương thực để giảm bớt sức ép trên các đất dốc; kết hợp trồng rừng và cây ăn qủa; đề phòng nạn cháy rừng. Nên có nông lâm kết hợp, cọng thêm các biện pháp công trình (bực thềm, hố) và biện pháp sinh học (băng cây, trồng cây  họ Đậu cố định được chất đạm và bảo vệ đất như Pueraria phaseoloides, Mucuna utilis, Tephrosia, Crotalaria ..) để giữ đất chống xói mòn.  

- sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo được và không ô nhiễm như gió, mặt trời,  nước để bớt sử dụng năng lượng từ rừng. Các khí sinh học (biogas) dùng phế  thải động vật và thực vật để nấu nướng,  cũng giúp giảm sức ép trên tài nguyên rừng.

- nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng và hưởng ứng các sáng kiến bảo vệ rừng; xây dựng các vành đai bảo vệ các loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng và khuyến khích tái tạo rừng tại các khu vực bị hoang hóa

- điều hoà dân số cũng giúp giảm áp lực trên môi trường rừng. Dân số toàn thế giới đã đạt tới gần 7,5 tỷ người. Nhiều vấn đề phát sinh do dân số tăng như: lương thực, môi trường sống, việc làm, thu nhập, y tế,…là những vấn đề có tầm ảnh hưởng lớn đối với con người trên quả địa cầu.

8. Kết luận

Rừng chỉ là một bộ phận của sinh quyển trong đó phải kể thêm nước và đất. Cả ba yếu tố  đất, nước và rừng có tương quan hữu cơ với nhau. Rừng cung cấp nơi ở, làm việc, tạo an ninh sinh kế và các nền văn hóa liên quan nhiều cộng đồng các dân tộc. Thế nhưng, bất chấp tất cả, mỗi năm con người vẫn chặt phá trung bình 13 triệu ha rừng, làm suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học rừng, làm tổn hại đáng kể chức năng và giá trị to lớn của rừng đối với cuộc sống con người và tự nhiên: Rừng tác động trên đất, trên nước và trên con người. Ví dụ: phá rừng sẽ làm dòng nước chảy giảm đi, khiến nước mặn xâm nhập. Phá rừng làm xói mòn đất, giảm độ phì nhiêu của đất và tác động xấu đến an ninh lương thực.

Suy thoái đất có nhiều hậu quả quan trọng trên các môi trường có liên hệ đến đất: đất hẹp, người đông mà nếu đất không được sử dụng hợp lý thì con người tự làm hại đến mình vì đất thoái hoá thêm, nghèo thêm sẽ ảnh hưởng xấu đến sản xuất lương thực. Nếu đất mất phì nhiêu, người dân có khuynh hướng mở mang thêm đất bằng cách khai hoang, ảnh hưởng đến quỹ đất rừng.
Cũng vậy, thiếu nước, hạn hán cũng tác động trên thực vật và động vật, làm chế độ thủy văn bị đảo lộn, làm nước mặn xâm nhập vào đất.
Với sự biến đổi khí hậu do các khí nhà kính gây nên làm trái đất nóng dần thì vai trò của rừng lại càng quan trọng hơn. Yêu rừng, chính là yêu ta, yêu con người vậy.

                                                                  GS. Thái Công Tụng