Monday, September 14, 2020

Sông Mekong và hiểm hoạ từ các con đập thượng nguồn của Trung Quốc


VOA Tiếng Việt
14/9/2020

 
Nuozhadu, con đập lớn nhất trong số 11 con đập của Trung Quốc ở thượng nguồn sông Mekong. Báo cáo mới của MRC cho thấy các con đập này góp phần làm ảnh hưởng dòng chảy của con sông dưới hạ nguồn, trong đó có Việt Nam.

Dòng chảy sông Mekong đã xuống tới mức thấp kỷ lục do lượng mưa giảm và các con đập ở thượng nguồn do Trung Quốc xây dựng, đe doạ sự sống còn của dòng sông, nơi hàng chục triệu người dân Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, đang dựa vào để kiếm kế sinh nhai
Mekong là một trong những dòng sông quan trọng nhất ở châu Á và là nguồn sống của 60 triệu người dân, với Trung Quốc ở thượng nguồn và Việt Nam ở cuối nguồn. Nhưng đây là năm thứ hai liên tiếp khu vực hạ lưu sông Mekong có lưu lượng nước xuống mức thấp kỷ lục, làm ảnh hưởng đến thuỷ lợi, sản lượng lúa và đánh bắt cá – tất cả đều trọng yếu đối với an ninh lương thực của khu vực.

Một báo cáo mới của Uỷ hội sông Mekong (MRC) cho biết lượng mưa giảm đã phần nào gây ra sự thiếu hụt nước trên dòng sông chảy xuyên qua 6 quốc gia trong khu vực. Nhưng báo cáo vừa được công bố vào tháng 8 cũng chỉ ra rằng các đập thuỷ điện trên thượng nguồn – chủ yếu là ở Trung Quốc – đã chặn lại một lượng lớn nước chảy xuống hạ nguồn, với các phân lưu cuối cùng chảy qua các tỉnh Nam bộ Việt Nam trước khi đổ ra Biển Đông. Sông Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng của Trung Quốc.

Hiện có 11 con đập lớn hiện đang hoạt động trên thượng nguồn sông Mekong trước khi ra khỏi biên giới Trung Quốc và chảy vào Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu Stimson của Mỹ có trụ sở ở Washington, DC. Báo cáo của dự án Mekong của Stimson ra hồi tháng 4 cho biết rằng Trung Quốc đã xây dựng các đập trên thượng lưu sông Mekong trong 3 thập kỷ qua, làm các quốc gia ở hạ lưu lo ngại rằng Trung Quốc một ngày nào đó sẽ “tắt nguồn nước.” Các dữ liệu của Stimson cho thấy trong 6 tháng của năm 2019, Trung Quốc nhận được một lượng mưa trên trung bình và các con đập của họ đã giữ lại một lượng nước lớn hơn bao giờ hết – trong khi các quốc gia ở hạ lưu đồng thời bị hạn hán nặng chưa từng có. Báo cáo của Stimson chỉ ra rằng Trung Quốc tích trữ lượng nước nhiều hơn bao giờ hết và đang gây ra những thay đổi thất thường và tàn khốc đối với mực nước ở hạ lưu sông Mekong.

Các con đập trên sông Mekong, gồm 11 đập của Trung Quốc đang hoạt động
trên thượng nguồn. (Ảnh của Trung tâm Stimson)

Tháng 4 vừa qua, một báo cáo qua chương trình Sáng kiến Hạ vùng sông Mekong (LMI) của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng cho rằng có sự liên quan giữa mực nước thấp kỷ lục của sông Mekong trong một nửa thế kỷ qua vào năm ngoái, với các hoạt động của đập thuỷ điện.
Trích dẫn báo cáo này, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ David Stilwell hôm 4/9 cáo buộc Trung Quốc “thao túng” dòng chảy sông Mekong vì “lợi ích riêng” trong khi các nước hạ nguồn “phải trả giá đắt,” gây nên “một thách thức cấp bách” trong khu vực. Ông Stilwell nói rằng việc “thao túng dòng chảy dọc sông Mekong” của Trung Quốc xảy ra trong 25 năm qua, trong đó “sự gián đoạn dòng chảy tự nhiên nghiêm trọng nhất xảy ra đồng thời với việc xây dựng và vận hành các con đập lớn.”
Trung Quốc phủ nhận kết quả của báo cáo này và nói rằng khu vực thượng lưu cũng ghi nhận lượng mưa thấp.

Tác động nghiêm trọng tới Việt Nam

Sông Mekong chảy qua Campuchia trước khi đổ vào Việt Nam và theo báo cáo mới của MRC, lưu lượng nước thấp có thể gây ra những tác động nghiêm trọng do mất đi tiềm năng về thuỷ sản và thuỷ lợi.
“Việt Nam có thể bị giảm năng suất tại vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long,” báo cáo của MRC nhận định. Hiện có khoảng 17 triệu người dân Việt Nam đang sinh sống tại lưu vực của hệ thống sông Cửu Long.

Báo cáo nghiên cứu tác động của các công trình thuỷ điện trên dòng chính sông Mekong của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam công bố năm 2016 cũng cho rằng các bậc thang thuỷ điện dòng chính sẽ gây nhiều tác động bất lợi ở mức lớn nghiêm trọng tới nhiều lĩnh vực và môi trường ở Việt Nam, bao gồm nguy cơ mất đi hoặc thậm chí tuyệt chủng của tới 10% các loài cá và thu nhập người dân có thể giảm tới 50%. Theo đánh giá này, ở Việt Nam, tổn thất hàng năm trong thuỷ sản và nông nghiệp do các đập thuỷ điện trên dòng chính gây ra có thể tới 15.800 tỷ đồng (khoảng 760 triệu USD).

Những người chỉ trích việc xây dựng đập trên sông Mekong cho rằng các đập này sẽ tiếp tục là nguồn xung đột trừ phi Trung Quốc chuyển sang các phương pháp sản xuất điện khác và sự hợp tác giữa các quốc gia được tăng cường.

Theo MRC, tình trạng thiếu thông tin về những ảnh hưởng trước mắt và lâu dài của phát triển thủy điện thượng nguồn và biến đổi khí hậu sẽ khiến người dân sống ở vùng đồng bằng sông Mekong có thể bị tổn thương do những tác động như gia tăng xâm nhập mặn, giảm phù sa bùn cát và dưỡng chất, ảnh hưởng nguồn cá di cư và thay đổi chế độ dòng chảy.
Một trong những khuyến nghị nêu trong báo cáo mới của MRC là sự minh bạch về dữ liệu và chia sẻ thông tin. Và để tăng cường sự minh bạch về các hoạt động của các con đập ở thượng nguồn sông Mekong cũng như chứng minh sự hợp tác có tính thiện chí, MRC cho rằng Trung Quốc cần xem xét việc cung cấp dữ liệu cho các nước ở hạ lưu sông Mekong.
Trước áp lực này, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường cuối tháng trước khi phát biểu tại diễn đàn Lan Thương-Mekong, trong đó có Việt Nam, nói rằng Bắc Kinh sẽ bắt đầu chia sẻ dữ liệu thủy văn quanh năm của con sông này.

Bắc Kinh khởi động sáng kiên hợp tác nguồn nước Mekong, với tên gọi Khung Hợp tác Lan Thương-Mekong, vào năm 2016 với 5 quốc gia thành viên ở hạ lưu con sông này. Các nhà phê bình hoan nghênh tiềm năng hợp tác nhưng cũng cho rằng Trung Quốc có thể dùng sáng kiến này để “vũ khí hoá” nguồn nước cho các lợi ích kinh tế và địa chính trị.

Vấn đề sông Mekong được đưa ra thảo luận tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) trong tuần qua, trong đó Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Stephen Biegun và Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh đồng chủ tọa Hội nghị Bộ trưởng Đối tác Mekong-Hoa Kỳ (MUSP) lần đầu tiên, với mục tiêu nâng tầm Sáng kiến Hạ nguồn Mekong (LMI), để ứng phó với các tác động từ thượng nguồn do Trung Quốc gây ra. Hội nghị MUSP khẳng định cam kết của Washington đối với tương lai của LMI “như một phần của tầm nhìn chung cho một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở”.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc từng lên tiếng kêu gọi các nước “cùng đoàn kết, hợp tác để sông Mekong mãi là dòng chảy của hoà bình, là kết nối sinh tồn bền vững, thịnh vượng đến muôn đời của các quốc gia, người dân trong khu vực.”

SOURCE:
https://www.voatiengviet.com/


.

Chuyên viên Phóng đại "mối đe doạ về đập" của Trung Hoa trên sông Mekong của các tổ chức được Hoa Kỳ hậu thuẫn có nhiều nhập nhằng


(US-backed institutions' hyping China's 'dams threat' in Mekong River riddled with loopholes: expert)

Hu Yuwei and Lin Xiaoyi
Bình Yên Đông lược dịch
Global Times – 11 September 2020


Lời người dịch: Cuộc chiến thông tin về sông Mekong giữa Trung Hoa và Hoa Kỳ tiếp diễn.  Bài viết nầy nhằm đáp lại nhận định của ông David Stilwell, phụ tá ngoại trưởng Hoa Kỳ về Đông Á và Thái Bình Dương, nói rằng Trung Hoa đã kiểm soát dòng chảy của Mekong cho lợi ích của họ với cái giá to lớn cho các quốc gia ở hạ lưu.

Can thiệp của Hoa Kỳ vào các vấn đề nước sông Mekong có dụng ý ngăn chận Trung Hoa trong khu vực bằng cách phóng đại “mối đe dọa về đập” của Trung Hoa, trong khi chỉ trích dẫn bằng chứng và nguồn tin do các tổ chức được Hoa Kỳ hậu thuẫn, cáo buộc Trung Hoa gây tai họa ở hạ lưu, các quan sát viên Trung Hoa cho biết.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Hoa Zhao Lijian, hôm Thứ Ba, đả kích kịch liệt Hoa Kỳ đã phóng đại các vấn đề về nguồn nước Mekong để gieo rắc mối bất hòa giữa các quốc gia Mekong, sau khi David Stilwell, Phụ tá Ngoại trưởng về Đông Á và Thái Bình Dương, mới đây đã bôi bác Trung Hoa là “kiểm soát” nước để làm đầy các hồ chứa của Trung Hoa, mà theo “Eyes on Earth” được Hoa Kỳ tài trợ, có dung tích tổng cộng trên 47 tỉ m3.

Dung tích của hồ chứa lớn nhất của Trung Hoa ở thượng lưu sông chỉ có 42 tỉ m3, Zhao nói.  “Chúng tôi khuyến cáo các nhà ngoại giao Hoa Kỳ nên thận trọng trong việc trích dẫn phúc trình như thế, mà nhiều chuyên viên thủy học toàn cầu nói là sai và không có nhiều giá trị khoa học,” Zhao nói.

Các chuyên viên của Trung Hoa đánh giá kỹ lưỡng một phúc trình của các quan sát viên khí hậu Alan Basist và Claude Williams, và thấy rằng các mô hình nghiên cứu được dùng trong phúc trình có những sai sót và nhập nhằng, đưa đến các kết quả không xác thực và đánh lạc hướng.

Global Times nhận thấy phúc trình, có tựa đề Theo dõi Lượng Nước Chảy Qua Thượng Lưu vực Mekong trong Điều kiện Tự nhiên (Không bị Cản trở) (Monitoring the Quantity of Water Flowing Through the Upper Mekong Basin Under natural (Unimpeded) Conditions), do Basist và Williams soạn thảo, cựu nhân viên và nhân viên của chánh phủ Hoa Kỳ, không tuân theo bất cứ tổ chức học thuật được công nhận nào, và không được công bố chánh thức hay được duyệt nhóm.

Một đánh giá phúc trình chi tiết của các chuyên viên thủy lực Trung Hoa cho thấy những sai sót rõ rệt.  Tian Fuqiang, một học giả và nhà nghiên cứu hàng đầu của Trung Hoa về nguồn nước sông Mekong của Đại học Tsinghua (Thanh Hoa), nói với Global Times trong cuộc phỏng vấn trước đây rằng mực nước ở các trạm thủy điện dọc theo sông Lancang không nhất thiết quan hệ chặt chẽ với độ ẩm trong lưu vực.  Do đó, ước tính dòng chảy của các trạm thủy điện trên sông Lancang bằng chỉ số độ ẩm sẽ đưa đến kết luận không chính xác.

Hơn nữa, mô hình Basist dùng để phát hiện độ ẩm, được gọi là Chỉ số Độ ướt Basist (Basist Wetness Index (BWI)), không thể áp dụng cho vùng rừng núi như lưu vực sông Lancang, như chính Basist đã lưu ý trong các bài viết khoa học trước đây.

Các tác giả của phúc trình dùng tài liệu và nguồn tin từ đầu thập niên 1990s để làm nghiên cứu và mô hình phân tích, hầu như không thực tế với sự thay đổi khí hậu và môi trường trên thế giới hiện nay, Tian nói trong đánh giá của ông.

Hoa Kỳ, một quốc gia ngoài khu vực, đã gia tăng nỗ lực trong việc tấn công cơ chế Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)) do Trung Hoa phát động trong năm 2016.  Việc chánh trị hóa các vấn đề của họ tiếp tục leo thang khi một số cơ quan truyền thông phóng đại như là “một tranh chấp Biển Đông thứ hai.”

Một cơ quan nghiên cứu khác ở Washington, Trung tâm Stimson, đã liên tục phê bình về các vấn đề Mekong trong những năm gần đây.  Giám đốc chương trình Đông Nam Á (ĐNA) của Trung tâm, Brian Eyler, chỉ trích Trung Hoa nhiều lần trong các buổi phỏng vấn, kể cả buổi phỏng vấn với Reuters hôm 4 tháng 9 nói rằng: “Vị thế quan trọng của Trung Hoa trong “Kế hoạch Bình điện của ĐNA” khiến Lào nhanh chóng trở thành như một tỉnh của Trung Hoa.”

Hôm 15 tháng 8, Eyler chuyển tiếp một thư của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo vu khống Trung Hoa đã “kiểm soát dòng chảy một cách mờ ám,” mà các chuyên viên nói đã cố tình bỏ quên cự cam kết và nỗ lực lâu dài của Trung Hoa trong việc chia sẻ dữ kiện với các quốc gia ở hạ lưu.

Từ cuối thế kỷ 20th đến năm 2015, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia và một số quốc gia khác ở ngoài khu vực đã can thiệp vào các vấn đề nước của sông Mekong.  Từ khi LMC được phát động trong năm 2016, tuy nhiên, các thế lực bên ngoài khu vực muốn can thiệp nhiều hơn mà ít tốn kém hơn vào khu vực Mekong, Zhang Li, một nhà nghiên cứu về Ngoại giao Nước và khu vực Mekong của Đại học Fudan (Phục Đán), nói với Global Times.

Quảng bá tin đồn được xem là một phương pháp ít tốn kém như thế.  Bên lề Phiên họp Ngoại trưởng ASEAN trong tháng 8 năm 2019, Pompeo cáo buộc Trung Hoa “khóa nước ở thượng lưu” và “để cai quản dòng sông.”

Hoa Kỳ cũng cáo buộc Trung Hoa cho vụ vỡ đập không liên quan gì đến Trung Hoa.  Vào tháng 7 năm 2018, đập do một công ty Nam Triều Tiên xây ở Lào bị vỡ, gây thiệt hại nhân mạng nặng nề.  Trung Hoa lập tức gởi một toán cấp cứu sau tai nạn.

Hoa Kỳ lợi dụng cơ hội để tố cáo Trung Hoa đã xây đập ở thượng lưu, hủy hoại sự cân bằng sinh thái ở địa phương, Zhang cho biết.

Chướng ngại vật lớn nhất cho việc nâng cao mối liên hệ Trung Hoa-ASEAN trong tương lai có thể là sự can thiệp của các thế lực bên ngoài, Peng Nian, một học giả của Viện Nghiên cứu Quốc gia về Biển Đông của Trung Hoa (China’s National Institute for South China Sea Studies), viết trong một bình luận được đăng trước đây trên Global Times.

Các quốc gia Mekong từ lâu đã bị Hoa Kỳ quên lãng trong quá khứ vì kinh tế nhỏ nhoi của họ.  Nhưng nay, sự tấn công của các chánh trị gia Hoa Kỳ báo hiệu rằng Hoa Kỳ sẵn sàng để cạnh tranh cho sức mạnh và tiếng nói, Peng nói.


Sunday, September 6, 2020

QUỐC GIA LÀM CHO DÒNG SÔNG CHẢY DỄ DÀNG


(Flow facilitator)

Zhai Kun and Deng Han – Bình Yên Đông lược dịch
China Daily – September 1, 2020

Diễn đàn chia sẻ tin tức sẽ đánh dấu mốc tiến bộ trong việc hợp tác nguồn nước 
giữa Trung Hoa và các quốc gia sông Mekong.

Thủ tướng Trung Hoa Li Keqiang (Lý Khắc Cường) và lãnh đạo các quốc gia Lào, Cambodia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam tham dự Phiên họp Thượng đỉnh Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)) lần thứ 3rd qua mạng và công bố Tuyên ngôn Vientiane vào ngày 24 tháng 8.  Trung Hoa hứa chia sẻ dữ kiện thủy học sông Lancang trọn năm với các quốc gia Mekong và thiết lập Diễn đàn Chia sẻ Tin tức Hợp tác Nguồn Nước Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Water Resources Cooperation Information Sharing Platform (LMWRCISP)), tiêu biểu cho biện pháp mới nhất của Trung Hoa để cung cấp dữ kiện thủy học của mọi người cho các quốc gia Mekong và giúp họ đối phó với hạn hán xảy ra thường xuyên hơn trong những năm gần đây.

Kề từ khi thành lập, LMC luôn luôn ưu tiên việc hợp tác về nguồn nước.  Là quốc gia ở thượng lưu, Trung Hoa cung cấp 16% nước cho các quốc gia ở hạ lưu trong mùa mưa, và con số nầy lên đến 24% trong lúc hạn hán.  Đối với các quốc gia Mekong chịu ảnh hưởng của khí hậu mưa mùa nhiệt đới, nước từ tuyết tan trên cao nguyên Qinghai-Tibet (Thanh Hải-Tây Tạng) là khí cụ để đối phó với hạn hán.  Thông thường, các quốc gia ở thượng lưu có thể sử dụng nước sông một cách độc lập, là nguyên nhân của việc thiếu động lực để hợp tác nguồn nước toàn lưu vực.

Tuy nhiên, trên thực tế, Trung Hoa luôn luôn đóng một vai trò tích cực trong việc hợp tác nguồn nước Lancang-Mekong và giúp việc phát triển các quốc gia Mekong bằng cách cung cấp nguồn nước của mọi người.

Điều nầy bắt đầu trong năm 1996 khi Trung Hoa và Cambodia trở thành đối tác đối thoại của Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)), khởi đầu tiến trình hợp tác nguồn nước được hậu thuẫn của 6 quốc gia.  Năm 2002, Trung Hoa và MRC ký văn kiện đầu tiên về việc chia sẻ dữ kiện thủy học, qua đó Trung Hoa cam kết cung cấp cho MRC lưu lượng và lượng mưa hàng ngày trong thượng lưu vực trong mùa mưa để giúp họ cải thiện các hệ thống báo lụt và quản lý nước, và do đó, giảm thiệt hại về nhân mạng và tài sản.  Năm 2008 và 2013, 2 văn kiện tiếp theo được ký kết.  Vào năm 2013, Trung Hoa tiếp tục việc chia sẽ dữ kiện với MRC, gia tăng tần suất của việc trao đổi tin tức và nới rộng thời gian chia sẻ dữ kiện 30 ngày, từ 1 tháng 6 đến 31 tháng 10.  Theo thỏa thuận trước đó, Trung Hoa chia sẻ dữ kiện thủy học từ 15 tháng 6 đến 15 tháng 10 mỗi năm.  Tính đến nay, đã có 23 đối thoại hợp tác giữa Trung Hoa và MRC, và Trung Hoa đã cung cấp dữ kiện thủy học trong mùa lũ miễn phí cho MRC trong 17 năm liên tiếp, đóng góp tích cực vào việc ngừa lụt, kiểm soát hạn hán và giảm nhẹ tai họa trong khu vực thượng lưu.

Với LMWRISP, LMC tạo một diễn đàn mới để Trung Hoa có thể cung cấp nguồn nước của mọi người đến các quốc gia Mekong.  Trung Hoa dốc sức để ưu tiên hóa việc hợp tác nguồn nước và thiết lập Trung tâm Hợp tác Nguồn Nước Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Water Resources Cooperation Center (LMWRCC)) cùng với 5 quốc gia khác.  Phiên họp Bộ trưởng về LMWRCC được tổ chức và chấp thuận danh sách các dự án LMC được đề nghị.  Trong tháng 12 năm 2019, LMWRCC mời Văn phòng MRC làm quan sát viên của nhóm công tác hỗn hợp và 2 phía đã ký một biên bản ghi nhớ.  Hơn thế, Trung Hoa cũng hứa sử dụng 200 triệu USD từ quỹ hợp tác Nam-Nam (South-South cooperation) nhằm mục đích bảo đảm việc tài trợ cho việc hợp tác nguồn nước bên trong lưu vực.

Thời tiết cực đoan trong khu vực Mekong đã trở nên thường xuyên hơn trong những năm gần đây do thay đổi khí hậu.  Hạn hán theo mùa càng ngày càng gây nhiều thiệt hại, đe dọa việc phát triển khả chấp và hạnh phúc của người dân trong khu vực.  Để giúp các quốc gia Mekong đối phó tốt hơn, Trung Hoa hứa tại thượng đỉnh MRC 2010 sẽ gia tăng dòng chảy ra khỏi Trung Hoa trong mùa khô.  Khi miền nam Việt Nam bị hạn hán nặng nề nhất thế kỷ năm 2016, Trung Hoa vượt qua khó khăn vì tình trạng thiếu nước của mình và khởi động việc phân phối nước khẩn cấp trong chuỗi đập Lancang để xả nước xuống hạ lưu.  Năm 2019, mực nước sông Mekong xuống đến mức thấp kỷ lục do hạn hán, gây thiệt hại kinh tế lớn lao cho Thái Lan và các quốc gia hạ lưu khác.  Trong bối cảnh nầy, một lần nữa Trung Hoa xả nước từ các đập ở thượng lưu để giúp họ chống hạn.

Tại Hội nghị Thượng đỉnh LMC lần thứ 3rd mới đây, Thủ tướng Li đã long trọng hứa cung cấp kịp thời cập nhật về dòng chảy ở thượng lưu và chia sẻ trọn năm dữ kiện thủy học ở thượng lưu, có nghĩa là dữ kiện được chia sẻ không chỉ trong mùa mưa mà còn trong mùa khô.  Dữ kiện cho mọi người như thế của Trung Hoa tiêu biểu một mốc tiến bộ trong việc hợp tác nguồn nước Mekong và sẽ nâng nó lên một mức độ mới.

Tin tức thủy học chính xác và đáng tin cậy sẽ giúp các quốc gia Mekong có những quyết định tốt hơn trong việc ngăn ngừa lũ lụt và hạn hán, khuyến khích kiến trúc hợp tác được phối hợp nhịp nhàng và hỗ tương giữa các cơ quan quản lý tài nguyên thiên nhiên của Trung Hoa, MRC và các quốc gia ở hạ lưu, và như vậy nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nước trong lúc hạn hán.

LMWRCISP sẽ làm tăng thêm các nghiên cứu hỗn hợp về khoa học và điều thủy sông Mekong, giúp khám phá các phương pháp mới trong việc hợp tác nguồn nước, giảm thiểu sự hiểu lầm vì tin tức không cân xứng và nâng cao sự tín nhiệm lẫn nhau giữa 6 quốc gia.  Lời hứa của ông Li đáp lại sự mong đợi của các quốc gia Mekong về vai trò to lớn hơn của Trung Hoa trong việc hợp tác nguồn nước và chứng tỏ sứ mạng và trách nhiệm của Trung Hoa như một quốc gia ở thượng lưu.  “Đề nghị của Trung Hoa” về việc quản lý nguồn nước trong khu vực Mekong sẽ đặt một nền móng vững chắc cho việc hợp tác nguồn nước toàn lưu vực trong tương lai.

LMC được thúc đẩy bởi dòng sông và sẽ nẩy nở vì dòng sông.  Hành động cho mọi người của Trung Hoa sẽ đưa việc hợp tác nguồn nước trong khu vực Mekong vào con đường cao tốc, giúp các quốc gia liên hệ thực hiện Kế hoạch Hành động 5 Năm về LMWRC (2018-22) và nâng cao khả năng quản lý lưu vực kết hợp và quản lý nguồn nước.  Cùng lúc, sự tín nhiệm và hiểu biết hỗ tương được nuôi dưỡng trong khi hợp tác nguồn nước giữa Trung Hoa và các quốc gia Mekong chắc chắn sẽ nới rộng đến các lãnh vực hợp tác khác và làm cho sự phối hợp trong khu vực vững chắc hơn, như vậy giúp các quốc gia Mekong thực hiện nghị trình phát triển khả chấp 2030 của Liên Hiệp Quốc.

Sơ lược về tác giả

Zhai Kun là giáo sư của Trường Nghiên cứu Quốc tế và phó khoa trưởng Viện Nghiên cứu Khu vực của Đại học Peking.  Deng Han là một tiến sĩ của Trường Nghiên cứu Quốc tế của Đại học Peking.  Các tác giả gởi bài nầy cho China Watch, một cơ quan nghiên cứu được China Daily hỗ trợ.  Quan điểm không nhất thiết phản ánh quan điểm của China Daily.


.

HOA KỲ NÓI “SỰ KIỂM SOÁT” MEKONG CỦA TRUNG HOA LÀ MỘT “THÁCH THỨC CẤP BÁCH” ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á


(US claims China’s ‘manipulation’ of Mekong is ‘urgent challenge’ for Southeast Asia)

Bhavan Jaipragas – Bình Yên Đông lược dịch
South China Morning Post – 4 September 2020

Một ngư dân trên sông Mekong. [Ảnh: Reuters]

·        Nhận xét của nhà ngoại giao lão thành David Stilwell của Hoa Kỳ là bằng chứng mới nhất cho thấy dòng sông đã trở thành mặt trận mới trong sự kình địch giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa
·        Mỹ trích dẫn một nghiên cứu cáo buộc các đập của Trung Hoa gây hạn hán tàn phá hạ lưu; Trung Hoa trích dẫn một nghiên cứu nói các đập của họ làm giảm hạn hán

Hôm Thứ Năm, một nhà ngoại giao lão thành của Hoa Kỳ nói rằng việc “kiểm soát” dòng chảy của Trung Hoa trong sông Mekong – hiện đang ở mức thấp nhất kỷ lục – là một thách thức trước mắt đối với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations (ASEAN)), báo hiệu vấn đề có thể được đưa vào nghị trình trong một diễn đàn khu vực vào tuần tới.

Nhận định của David Stilwell, phụ tá ngoại trưởng về Đông Á và Thái Bình Dương, là bằng chứng mới nhất cho thấy dòng sông dài 4.350 km mà 60 triệu người Đông Nam Á (ĐNA) dựa vào đã trở thành một mặt trận mới trong sự kình địch giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa.

Trong lúc sự chú ý đến vấn đề lên đến cao điểm, Thủ tướng Li Keqiang (Lý Khắc Cường) hồi cuối tháng 8 nói với một diễn đàn bao gồm 5 quốc gia ĐNA ở hạ lưu do Trung Hoa cầm đầu rằng Beijing (Bắc Kinh) sẽ bắt đầu chia sẻ dữ kiện thủy học quanh năm của sông, có tên là Lancang trên lục địa Trung Hoa.

Stilwell, trong một cuộc hội thảo trên mạng do Viện Hòa bình Hoa Kỳ (United States Institute of Peace) và Trường Chánh sách Công cộng Lee Kuan Yew (Lee Kuan Yew School of Public Policy) của Singapore đồng tổ chức, nói rằng vấn đề dòng chảy là một trong những “chiều hướng đáng lo ngại” trong khu vực Mekong.

Nhà ngoại giao David Stilwell của Hoa Kỳ. [Ảnh: Reuters]

“Một thách thức cấp bách đặc biệt là việc kiểm soát dòng chảy sông Mekong [của Trung Hoa] cho lợi ích của họ với cái giá to lớn cho các quốc gia ở hạ lưu,” ông Stilwell nói.

Ông trích dẫn một phúc trình gần đây “chứng minh [rằng Trung Hoa] đã kiểm soát dòng chảy dọc theo sông Mekong trong 25 năm, làm gián đoạn to lớn dòng chảy tự nhiên, trùng hợp với việc xây cất và điều hành các đập chánh yếu”.

Mặc dù Stilwell không nêu tên phúc trình, BeijingWashington trong những tháng gần đây đã đấu khẩu về các nghiên cứu kình chống về tình trạng của dòng chảy của sông trong 5 quốc gia ĐNA ở hạ lưu: Lào, Myanmar, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam.

Eyes on Earth ở Hoa Kỳ, trong tháng 4, kết luận rằng các đập của Trung Hoa đã giữ lại 47 tỉ m3 nước.

Phúc trình đó được ủy thác bởi Hợp tác Hạ tầng Cơ sở Khả chấp (Sustainable Infrastructure Partnership) do Liên Hiệp Quốc bảo trợ và Sáng kiến Hạ lưu Mekong (Lower Mekong Initiative) – một nhóm gồm có 5 quốc gia ĐNA ở hạ lưu và Hoa Kỳ.

Một nghiên cứu địch thủ, một sự phối hợp giữa Đại học Tsinghua (Thanh Hoa) và Viện Thủy lợi (Institute of Water Resources) Trung Hoa, lập luận ngược lại, nói các đập của Trung Hoa giảm nhẹ tình trạng hạn hán trong vùng Mekong.  Nó nói rằng các đập xả nước được trữ trong mùa mưa khi dòng chảy xuống thấp.  Mực nước trong sông xuống đến mức thấp kỷ lục liên tiếp trong 2 năm.

Stilwell nói cuộc khủng hoảng “tàn phá mùa màng [và] đe dọa an ninh nguồn nước và lương thực trên khắp khu vực”.

Ông nói: “Những việc nầy có tiềm năng lớn lao cho bất ổn tràn lan.  Hoa Kỳ đang cộng tác với các quốc gia Mekong, Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) và các đối tác quốc tế để bảo đảm rằng lời kêu gọi cho sự minh bạch dữ kiện nước từ [Trung Hoa] được trả lời.”

Nhà ngoại giao, cùng với Ngoại trưởng Michael Pompeo đã chi tiết hóa chánh sách cứng rắn đối với Trung Hoa của Washington trong nhiều diễn đàn công khai trong những tháng gần đây, cũng nhận định về ASEAN.

Sông Mekong trên biên giới Thái-Lào. [Ảnh: International Rivers]

Ngoại trưởng của 10 nước và các đối tác toàn cầu như Pompeo, Wang Yi (Vương Nghị) của Trung Hoa, Sergey Lavroy của Nga và S. Jaishankar của Ấn Độ sẽ gặp nhau vào tuần tới khi tham dự các phiên họp qua mạng, bao gồm Diễn đàn Khu vực ASEAN (ASEAN Regional Forum (ARF)) thường niên.

Các phiên họp nầy được dời lại từ đầu tháng 8 vì quốc gia tổ chức là Việt Nam – chủ tịch ASEAN năm nay – hy vọng có thể tổ chức các phiên họp như thông lệ.

Nhưng nay họ phải tiến hành qua mạng.

ARF là một sự kiện quan trọng nhất trong lịch trình thường niên của ASEAN, sau hội nghị thượng đỉnh được tổ chức 2 lần trong năm.

Trong một tuyên bố hôm Thứ Tư, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói song song với các phiên họp liên quan đến ASEAN, Pompeo sẽ đồng khai mạc Phiên họp Bộ trưởng Hợp tác Mekong- Hoa Kỳ (Mekong-US Partnership Ministerial Meeting) với 5 quốc gia ở hạ lưu.

Stilwell nói ông hy vọng các quốc gia ASEAN – một số đang tranh chấp với Trung Hoa trên Biển Đông – sẽ tiếp tục sử dụng “tiếng nói tập thể mạnh mẽ” để đạt được quyền lợi của họ.

Được hỏi trong phần vấn đáp ngắn về nhận thức của các quốc gia ASEAN ngày càng bị bắt buộc phải chọn phe trong sự kình địch giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa, Stilwell nói ông không biết tại sao câu chuyện như thế vẫn kéo dài.

“Tôi không nhớ bất cứ tác động qua lại của tôi chưa bao gời sắp đặt một sự lựa chọn,” nhà ngoại giao, một cựu chuẩn tướng Không lực Hoa Kỳ đã đãm nhận chức vụ hồi tháng 6 năm ngoái, cho biết.

Ông úp mở đánh vào Trung Hoa, cho rằng Beijing đã chứng tỏ uy quyền với các láng giềng yếu hơn thay vì đối xử với họ như những đối tác bình đẳng.

“Có sự lựa chọn ở đó, và sự lựa chọn là ủng hộ những luật lệ và quy tắc và tiếp tục với chúng, hay chọn giải pháp khác có thể đúng hơn,” Stilwell nói.

Ông nói với người điều khiển, cựu viên chức quốc phòng Hoa Kỳ Drew Thompson ở Singapore, rằng ông hy vọng các quốc gia ASEAN đang bị áp lực để đứng với một siêu cường “đang lắc lư”.

Thay vào đó, ông nói ông hy vọng để “trình bày hợp lý hơn về những sự lựa chọn đó”.

Sơ lược về tác giả

Bhavan Jaipragas là phóng viên Á Châu của South China Morning Post, phụ trách tin mới nhất, chánh trị, ngoại giao, mậu dịch và chiều hướng kinh tế vĩ mô ĐNA.  Công việc của ông với văn phòng Á Châu của Post cũng chú trọng đến tác động qua lại đa dạng của khu vực với Hoa Kỳ và Trung Hoa.  Là một công dân Singapore, Bhavan trước đây làm việc cho Agence France-Press.


.

Sunday, August 30, 2020

TIN CẬY LÀ CHÌA KHÓA CỦA HỢP TÁC LANCANG-MEKONG


(Trust key to Lancang-Mekong cooperation)

Tian Fuqiang, Liu Hui and Lu Hui – Bình Yên Dông lược dịch
China Daily – August 24, 2020

Một người dân làng chèo thuyền trên sông Mekong ở ngoại ô Luang Prabang, Lào 
ngày 5 tháng 2 năm 2020.

Lời người dịch:  Bài viết nầy là phần đối đáp mới nhất của phía Trung Hoa  trong trận chiến thông tin giữa các chuyên viên của Hoa Kỳ và Trung Hoa về tình trạng hạn hán trong lưu vực Lancang-Mekong.  Nó nêu lên những khuyết điểm quan trọng trong nghiên cứu của phía Hoa Kỳ ảnh hưởng đến kết quả nó nó.

Hạn hán xảy ra trong lưu vực sông Mekong trong năm 2019 làm mực nước trong dòng sông vĩ đại nầy xuống đến mức thấp nhất trong hơn 100 năm, gây thiệt hại đáng kể cho người sử dụng nước ở thượng lưu lẫn hạ lưu.

Mực nước thấp chưa từng thấy ở trong sông đã thu hút nhiều sự chú ý từ các quốc gia duyên hà Lancang-Mekong và xa hơn, kể cả một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu của Eyes on Earth và Global Environmental Satellite Application (EoE) cho rằng hạn hán là do các đập của Trung Hoa ở thượng lưu giữ lại nước.  Nhưng một nhận xét sau đó của Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) nêu lên những nghi ngờ quan trọng về phương pháp và dữ kiện dùng trong nghiên cứu của EoE.

Phúc trình của MRC kết luận rằng hạn hán năm 2019 phần lớn là do lượng mưa ít trong mùa mưa và mưa chấm dứt sớm, cùng hiện tượng El Nino làm cho nhiệt độ và độ bốc thoát cao bất thường.  Nó cũng cho rằng kết luận về tình trạng thiếu nước cấp thời ở hạ lưu vực Mekong trong năm 2019-20 là do các đập của Trung Hoa giữ lại nước là không đúng.

Được cỗ vũ bởi phúc trình của MRC, chúng tôi thực hiện một nghiên cứu nhằm mục đích định lượng thêm các đặc tính hạn hán trong lưu vực Lancang-Mekong và vai trò có thể có của việc điều hành hồ chứa.

Kết quả được duyệt xét nhóm và chia sẻ rộng rãi trong một buổi hội thảo trên mạng trong tháng 7, thu hút nhiều học giả nổi tiếng từ Đại học Oxford, Đại học Illinois-Champaign, MRC, Đại học Chulalongkorn, Thủy điện & Đập Quốc tế và Viện Nghiên cứu Thủy lợi phía Nam của Việt Nam, cùng các chuyên viên khác từ 6 quốc gia Lancang-Mekong.

Các chuyên viên quốc tế kết luận rằng nghiên cứu của chúng tôi đã trình bày một cách chính xác các đặc tính hạn hán của lưu vực Lancang-Mekong, nguyên nhân của đợt hạn hán 2019 và thành phần khu vực của lượng chảy tràn dọc theo sông Mekong bằng cách sử dụng các mô hình mới nhất, các phương pháp và dữ kiện tổng thể trong nghiên cứu.  Các chuyên viên cũng nói rằng phúc trình của chúng tôi mô tả ảnh hưởng giảm nhẹ của các hồ chứa ở thượng lưu đối với hạn hán nói chung.

Từ các bài viết được công bố của ông, chúng tôi biết tác giả chánh của phúc trình Eoe đã phát triển một chỉ số độ ướt có tên là Chỉ số độ ướt Basist, và lưu ý trong các bài viết của ông rằng chỉ số nầy không thể áp dụng cho các vùng núi có cây cối rậm rạp.

Nhưng lưu vực Lancang là một cùng núi có cây cối rậm rạp.  Có nghĩa là nghiên cứu EoE không chính xác và tệ hơn là dựa trên một tiền đề sai.

Trong một bài báo trên Bangkok Post, các tác giả EoE đưa ra một vấn đề lũ lụt mới.  Họ nhấn mạnh đến ưu thế tuyệt đối của nhịp lũ đối với đời sống của người dân ở hạ lưu phụ thuộc vào nó, đó là, kỹ nghệ đánh cá Tonle Sap, bằng cách cáo buộc rằng “không có trường hợp lũ lụt nghiệm trọng giết chết hàng ngàn người, chứ đừng nói hàng triệu”.

Nhưng sự việc là lũ lụt đã gây nhiều thiệt hại kinh tế và nhân mạng trong 6 quốc gia Lancang-Mekong.  Hàng trăm người chết khi lũ lụt lớn tàn phá lưu vực Mekong trong năm 2000-14 với tổng số người chết trên 2.000 – có thể giảm thiểu phần lớn nhờ vào hạ tầng cơ sở kiểm soát lũ lụt có hiệu quả.

Để xác định ảnh hưởng của các đập Lancang đối với nhịp lũ Tonle Sap, cần phải biết mức đóng góp của sông Lancang vào lưu lượng trong mùa mưa ở Stung Treng – vào khoảng 14% trong nghiên cứu của chúng tôi (16,8% theo phúc trình của MRC).  Cũng cần phải biết rằng dòng chảy đảo ngược vào (chảy vào) hồ Tonle Sap chiếm khoảng 15% lưu lượng của dòng chánh Mekong trong thời gian nầy.  Do đó, mức đóng góp của sông Lancang đối với việc đảo ngược dòng chảy vào hồ Tonle Sap chỉ vào khoảng 2%.  Cứu xét phần kiểm soát của các đập Lancang đối với dòng chảy sông Lancang, ảnh hưởng của việc điều hành các đập Lancang đối với nhịp lũ của hồ Tonle Sap không quá 2%.

Là những người nghiên cứu, chúng tôi đã tham gia vào nhiều hoạt động hợp tác liên quan đến sông Lancang-Mekong trong hơn 10 năm qua.  Chúng tôi chứng kiến các quốc gia Lancang-Mekong cam kết hợp tác nguồn nước ở cấp cao qua MRC và cơ chế Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)).  Theo chỗ chúng tôi được biết, chìa khóa của việc quản lý nguồn nước xuyên biên giới là hành dộng tập thể.  Theo ngôn từ của Elinor Ostrom, người đoạt Giải Nobel 2009 về Kinh tế, bồi đấp kiến thức và sự tin cậy rất cần thiết để giải quyết các vấn đề một cách tập thể.

Kinh nghiệm của đợt hạn hán 2019 và tất cả các đợt hạn hán trước đó kêu gọi hành động có phối hợp hơn giữa các bên liên hệ để giảm nhẹ hạn hán và các mối nguy thủy học cực đoan khác.  Điều nầy không dễ dàng.  Chia sẻ kiến thức, đặt nền tảng trên sự hiểu biết khoa học vững chắc, có thể là bước đầu trong chiều hướng đó.

Để kết thúc, chúng tôi muốn chia sẻ kết quả chánh của nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục đích xây dựng kiến thức và tin cậy.  Lưu vực Lancang-Mekong đang trải qua hạn hán thường xuyên – đáng kể trong mùa khô hơn trong mùa mưa.  Hạn hán năm 2019 là một trong những trận hạn hán tồi tệ nhất trong thế kỷ qua, và vùng bị ảnh hưởng nặng nhất là Lancang đến thượng lưu Mekong (Nong Khai).

Từ khi hạn hán nghiêm trọng trong năm 2019 được xác định là do ít mưa vào đầu mùa mưa, việc điều hành các hồ chứa trong lưu vực Lancang-Mekong có thể đóng một vai trò tích cực trong việc đối phó với hạn hán trong lưu vực.  Chúng tôi hy vọng tất cả các quốc gia duyên hà có những nỗ lực nghiêm chỉnh để đối mặt với thách thức chung để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người.

Sơ lược về tác giả

Tian Fuqiang là giáo sư ở Trung tâm nước Xuyên Biên giới và An ninh Sinh thái, Đại học Tsinghua (Thanh Hoa); Liu Hui là kỹ sư trưởng của Nha Thủy lực, Viện Nghiên cứu Nguồn Nước và Thủy điện Trung Hoa; và Lu Hui là phó giáo sư ở Trung tâm nước Xuyên Biên giới và An ninh Sinh thái, Đại học Tsinghua.


.

MEKONG, NƠI TỤ HỌP CỦA THẢM HỌA


(In the Mekong, a Confluence of Calamities)

Courtney Weatherby and John Lichtefeld – Bình Yên Đông lược dịch
Foreign Policy – April 28, 2020

Người dân Cambodia phơi cá trong một làng dọc theo Tonle Sap ở Phnom Penh trong năm 2019, năm mà nước nầy đối mặt với một trong những trận hạn hán tồi tệ nhất trong lịch sử cận đại. [Ảnh: Tang Chhin Sothy/AFP]

Hạn hán cùng với đại dịch corona báo hiệu nguy hiểm cho an ninh lương thực.

Trong năm vừa qua, hạn hán nặng nề được các đập thủy điện ở thượng lưu làm nghiêm trọng thêm đã bóp nghẹt mức sản xuất nông nghiệp, hủy hoại ngư nghiệp, và đe dọa cuộc sống của hàng triệu người trong lưu vực Mekong.  Đại dịch coronavirus làm phức tạp thêm tình hình nầy, làm gián đoạn nguồn cung cấp và tăng giá gạo và các thức ăn chánh khác.  Mặc dù các chánh phủ Mekong đã cam kết với người dân của họ để bảo đảm các nguồn cung cấp thực phẩm, nhiều lo ngại đang gia tăng liệu thực phẩm có đầy đủ và vừa túi tiền cho dân số dễ tổn thương nhất trong khu vực.  Không có nơi nào mà những nguy cơ về sự bất ổn lượng thực rõ hơn ở Cambodia.

Đối với nông dân và ngư dân trên khắp lưu vực sông Mekong, coronavirus xảy ra vào lúc tệ hại.  Trong tháng 4 năm 2019, khu vực bắt đầu khổ sở vì trận hạn hán nghiêm trọng và kéo dài.  Hiện tượng thời tiết El Niño khiến tình trạng thiếu nước lan rộng, vì mưa mùa – thường bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến tháng 10 để trồng vụ lúa chánh – đã không đến.  Các hồ chứa trên khắp khu vực bắt đầu cạn, và mực nước trong hạ lưu Mekong xuống đến mức thấp lịch sử.  Các đập của Trung Hoa ở thượng lưu Mekong làm cho ảnh hưởng của hạn hán thêm tồi tệ, hạn chế nước chảy xuống hạ lưu nơi nó có thể giảm bớt tình trạng khô hạn kỷ lục. [Lời người dịch: Điều nầy đã gây tranh cãi rất nhiều từ tháng 4 năm 2020.]

Các cộng đồng nông nghiệp thiệt hại lớn lao.  Vào tháng 7, Thái Lan tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong 12 tỉnh và yêu cầu nông dân hoãn việc canh tác lúa để dùng số nước ít ỏi còn lại cho việc gia dụng.  Mực nước trong các hồ chứa vẫn thấp trong suốt mùa mưa, và vào đầu năm 2020, Bangkok huy động quân đội để cứu hạn trong 43 tỉnh.  Các ước tính sơ khởi cho thấy một sự tụt giảm mạnh từ 40 đến 54% sản lượng lúa trái mùa của nước nầy. 

Trong khi đó ở Lào, mực nước trong sông Mekong được ghi nhận gần 7 m dưới mức bình thường ở Vientiane.  Vì tình trạng khô khan, nông dân chỉ có thể canh tác lúa trên khoảng 40% diện tích đất có thể canh tác của quốc gia, và chánh phủ ước tính rằng sản lượng năm nay sẽ thấp hơn năm 2018 khoảng 17.500 tấn.  Việt Nam cũng đối mặt với những thách thức tương tự nhưng khá hơn.  Với dòng chảy trong Mekong giảm đi, nước mặn xâm nhập sâu vào trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long của nước nầy, gây thiệt hại cho trên 30.000 ha ruộng lúa.  Chánh phủ mau chóng cộng tác với nông dân để chuyển các mùa lúa và tránh rủi ro cho mùa chánh, và kết quả là, mức sản xuất của quốc gia được dự đoán chỉ giảm khoảng 3% trong năm 2020.

Cambodia bị thiệt hại nặng bởi hạn hán.  Vào tháng 12, khoảng 45.000 ha ruộng lúa bị thiệt hại, và 16 trong 25 tỉnh của nước nầy đối mặt với tình trạng thiếu nước.  Chánh phủ đề nghị nông dân nên bỏ mùa lúa thứ 2nd để tiết kiệm nước, và các tổ chức cứu trợ bắt đầu chia sẻ báo cáo về nông dân đang chật vật với nợ nần vì thất mùa.

Là một quốc gia đang phát triển, Cambodia vẫn còn lệ thuộc nặng nề vào nông nghiệp để duy trì cuộc sống và cung cấp thực phẩm.  Trợ cấp canh tác rất phổ biến – Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc ước tính rằng trên 70% nông dân Cambodia tham gia vào một trong các lề lối nầy – và thành phần nông nghiệp sử dụng trên 30% dân số, đóng góp trên 1/5 GDP của quốc gia.  Đa số đất canh tác được dùng để trồng lúa, và nông dân thường vay nợ để mua sắm những thứ cần thiết để làm mùa.  Đối với nhiều người, thất mùa hay mất mùa có thể là sạt nghiệp.

Cùng lúc với nông nghiệp trong khu vực bắt đầu khát nước, số cá đánh được của quốc gia đã sụp đổ.  Hệ thống sông Mekong là nền ngư nghiệp nước ngọt lớn nhất trên thế giới, thường cung cấp trên 2,6 triệu tấn cá hàng năm.  ¼ số nầy đến từ Cambodia và hầu hết từ hồ Tonle Sap.  Mặc dù mưa mùa trong năm 2018 đưa đến một sản lượng cá lớn hơn bình thường, thay đổi trong dòng chảy từ các đập thủy điện và thay đổi khí hậu, cùng với việc đánh bắt bừa bãi, khiến cho số lượng cá đánh bắt được trong những năm gần gây giảm xuống.

Sản xuất tự nhiên của sông Mekong do mưa: Lượng nước mưa làm cho phụ lưu nối hồ Tonle Sap với Mekong đảo ngược dòng chảy.  Dòng chảy đảo ngược nầy làm ngập hồ Tonle Sap và mang cá con vào các khu rừng và đồng lụt ở chung quanh hồ.  Khi mưa mùa chấm dứt, sông đảo dòng một lần nữa, và nước và cá lớn trở lại dòng chánh Mekong.  Lũ càng lớn, số cá đánh được càng nhiều.  Nhịp lũ nầy phần lớn không xảy ra trong năm 2019 vì hạn hán và sự can thiệp vào dòng chảy của các đập ở thượng lưu.  Vào tháng 10, ngư dân sống dọc theo hồ Tonle Sap báo cáo rằng số cá đánh được ít hơn trung bình từ 60 đến 70%.

Cũng như lúa, cá là một nguồn sinh sống chủ yếu của quốc gia.  Trên 2 triệu người Cambodia làm việc về thủy sản, chiếm khoảng 10 đến 18% GDP của Cambodia.  Cá cũng cung cấp khoảng 70% chất đạm tiêu thụ ở Cambodia, vì thế một sự sụt giảm đáng kể có thể đưa đến sự tăng vọt cấp thời của bất ổn lương thực.  Trong các cộng đồng dọc theo Tonle Sap, sự tụt giảm của số cá đánh được góp phần cho việc ra đi của lao động và buộc các gia đình phải vay nợ để trang trải chi phí hàng ngày.

Hạn chế mậu dịch đang làm đứt chuỗi cung cấp, và việc hạn chế đi lại vì coronavirus ngăn chận lao động làm việc ở nông trại.  Các quốc gia cần phải lui bước và ngưng hoảng hốt.

Chỉ số An ninh Lương thực Toàn cầu (Global Food Security Index) của Bộ phận Tình báo Kinh tế (Economist Intelligance Unit) liệt kê Cambodia gần hạng chót, 90 trong số 113 được lượng định.  Sự bất ổn lương thực tương đối của Cambodia phản ánh mức phát triển kinh tế vừa phải, cũng như thiếu sự đa dạng trong thức ăn vì quá lệ thuộc vào lúa và cá.  Ngay trong một năm bình thường, 1/5 dân số thiếu ăn, và suy dinh dưỡng ở khắp nơi.

Mặc dù thị trường toàn cầu có thể cung cấp thực phẩm thay thế cho số cá mất mất và sản lượng lúa giảm trong năm hạn hán, đại dịch coronavirus đưa đến tình trạng thiếu lương thực và giá cả tăng vọt ở nơi mà chuỗi cung cấp nội địa bị gián đoạn.  Nhu cầu cho thức ăn chánh như lúa và bột mì đã tăng vọt vì được tìm mua hớt hải.  Ở Cambodia, giá lúa ở Siem Reap tăng 33% từ tháng 3 đến tháng 4.  Ngay ở Thái Lan, có kho lúa quốc gia đáng kể, giá cả tăng trên 25% từ đầu năm, đạt mức cao nhất trong 7 năm.  Sau cá, heo tính đến nay là nguồn chất đạm được tiêu thụ rộng rãi nhất ở Cambodia.  Nhưng các đợt cúm heo Phi Châu liên tiếp ở Trung Hoa và láng giềng Việt Nam đã giới hạn nguồn cung cấp khu vực trong năm qua, đẩy giá lên trong các thị trường bị ảnh hưởng và trong các quốc gia lệ thuộc vào nhập cảng như Cambodia.

Dự trữ lúa ở Thái Lan và Việt Nam có vẻ dư để đáp ứng nhu cầu quốc gia, nhưng vì không biết chắc ảnh hưởng kinh tế của coronavirus, việc xuất cảng đã bị cấm để bảo đảm an ninh lương thực ở trong nước.  Vào tháng 3, Việt Nam tạm ngưng xuất cảng gạo trong thời gian ngắn và sau đó thay thế bằng định mức xuất cảng vào giữa tháng 4.  Các nhà phân tích tiên đoán số lượng xuất cảng của quốc gia sẽ giảm khoảng 40%.  Mặc dù Thái Lan hy vọng được lợi từ việc gia tăng xuất cảng gạo, chánh phủ đã yêu cầu sự hỗ trợ của thành phần tư nhân để bảo đảm cho việc cung ứng vững chắc thị trường nội địa và cấm xuất cảng trứng tiếp theo các báo cáo về việc tích trữ ở địa phương.  Cambodia đã áp dụng các biện pháp của mình, loan báo cấm xuất cảng một số gạo vào ngày 30 tháng 3, và ngày 4 tháng 4 cấm xuất cảng cá.  Các thương thuyết gia của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations (ASEAN)) đã nhóm họp trong đầu tháng 4 để thảo luận luật lệ duy trì mậu dịch nông sản tự do nhưng không thể đi đến một thỏa thuận quan trọng.

Từ việc lượng định của mình, Cambodia phải có đủ dự trữ lương thực để đáp ứng nhu cầu quốc gia; tuy nhiên, viễn ảnh của các cộng đồng nông dân và ngư dân mang nợ nần thì không lạc quan.  Liệu thực phẩm vừa túi tiền có đến với người dân hay không trở thành vấn đề ngày càng nguy ngập khi khủng hoảng kéo dài và ảnh hưởng kinh tế gia tăng.  Việc cấm xuất cảng của quốc gia có thể có lợi ích ngắn hạn ở địa phương nhưng cũng có thể làm gián đoạn thêm chuỗi cung cấp và gây thiệt hại cho nông dân và ngư dân nếu không được quản lý cẩn thận.  Mặc dù giới tinh hoa và trung lưu trong thành phố có thể có biện pháp để bảo đảm có đủ thực phẩm vừa túi tiền, các cộng đồng nông thôn rải rác trong các làng mạc trên khắp nước có thể thấy hệ thống thực phẩm ở địa phương ít thích nghi hơn.

Trong những lúc bình thường, cơ chế thị trường và chuỗi cung cấp có thể thay thế cho việc thiếu hụt hay giá cả tăng vọt ảnh hưởng đến thức ăn chánh – nhưng đây không phải là lúc bình thường.  Người nghèo ở Cambodia có thể đối mặt với một sự tụ họp chưa từng thấy của mất lợi tức, thiếu cung cấp, giá thực phẩm cao, và sự gián đoạn chuỗi cung cấp.  Chánh phủ cần phải theo dõi cẩn thận tình hình nầy trong ngắn hạn và phải có những biện pháp để can thiệp trong trường hợp các cộng đồng nông dân và ngư dân không thể tự cung cấp cho họ.

Khi cuộc khủng hoảng cấp thời do sự đe dọa của coronavirus đã qua, Cambodia và các láng giềng vẫn phải đối mặt với thách thức lâu dài để bảo đảm một hệ thống sông Mekong khả chấp và tươi sáng.  Mặc dù thay đổi khí hậu do con người gây ra và hiện tượng thời tiết tự nhiên như El Niños nằm ngoài sự kiểm soát của những người hoạch định chánh sách, các chánh phủ Mekong có thể hành động ngay bây giờ để thi hành các chánh sách và quy định để giảm nhẹ ảnh hưởng của chúng trong tương lai.  Điều nầy gồm có việc thương thảo với Bắc Kinh để chia sẻ dữ kiện thủy học quanh năm của sông và việc điều hành các đập Trung Hoa ở thượng lưu.  Nó cũng gồm có một sự thăm dò các giải pháp thay thế cho các đập mới được dự trù hiện nay trên Mekong và các phụ lưu ở Lào, mà nếu được xây sẽ làm giảm thêm số cá đã tụt giảm.

Đại dịch coronavirus là một thách thức ngắn hạn khó khăn cho an ninh lượng thực của người dân dễ tổn thương nhất ở Cambodia.  Tuy nhiên, hạn hán là một vấn đề tái diễn trong vùng cần được đặc biệt đối phó để bảo đảm rằng khủng hoảng nông nghiệp sẽ không trở thành thông lệ.  Đối với Cambodia, là quốc gia lệ thuộc nặng nề vào nhịp lũ tự nhiên để cung cấp thực phẩm, bảo tồn dòng chảy tự nhiên của Tonle Sap phải là một ưu tiên hàng đầu.

Sơ lược về tác giả

Courtney Weatherbay là một phân tích viên nghiên cứu của các chương trình Đông Nam Á và Năng lượng, Nước, và Tính Khả chấp của Trung tâm Stimson.  Nghiên cứu của bà chú trọng đến những thách thức trong phát triển năng lượng và hạ tầng cơ sở khả chấp ở Đông Nam Á và Ấn Độ-Thái Bình Dương, nhất là mối quan hệ thực phẩm-nước-năng lượng trong Mekong và vùng phụ cận.

John Lichtefeld là một học giả ngoại trú của các chương trình Đông Nam Á và Năng lượng, Nước, và Tính Khả chấp của Trung tâm Stimson, và là phó chủ tịch của Nhóm Á Châu.  Lãnh vực nghiên cứu của ông bao gồm an ninh môi trường và thích ứng chánh trị với thay đổi khí hậu ở lục địa Đông Nam Á.


.

Sunday, August 23, 2020

HỒ LỚN NHẤT CỦA CAMBODIA ĐANG KHÔ CẠN, KÉO THEO RỪNG VÀ CÁ


(Cambodia’s biggest lake is running dry, taking forests and fish with it)

Stefan Lovgren – Bình Yên Đông lược dịch
National Geographic – August 17, 2020

Các ngư dân đi qua một làng nổi trên Tonle Sap.  Nhiều cư dân sống trên hồ đang chứng kiến hạn hán và mực nước giảm xuống, và đang bỏ việc đánh cá để canh tác trong rừng ngập nước ngày càng khô ở chung quanh hồ. [Ảnh: Linh Pham]

Hạn hán và đập đã đẩy Tonle Sap vào suy thoái nguy hiểm, đe dọa rừng ngập nước và thủy sản cung cấp hầu hết chất đạm của quốc gia.

Hun Sotharith nhớ lại khi ông đến Tonle Sap của Cambodia để trở thành một ngư dân.  Đó là đầu thập niên 1990s, và rừng ngập nước chung quanh hồ nơi ông đánh cá rất rậm rạp đến độ Sotharith, một cựu quân nhân, phải mất một ngày rưỡi để tìm đường trở về làng nổi của ông.

Vào lúc đó, trong 6 tháng mùa mưa, vùng đất ngập nước bao la trở thành nơi sinh sống, sinh sản, và trú ẩn của nhiều loại cá, kể cả cá tra dầu (giant catfish) Mekong đang tuyệt chủng.  “Rừng ở khắp nơi, và cá rất nhiều,” Sotharith nói.

Ngày nay, chỉ còn dấu vết còn lại của thế giới rừng ngập nước ở Koh Chivang, một huyện có 5 làng ở cuối hồ về phía tây bắc, nơi Sotharith hiện là phó chủ tịch huyện.  Một trận hỏa hoạn trong mùa khô 2016 đã thiêu hủy 80% rừng ngập nước của huyện, phá hủy nơi cư trú chủ yếu của cá và làm cho nhiều người trong số 130.000 cư dân sống trên các nhà nổi phải bỏ nghề đánh cá; nay, họ trồng ớt và các hoa màu khác.
Hồ Tonle Sap. [Nguồn: Sapana Lohani]

Cốt chuyện tương tự được nghe chung quanh Tonle Sap, hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á (ĐNA) và là trung tâm thủy sản nội địa phong phú nhất trên thế giới.  Ở nhiều nơi, rừng nguyên sinh từng tăng trưởng từ đất có thể canh tác từ lòng hồ, xám xịt, khô và không có cây cối – nhưng bị ngập bởi nước lụt đến trễ trong những năm gần đây – nay kéo dài quá tầm mắt.  Hỏa hoạn thường do cố ý để khai quang đất cho nông nghiệp làm giảm thêm rừng ngập nước.

Nhiều nhà bảo tồn nay đang cảnh báo rằng Tonle Sap, một Khu Sinh quyển UNESCO, đối mặt với đe dọa sống còn.  Việc phá thêm rừng và suy thoái môi trường có tiềm năng gây thiệt hại kinh tế thảm khốc cho gần 1 triệu người Cambodia sống chung quanh hồ và nhiều triệu người khác dựa vào hồ để có cá – nguồn chất đạm chủ yếu của quốc gia.

Một trại nuôi cá hố của chánh phủ.  Thủy sản trong rừng ngập nước chung quanh Tonle Sap lâm nguy vì hạn hán và phá rừng hủy hoại nơi cư trú của cá. [Ảnh: Linh Pham]

Một quân cảnh lùng kiếm những người đốn gỗ lậu trong rừng. 
[Ảnh: Sean Gallagher]

Trong khi các vùng khác, như Prey Lang, một khu bảo tồn thiên nhiên ở miền trung Cambodia và là một trong những rừng cây xanh ở vùng đất thấp còn sót lại ở ĐNA, đã bị tổn thương vì phá rừng bừa bãi – thường do việc đốn gỗ trái phép được tham nhũng chống đỡ - một thiệt hại lớn nhất đã xảy ra trong rừng ngập nước Tonle Sap, theo một nghiên cứu được công bố gần đây trong tạp chí Water.  Nó cho thấy 31% rừng bị mất từ năm 1993.

Các nghiên cứu khác cho thấy rừng ngập nước có tiềm năng thu hút carbon nhiều hơn rừng khô, có nghĩa là chúng có thể giúp làm giảm ảnh hưởng của thay đổi khí hậu bằng cách hút carbon dioxide từ khí quyển và giữ lại.

“Điều nầy đáng lo ngại, vì có quá ít rừng ngập nước” ở Cambodia so với các loại rừng khác, và “rừng ngập nước có vai trò quan trọng trong sự lành mạnh của hệ thống ở dưới nước,” tác giả chánh của nghiên cứu trong Water, Sapana Lohani, một khoa học gia môi trường là thành viên của một dự án nghiên cứu của USAID có tên Wonders of the Mekong (Kỳ quan của Mekong), cho biết.

Zeb Hogan, một chuyên viên sinh học về cá ở Đại học Nevada, Reno và một nhà thám hiểm của National Geographic làm việc trong khu vực trong nhiều thập niên và cầm đầu dự án USAID, nói: “Chúng ta đang chứng kiến sự hủy hoại của một hệ sinh thái độc nhất, với sự mất mát thảm thương của đời sống hoang dã, thủy sản, và cuộc sống của một số người to lớn.”

Tài sản sinh thái

Trước giữa thế kỷ 20th, Cambodia nổi tiếng với nội địa tươi tốt.  Mặc dù có diện tích nhỏ hơn láng giềng Thái Lan và Việt Nam, quốc gia nầy có nhiều rừng nguyên sinh hơn.  Nhưng khi quốc gia thoát khỏi nội chiến và kinh tế bắt đầu tăng trưởng vào đầu thập niên 2000s, mức độ phá rừng cũng gia tăng.  Một kế hoạch của chánh phủ để chuyển trên 10% lãnh thổ quốc gia cho các công ty ngoại quốc, hầu hết là đồn điền cao su, đưa đến sự hủy hoại môi trường tràn lan.

Ngay cả sau khi chương trình bị đình chỉ trong năm 2012, việc phá rừng ở Cambodia tiếp tục gia tăng.  Theo Global Forest Watch (Giám sát Rừng Toàn cầu), một sáng kiến theo dõi trên mạng của World Resources Institute (Viện Tài nguyên Thế giới), Cambodia mất ¼ tổng số diện tích cây bao phủ – trên 5 triệu acres rừng – từ năm 2001 đến 2019, mức cao nhất của bất cứ quốc gia Á Châu nào và cao hơn Brazil rất nhiều.

Rừng bị phá ở tỉnh Preah Vihear, phía bắc Cambodia gần biên giới Lào.  Quốc gia ĐNA từng có mức phá rừng nhanh nhất trên thế giới; chỉ còn lại khoảng 3% rừng nguyên sinh.  [Ảnh: Sean Gallagher]


Một đồn điền cao su trong Khu Đời sống Hoang dã Beng Per, ở phía bắc Cambodia.  Hầu hết đất đai của khu đời sống hoang dã đã được chánh phủ bán. [Ảnh: Sean Gallagher]


Tài sản sinh thái của Tonle Sap được duy trì bởi nhịp nước hàng năm chảy vào hồ từ tháng 6 đến 11 của mùa mưa từ Mekong và các sông khác.  Khi các rừng chung quanh bị ngập,Tonle Sap có thể lan rộng trên 5 lần diện tích trong mùa khô.  Thủy sản phong phú đến độ cá đánh được hàng năm ở đây nhiều hơn số cá đánh được trong tất cả sông hồ ở Bắc Mỹ gộp lại.

Nhưng mọi thứ không còn bình thường trong vùng Tonle Sap.  Nhiều năm đánh bắt bừa bãi đã làm giảm mạnh mẽ số cá đánh được, mặc dù không thể biết chính xác bao nhiêu vì chánh phủ Cambodia rất do dự để phổ biến các con số đáng tin cậy.

Và nay, toàn thể hệ thống dường như đang khô cạn.  Từ năm ngoái, mực nước trên khắp Hạ lưu vực Mekong đã xuống đến mức thấp lịch sử, kết quả của hạn hán và nước bị các đập thủy điện của Trung Hoa giữ lại ở thượng lưu.  Năm nay, nhịp lũ đáng lý đã đến vẫn chưa đến.  Mực nước trong Tonle Sap thấp hơn mực nước cùng lúc hồi năm ngoái, theo trạm thủy học duy nhất mà Ủy hội sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) dùng theo dõi (ở nơi Tonle Sap chảy vào hồ). [Lời người dịch: Đó là trạm thủy học Kampong Luong.]

Tình trạng khô cạn khiến cho rừng ngập nước dễ bị đốn gỗ và hỏa hoạn do con người gây ra, vô tình hay cố ý.  Trong năm 2016, hỏa hoạn lớn lao đã thiêu rụi 1/3 trong số 750.000 acres rừng ngập nước trong vùng Tonle Sap.  Năm nay, hỏa hoạn bắt đầu trong tháng 2.  Mặc dù không tràn lan như năm 2016, chúng thiêu rụi các mảnh rừng nguyên sinh lớn, và tiếp tục cháy ở một số nơi sau các trận mưa đầu mùa vào 2 tháng trước.

Mất mọi thứ

Không chỉ có cá bị đe dọa bởi sự mất rừng ngập nước, nhưng rùa, rắn và một số chủng loại có nguy cơ tuyệt chủng, bao gồm rái cá có râu, một trong các loại rái cá ít được biết đến trên thế giới.  Nhiều thú vật mất nơi cư trú, chẳng hạn như loài khỉ Đức, một loại khỉ bị đe dọa, nhiều con đu mình trên cây cháy nám đen.

Prek Toal là nơi cư trú của chim nổi tiếng quốc tế ở góc tây bắc của Tonle Sap.  Là nơi cư trú của thủy cầm lớn nhất ở ĐNA, với khoảng 100.000 cặp, nó bảo vệ nhiều loại cò, cò quăm, và cồng cộc, một số nhỏ cò già vô cùng hiếm, và đàn chàng bè duy nhất ở ĐNA.

Hỏa hoạn trong năm 2016 thiêu hủy gần 20.000 acres ở Prek Toal, 1/3 khu bảo tồn.  Tuy nhiên, hỏa hoạn không giết một số chim đáng kể, vì chúng trốn vào nơi cư trú an toàn.  Năm nay, nó có vẻ không bị tổn thương vì hỏa hoạn, nhưng các nhà bảo tồn lo ngại rằng hỏa hoạn trong tương lai có thể xóa thêm.

“Chúng tôi không muốn mất mọi thứ,” Simon Mahood, một nhà sinh thái học của Wildlife Conservation Society (Hiệp hội Bảo tồn Đời sống Hoang dã) đã góp phần xây dựng khu bảo tồn trong thập niên 1990s, nói.  “Prek Toal có lẽ là câu chuyện bảo tồn thành công nhất ở ĐNA.”

Căng thẳng

Đại dịch Covid-19 đã xóa bất cứ lợi tức mà người dân thường thu nhập từ du khách viếng thăm Prek Toal và đền Angkor nổi tiếng, nằm ở phía bắc của hồ.  Nó cũng thu hút nhiều di dân từ Thái Lan, một việc mà các quan sát viên lo ngại sẽ tạo áp lực lên đất đai chung quanh Tonle Sap khi có nhiều người trồng hoa màu.

Dường như đã có căng thẳng giữa các cộng đồng sống trên mặt nước và người dân sống trên đất liền, với các báo cáo về “người lạ” đi vào rừng ngập nước và bắt đầu đốt – nhiều khi bỏ tàn thuốc – để khai quang đất canh tác hay để đuổi thú hoang vì chúng có thể giết người.

“Cư dân trong đất liền không dễ để nói chuyện,”  Sotharith nói.  “Họ đến với gươm và dao, và họ có thể bạo động với chúng tôi.”

Gần Khu bảo tồn Đời sống Hoang dã Phnom Tnout Phnom Pok ở bắc Cambodia, đất bị đốt cháy bởi nông dân, người đốn gỗ, và người địa phương để bắt thú hoang hay khai quang để canh tác.  Cambodia có mức phá rừng nhanh nhất trên thế giới, được trợ giúp bởi hạn hán. [Ảnh: Sean Gallagher]

Ở Koh Chivang, kế cận với Prek Toal, Sotharith ước tính rằng 70% cư dân, phần đông làm nghề đánh cá trước đây, nay chuyển qua canh tác trên các thửa đất nhỏ bên cạnh nhà sàn của họ.  Ớt, với giá cao trong những ngày gần đây, là hoa mùa được ưa chuộng.

“Người dân của chúng tôi không canh tác xa nhà, và chúng tôi khuyên họ không nên phá rừng,” Sotharith nói.  “Chúng tôi đã học kinh nghiệm.”

Nhưng các nhà bảo tồn hy vọng rằng rừng ngập nước sẽ không bị mất.  “Là một hệ sinh thái nhiệt đới, Tonle Sap rất phong phú và mọi thứ lớn rất nhanh, cho nên có tiềm năng cho việc phục hồi, nếu áp lực được giải tỏa,” Nick Souter, một nhà sinh thái học của Conservation International (Bảo tồn Quốc tế).  Tổ chức nầy đang giúp các cộng đồng Tonle Sap trồng lại nhiều vùng rừng ngập nước và thành lập các đội chữa cháy địa phương để phòng ngừa cháy rừng.

Nhưng đối với một số người, kể cả Nai Sina, một ngư dân 24 tuổi trong làng Kampong Prohoc, nó có thể quá trễ.  Sina, người đánh cá trong 8 năm qua, nói anh dự định đi ra nước ngoài để tìm việc.  Nếu nước dâng lên bình thường, anh nói, anh sẽ trở về để đánh cá.  Nhưng mọi thứ tùy thuộc vào rừng.

“Khi chúng tôi có rừng,” anh nói, “chúng tôi có cá, chúng tôi có thú hoang khác, và tài nguyên thiên nhiên của chúng tôi phong phú.  Khi anh phá rừng, anh phải nghĩ đến tương lai.”


.