Friday, November 15, 2019

Điện mặt trời Nam Ngum có thể thay thế Thủy điện trên dòng Mekong ở Lào? (Phạm Phan Long P.E)




Về tác giả:
Kỹ sư Phạm Phan Long có 40 năm kinh nghiệm với tư cách là một kỹ sư cơ khí chuyên nghiệp ở California, và là người sáng lập Quỹ Sinh thái Việt (Viet Ecology Foundation) - một tổ chức phi chính phủ (NGO) có trụ sở tại Hoa Kỳ. Ông cũng sáng lập Hãng Moraes/Pham và Cộng sự, Công ty Tư vấn Công nghệ Tiên tiến (Advanced Technologies Consultant Inc.) với tư cách là Giám đốc phụ trách, trực tiếp điều hành các dự án về Tuân thủ Quy tắc, An toàn và Cơ sở cho các công ty dược và sản xuất thiết bị bán dẫn như Hughes Aircraft Co, Genentech, ASML Cymer, AMCC, ABOTT và Solar Turbines.

Top of Form

Dòng sông Lan Thương–Mekong đang bị tàn phá bởi hàng trăm dự án thủy điện trên dòng chính và các phụ lưu của nó từ cao nguyên Tây Tạng ở Trung Quốc tới hạ lưu sông Sê san ở Campuchia. Riêng trên dòng chính Mekong, Chính phủ Lào đóng vai trò chính trong việc xây dựng những dự án này và thậm chí đang có kế hoạch xây thêm. Nhưng tại sao nước này lại chỉ tập trung vào các nhà máy thủy điện (hydroelectric power plants - HPPs)? Còn những nguồn năng lượng tái tạo khác thì sao? Liệu điện mặt trời Nam Ngum có thể thay thế thủy điện trên dòng Mekong ở đất nước này?

Ngày 01 tháng 11 năm 2019
Kỹ sư Phạm Phan Long, Quỹ Sinh thái Việt (Viet Ecology Foundation)
Biên dịch: Giải pháp vì Môi trường

Hình 1. Sự nở rộ các nhà máy thủy điện trên lưu vực sông Lan Thương - Mekong


Tôi đã thực hiện một nghiên cứu khả thi đơn giản về kinh tế - kỹ thuật để trả lời câu hỏi quan trọng ở trên, và kết quả là có, hoàn toàn có thể. Một trang trại điện mặt trời nổi (floating solar-with-storage, FSS) với công suất thiết kế 11.400 MW là hoàn toàn khả thi về mặt kỹ thuật để sản xuất ra một lượng điện tương đương 15.000 GWh/năm và chi phí thấp hơn so với cả 3 dự án thủy điện hiện đang được lên kế hoạch xây dựng tại Lào - gồm Pak Lay, Pak Beng và Luang Prabang. Quy mô dự án FSS Nam Ngum là rất lớn nhưng có thể thực hiện trong 15 năm với công suất 760 MW/năm với sản lượng 1.000 GWh/năm.





Hình 1. Các dự án thủy điện của Lào trên dòng chính sông Mekong

Cho đến hiện tại, Lào đã có tổng cộng 9 dự án thủy điện trên dòng chính của sông Mekong. Chính phủ nước này đã triển khai hai dự án thủy điện Don Sahong và Xayaburi, và giờ đang hướng quan tâm tới 3 dự án thủy điện khác, gồm: Pak Lay, Pak Beng và Luang Prabang.
Bảng 1 dưới đây cho thấy 3 dự án thủy điện nói trên có tổng sản lượng là 15.418 GWh/năm với tổng mức đầu tư là 8,8 tỷ USD. Để khai thác được lượng điện này thì sẽ phải mất 143 km2 diện tích đất dùng cho hồ chứa nước và 41.767 người sẽ mất nhà cửa.


Các đánh giá tác động môi trường (EIA) đã được thực hiện bởi một số chuyên gia quốc tế, ICEM [1], Intralawan [2], Vietnam DHI Study [3], MRC Council Study [4]. Tất cả đều kết luận rằng chuỗi những HPP này sẽ dẫn đến sự phân bổ không cân bằng về thiệt hại và lợi ích giữa các nước trong lưu vực, điều này trái ngược với nguyên tắc công bằng (equitable) của Thỏa thuận Sông Mekong năm 1995 [5].


Phương pháp luận

Hướng tới đề xuất để Lào có một giải pháp thay thế thực sự cho thủy điện, tôi đã đưa ra ý tưởng về FSS có công suất 11.400 MW đặt trên diện tích 370 km2 của Hồ chứa Nam Ngum - nơi có diện tích bề mặt thoáng và phẳng nhất ở Lào. FSS có thể tạo ra điện lượng 15.000 GWh/năm, tương đương với điện lượng của cả 3 dự án thủy điện nói trên cộng lại. Nghiên cứu này được thực hiện với những công cụ phân tích dưới đây:
  • Bảng tính Global Solar Atlas [6] của Ngân hàng Thế giới/Solaris.
  • Bảng tính Chi phí Năng lượng (LCOE) đơn giản của Phòng thí nghiệm Năng lượng Tái tạo Quốc gia (NREL) [7].
  • Diện tích bề mặt FSS được tính toán dựa trên FSS Đa Mi ở Việt Nam sau khi hiệu chỉnh phù hợp với chỉ số Bức xạ Nghiêng Toàn cầu (GTI) tương ứng [8].
  • Dự toán chi phí dựa vào Bộ Năng lượng Hoa Kỳ [9] và các dự án FSS đã hoàn thành gần đây [10] với quy mô tương tự và một vài trong số đó đã đi vào vận hành ở lưu vực sông Mekong.
Thủy điện trên dòng Mekong

Tôi đã chạy nhiều mô hình tài chính để ước tính chi phí vận hành của 3 dự án thủy điện sắp tới của Lào gồm Pak Lay, Pak Beng và Luang Prabang. Dựa trên giá trị vốn [11] và chi phí, Bảng 2 ở dưới cho thấy chỉ số LCOE là 0,0257 USD/kWh, chưa kể những chi phí ngoại vi của 3 dự án thủy điện nói trên.

 Bảng 3 ở dưới cho thấy chỉ số LCOE là 0,0581 USD/kWh dựa trên tổng vốn đầu tư có tính đến chi phí ngoại vi (lưu ý: Chi phí ngoại vi được ước tính dựa trên báo cáo của Viện Di sản Thiên nhiên [12] cho dự án thủy điện Sambor, với giả định rằng 3 dự án thủy điện tiếp theo của Lào sẽ có cùng chi phí ngoại vi nếu được thực hiện). 


Điện Mặt trời nổi Nam Ngum - Giải pháp thay thế

Hình 3. Vị trí Hồ chứa Nam Ngum


Hồ chứa Nam Ngum kéo dài trên 60 km ở phía Bắc của Thủ đô Viêng Chăn. Hiện tại có một đường dây 500 kV tới Viêng Chăn và sang cả Thái Lan, trong tương lai sẽ có một đường dây 500 kV sang Việt Nam [13]. Nam Ngum là địa điểm lý tưởng nhất cho FSS, và đối với mục đích của nghiên cứu này.
Hình 4: Trang Global Solar Atlas trực tuyến cho thấy chỉ số PVOUT (lượng điện năng có thể được sản xuất trên mỗi kWp công suất đỉnh) cho khu vực này là 1.399 kWh/kWp. Trong Phụ lục 1 của Báo cáo của Global Solar Atlas có thể thấy rằng một hệ thống điện mặt trời công suất 760 MW thì có thể sản xuất ra 1.006 GWh/năm. 
Hình 4. Dự án điện mặt trời nổi ở Hồ chứa Nam Ngum

Bảng 4 dưới đây cho thấy dự án FSS trên Hồ chứa Nam Ngum có thể được thực hiện theo 15 bước trong vòng 15 năm, với tuổi thọ 25 năm. Toàn bộ dự án sẽ cần 111 km2 hay 30% tổng diện tích bề mặt của hồ chứa. Đây là dự án đầy tham vọng và lớn hơn nhiều lần so với trang trại FSS lớn nhất thế giới hiện nay.





Thảo luận

Nghiên cứu này tuân theo các phương pháp kỹ thuật tiêu chuẩn và chỉ ra tất cả các yếu tố kỹ thuật quan trọng dựa trên nguồn dữ liệu cụ thể tại vị trí dự án nghiên cứu. Các yếu tố về chi phí là những ước tính và dùng cho mục đích cạnh tranh thương mại nên chỉ có thể kiểm chứng qua cuộc đấu thầu. Điều đáng ngạc nhiên là các kết quả mở thầu không chỉ ở Mỹ mà cả ở Việt Nam và Campuchia đều nhận được các gói bỏ thầu năng lượng tái tạo với giá thấp hơn dự đoán.
  • Chỉ số LCOE của 3 dự án thủy điện nói trên trong hai kịch bản không tính chi phí ngoại vi và có tính chi phí ngoại vi lần lượt là 0,026 và 0,058 USD/kWh (Bảng 2 và 3).
  • FSS Nam Ngum sử dụng pin lưu trữ 4 giờ có thể sản xuất một lượng điện tương đương với các dự án thủy điện với chỉ số LCOE trung bình là 0,058 USD/kWh.
  • FSS Nam Ngum sử dụng pin lưu trữ 2 giờ có thể sản xuất một lượng điện tương đương với các dự án thủy điện với chỉ số LCOE trung bình là 0,039 USD/kWh.
  • Hai lựa chọn FSS trên không gây ra tổn thất xã hội nên không có chi phí ngoại vi.
Cả hai lựa chọn FSS đều ưu việt hơn bộ 3 dự án thủy điện nói trên. Ngoài ra các dự án FSS này còn mang đến những ích lợi đáng kể như sau:
  • FSS giúp bảo tồn một phạm vi rất lớn lưu vực sông Mekong, giữ lại 143 km2 diện tích đất lưu vực sông và hàng vạn ngôi nhà của 41.767 người dân đang cư ngụ tại khu vực này.
  • Nhờ các tấm thu điện mặt trời che phủ 30% bề mặt nước hồ, trữ lượng nước của Hồ chứa Nam Ngum sẽ giảm thất thoát do bay hơi, đời sống thủy sinh giảm hiện tượng tảo nở hoa nên hồ sẽ tránh bị nhiễm độc.
  • FSS sẽ không tạo ra những tác động xuyên biên giới tới các nước láng giềng và người dân của họ. Điều này có nghĩa là Lào có thể đàm phán để có được những khoản vay ưu đãi với mức lãi suất thấp hơn để thực hiện dự án FSS.
  • Dự án FSS với công suất 11.400 MW này sẽ tạo ra hơn 320.000 việc làm cho người dân địa phương trong nhiều năm [14].
Khuyến nghị

Lào đã xây dựng nhiều dự án thủy điện ở những khu vực thuận lợi nhất họ có trên dòng Mekong và xuất khẩu điện sang các nước láng giềng trong hai thập kỷ qua. Những khu vực còn lại với sản lượng ước tính ở mức thấp hơn, chi phí xây dựng cao hơn và này càng tăng lên, bên cạnh đó những tác động tiêu cực xuyên biên giới của hai nhà máy thủy điện Don Sahong và Xayaburi tới người dân Campuchia và Việt Nam phải hứng chịu đã được báo cáo và công bố [15]. Nếu tiếp tục xu hướng này, Lào có thể tự mình mắc kẹt trong một thế giới mà thủy điện không phải là nguồn năng lượng sạch với chi phí đang ngày càng tăng lên. Thái Lan đã hoãn nhập khẩu điện từ thủy điện Pak Beng của Lào [16]. Điều gì đang xảy ra vậy? Thế giới đã thay đổi, các nguồn năng lượng tái tạo phi thủy điện tiên tiến tốt hơn, rẻ hơn, sạch hơn và cho đến thời điểm này là thân thiện hơn với khí hậu của chúng ta.

Ngay cả những cường quốc xuất khẩu dầu khí cũng đang đưa ra những thay đổi mang tính chiến lược. Ả rập Xê út đã xây dựng những trang trại điện mặt trời với tổng công suất 2,6 GW tại hai thánh địa linh thiêng của đất nước này, và có kế hoạch nâng tổng công suất điện mặt trời lên 57 GW cho tới năm 2030. Úc - cường quốc xuất khẩu than đá - lên kế hoạch xây dựng Trung tâm Năng lượng Tái tạo Châu Á có công suất 15 GW [17] với 3.800 km cáp dưới biển để cung cấp 3 GW cho Indonesia và Singapore. Ngay Nam Phi cũng đã lên kế hoạch sẽ thực hiện 6,4 GW điện gió và 14 GW điện mặt trời vào 2030. Chính phủ Hoa Kỳ không thể ngăn các công ty điện chuyển đổi các nhà máy năng lượng từ đốt khí tự nhiên và than đá qua điện mặt trời và điện gió vì chi phí chúng đã giảm xuống dưới 2 cent/kWh [18]. Trung Quốc trong khi gia tăng đầu tư các nhà máy thủy điện và điện than ở các nước khác thì bản thân lại dẫn đầu thế giới về sản xuất tấm thu điện mặt trời [19] và pin dự trữ  [20] - một tín hiệu Trung Quốc sẽ từ bỏ nhiên liệu hóa thạch. Còn Ấn Độ là quốc gia tích cực nhất trong việc áp dụng điện mặt trời với kế hoạch đạt tới 100 GW công suất điện mặt trời cho tới năm 2022.

Người dân Lào nên chất vấn chính phủ của mình về kế hoạch đầu tư tuyền thủy điện trong khi cuộc cách mạng năng lượng tái tạo đang lan rộng n hanh chóng trên khắp thế giới. Đến lượt mình, Chính phủ Lào nên yêu cầu hãng tư vấn Poyres làm rõ là tại sao hãng này không khảo sát và báo cáo về các nguồn năng lượng phi thủy điện. Nghiên cứu này cho thấy không chỉ Lào có thể thay thế tất cả 3 dự án HPP bằng dự án Nam Ngum FSS. Tôi đã làm  nghiên cứu sơ bộ và thấy rằng Campuchia cũng có thể thực hiện FSS trên Hồ Tonle Sap thay cho thủy điện Sambor và Stung Treng. Còn Việt Nam có thể loại bỏ 20% nhà máy điện than trên đồng bằng sông Cửu Long với chỉ một dự án FSS lắp đặt trên Hồ Trị An.

Mạng lưới NGO quốc tế “Cứu lấy Mekong” đã gửi tới Chính phủ Lào một bản khuyến nghị [21] để hủy bỏ tất cả các nhà máy thủy điện trên dòng Mekong và thay thế bằng những lựa chọn năng lượng tái tạo phi thủy điện. Nghiên cứu này cung cấp cho Chính phủ Lào chìa khóa để thực hiện kế hoạch này.

Chính phủ Lào sẽ bỏ lỡ một cơ hội tuyệt vời nếu thất bại trong việc hướng tới một phương án thay thế thủy điện bằng một dự án FSS trên Hồ Nam Ngum. Đó cũng sẽ là một sai lầm và thiếu sót nghiêm trọng nếu các đơn vị tư vấn và tác giả của Báo cáo Đánh giá Tác động Kinh tế- Xã hội cho HPP không đưa lựa chọn FSS vào báo cáo này.

Tài liệu tham khảo:

[11] Capital cost is projected by FORECAST tool from cost data of Xayaburi, Pak Beng and Pak Lay by author.

Source:

.

Tuesday, November 12, 2019

Dự báo năm 2050 miền Nam Việt Nam ngập lụt nặng


Hà Dương Cự/Người Việt
November 7, 2019

Dự báo mới cho năm 2050. (Hình: climatecenter.org)


Ngày 29 Tháng Mười vừa qua một bài báo khảo cứu đăng trên báo Nature Communications đã có những tính toán mới và đưa đến những dự báo là đến năm 2050 hầu như toàn bộ miền Nam Việt Nam sẽ bị ở dưới mực nước khi thủy triều lên cao.
Nhưng theo mạng VOA (voatiengviet.com) thì bà Huỳnh Thị Lan Hương, phó viện trưởng Viện Khoa Học Khí Tượng Thủy Văn và Biến Đổi Khí Hậu thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi Trường CSVN, đã tỏ vẻ ngờ vực kết quả của bài báo này. Bà cho rằng bài báo nói Đồng Bằng Sông Cửu Long bị xóa sổ là chưa đủ cơ sở khoa học và dựa trên các giả định cực đoan.

Trong bài này tôi xin trình bày kết quả của bài báo, những chi tiết liên quan tới bài báo. Thí dụ như tác giả bài này là ai và phương pháp tính toán của họ ra sao? Xét về chuyên môn bài báo này có tin được không?

Kết quả của bài báo 
Mực nước biển dâng cao là một trong những sự nguy hiểm do không khí bị hâm nóng gây ra. Loài người đã thải ra ngoài không khí những khí nhà kính làm cho trái đất nóng lên. Do đó những tảng băng ở hai cực tan ra và chảy vào biển làm cho mực nước biển dâng cao. Hơn nữa, nhiệt độ ấm làm nước biển nở ra, sự kiện này cũng góp phần vào việc dâng cao mực nước biển. Những vùng đất thấp ven biển trên thế giới có nguy cơ bị ngập lụt.
Hai tác giả của bài báo cho là mô hình phát triển trước đây không được chính xác và quá lạc quan. Họ loan báo là đã phát triển được một phương pháp tính toán chính xác hơn dựa vào thông tin về mực độ cao từ vệ tinh.
Theo bài khảo cứu này thì trong thế kỷ 21 mực nước biển sẽ dâng lên ít nhất là 0.5 mét. Trong trường hợp tệ nhất thì có thể lên trên 2 mét. Mô hình mới tính lại độ cao của vùng ven biển. Theo những con số đó và dựa vào sự dự đoán mực nước biển thì vào năm 2050 nhà cửa của khoảng 300 triệu người sẽ bị ở dưới mức ngập lụt trung bình hằng năm. Trong số đó có 20 triệu người Việt Nam ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Vào năm 2100 thì đất đai của 200 triệu người hiện đang sinh sống sẽ bị nằm dưới nước khi thủy triều lên cao.

Cảnh ngập lụt. (Hình: creativecommons.org)

Những chi tiết liên quan đến bài báo 
Tên bài báo là: “New elevation data triple estimates of global vulnerability to sea-level rise and coastal flooding” (tạm dịch Dữ kiện mới về độ cao làm tăng lên gấp ba các ước tính về sự nguy hại toàn cầu đối với việc mặt nước biển lên cao và sự ngập lụt miền duyên hải), được đăng trên báo Nature Communications, ngày 29 Tháng Mười, 2019. Hai tác giả là Scott A. Kulp và Benjamin H. Strauss.

Báo Nature Communications là một báo khảo cứu khoa học, có từ năm 2010 và có trụ sở ở New York, London và Thượng Hải. Cũng như những báo khảo cứu đứng đắn khác Nature Communications theo hệ thống duyệt xét của đồng nghiệp (peer review), tức là bài khảo cứu nào muốn được đăng thì phải qua sự duyệt xét của một vài chuyên viên cùng ngành. Nếu được chấp thuận của các chuyên viên thì mới được cho đăng.

Tiến Sĩ Scott A. Kulp là khoa học gia chuyên về mực nước biển dâng cao ở Climate Central và có bằng Ph.D. về máy tính ở Đại Học Rutgers, New Jersey. Tiến Sĩ Benjamin Strauss là tổng giám đốc (chief executive officer) và khoa học gia trưởng của Climate Central. Ông Strauss có bằng Ph.D. về sinh thái học ở Đại Học Princeton.
Climate Center là một cơ quan độc lập chuyên khảo cứu và báo cáo về sự thay đổi khí hậu và các ảnh hưởng đối với công chúng. Như vậy, xét về trình độ chuyên môn mức độ khả tín của bài báo này rất cao.

Các phương pháp đo độ cao trước đây 
Hai yếu tố chính của bài khảo cứu là sự tan chảy của băng đá và mực độ cao của vùng đất ven biển. Bài báo không chú trọng đến sự tan chảy của băng đá mà chỉ dựa vào những con số có sẵn. Điểm chính yếu và mới mẻ của bài nghiên cứu này là phương thức tính toán độ cao của đất đối với mực nước biển.
Bài báo nói là công việc đo độ cao vùng ven biển một cách chính xác rất là khó khăn và tốn kém. Ở Hoa Kỳ hay những nước tân tiến thì dùng kỹ thuật lidar để đo độ cao. Kỹ thuật này sử dụng máy bay, máy bay trực thăng và máy bay không người lái. Ở những vùng không dùng lidar thì phải sử dụng những tập dữ liệu khác. Tập dữ liệu được dùng nhiều nhất là từ vệ tinh của NASA trong chương trình Shuttle Radar Topography Mission (Nhiệm Vụ Địa Hình Ra Đa của Phi Thuyền Con Thoi, viết tắt là SRTM).

Đa số dữ liệu SRTM có trên mạng Internet và ai cũng có thể truy nhập được, nhưng không được chính xác bằng lidar. SRTM chỉ đo được độ cao của phần trên của mặt đất, thí dụ ở chỗ có nhà hay cây thì độ cao đo từ STRM là nóc nhà hay ngọn cây chứ không phải thật sự độ cao của mặt đất, như vậy không được chính xác. Nhất là những vùng cây cối dày đặc hay vùng đông dân cư. Độ cao của SRTM trung bình cao hơn khoảng 2 mét so với độ cao thật sự. Ở những vùng ven biển nếu xác định độ cao cao hơn thực tế thì có thể đánh giá thấp sự nguy cơ bị ngập lụt.

Dự báo cũ cho năm 2050. (Hình: climatecentral.org)

Phương pháp đo độ cao của bài nghiên cứu 
Phương pháp đo độ cao của bài báo được gọi là CoastalDEM (Coastal Digital Elevation Model, mô hình độ cao duyên hải kỹ thuật số). Mô hình này dùng công nghệ máy tự học áp dụng vào 51 triệu điểm dữ liệu để sửa lại những sai số của SRTM.
Các nhà khoa học đối chứng CoastalDEM với SRTM tại những nơi đã biết chính xác độ cao bằng lidar như vùng duyên hải miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Tại những vùng đó SRTM tính độ cao cao hơn thực tại trung bình là 15.5 foot trong khi đó Coastal DEM chỉ sai có 2.5 inch.
Việt Nam nên làm gì? 

Những khảo cứu khoa học có thể chính xác hay không nhưng nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam không thể làm ngơ chuyện này được vì ảnh hưởng rất lớn đối với dân chúng kể về sinh mạng và tài sản cũng như nền kinh tế của cả nước.

Việc đầu tiên là phải lập ra một ủy ban chuyên nghiên cứu về việc nước biển dâng lên và nguy cơ ngập lụt Đồng Bằng Sông Cửu Long, liên lạc với các cơ quan khảo cứu quốc tế để tìm hiểu và xác định mức độ khả tín của những báo cáo đó. Sau đó phải làm một báo cáo đầy đủ chi tiết và loan báo cho công chúng để mọi người được hiểu tường tận vấn đề.

Bà Huỳnh Thị Lan Hương đã tỏ vẻ ngờ vực kết quả của bài nghiên cứu này. Nhưng bà Hương cũng có nói là một số vấn đề trong bài báo cần được xem xét kỹ lưỡng hơn, đặc biệt là về mặt số liệu và giả định nghiên cứu. Hy vọng có người thật sự quan tâm và theo dõi vấn đề này.
Tuy nhiên, như một câu ngạn ngữ Anh: “Hope for the best and prepare for the worst” (Hy vọng được tốt đẹp nhất và sửa soạn cho trường hợp xấu nhất) nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam dù sao cũng cần phải có những kế hoạch dài hạn như xây đập ngăn nước và di dân lên vùng đất cao để nếu cần thì đem ra thi hành. (Hà Dương Cự)

Nguồn tài liệu:

.

Sunday, November 10, 2019

Khoa học và chính trị xung quanh thông tin ĐBSCL, TP.HCM sẽ "biến mất"



Luật sư Nguyễn Tiến Lập
Chủ nhật, 03/11/2019  

Từ dự báo rằng vào năm 2050, đồng bằng sông Cửu Long và TP.HCM sẽ chìm dưới nước biển, điều người dân chờ đợi từ các cấp có thẩm quyền thực chất lại không phải là cảnh báo những gì sẽ xảy ra, mà quan trọng hơn là nếu mỗi kịch bản xảy ra thì các tác động cũng như giải pháp và kế hoạch ứng phó thế nào?

Bản so sánh kết quả nghiên cứu cũ và nghiên cứu mới 
công bố về ảnh hưởng của nước biển dâng đối với miền Nam Việt Nam. 
Đồ họa: New York Times


Theo quan điểm của tôi, bất kể vấn đề gì tác động lên tư duy và hành động của số đông người dân, chưa nói tới hàng triệu con người, đều là vấn đề chính trị. Vậy thì thông tin về Báo cáo khoa học của tổ chức Climate Central vừa mới được công bố với dự báo rằng vào năm 2050, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và TP.HCM sẽ chìm dưới nước biển đang được đón nhận ở Việt Nam như vấn đề của khoa học hay chính trị?

Trước hết, hơn 20 triệu người dân vùng ĐBSCL và gần 10 triệu người dân TP.HCM, chưa nói tới toàn thể người dân Việt Nam, sẽ phản ứng thế nào về thông tin đáng sợ này một khi đang có hai đánh giá hoàn toàn ngược nhau từ hai Viện khoa học ở hai đầu đất nước?

PGS. TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu về biến đổi khí hậu (thuộc Đại học Cần Thơ), đồng quan điểm và cho rằng Báo cáo của Climate Central hoàn hoàn đáng tin cậy. Trong khi đó, PGS. TS Huỳnh Thị Lan Hương, cũng là Phó Viện trưởng của Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và biến đổi khí hậu (thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường), thì phản bác cho rằng thông tin của Climate Central về việc ĐBSCL sẽ biến mất vào năm 2050 là “chưa đủ căn cứ khoa học”.

Từ góc độ người dân, tôi tin rằng tất cả đều hy vọng nhận định của PGS. TS Huỳnh Thị Lan Hương là đúng bởi nếu không, Việt Nam sẽ đối mặt một vấn đề chính trị lớn khi chỉ 30 năm nữa cuộc sống của hàng chục triệu con người không biết sẽ đi về đâu và các rủi ro cho an ninh quốc gia có liên quan sẽ được xử lý như thế nào?

Tuy nhiên, người dân lại chỉ hành động theo niềm tin chứ không phải sự hy vọng. Mà từ hy vọng đến niềm tin lại là cả một quá trình mà trong đó, nhiều câu hỏi sau đây có thể được đặt ra và cần sự trả lời, không chỉ từ chính các nhà khoa học mà cả Bộ Tài nguyên và môi trường:
Thứ nhất, Climate Central có phải là một tổ chức có uy tín về khoa học trên thế giới hay không? Thông tin từ mạng internet cho biết đây là một tổ chức phi chính phủ, chuyên cung cấp các nghiên cứu độc lập về biến đổi khí hậu do các nhà khoa học hàng đầu thực hiện.
Đặc biệt, hai tác giả chính của Báo cáo về nước biển dâng mới đây có liên quan đến Việt Nam là Scott Kulp - một nhà nghiên cứu cấp cao của tổ chức này và Đại học New Jersey, và người kia là Benjamin Strauss - CEO và Khoa học gia trưởng của Climate Central - là người có các công trình khoa học được cả Nhà trắng Hoa Kỳ và Liên hợp quốc sử dụng, từng có các bài nghiên cứu được hơn 10 ngàn lần đăng tải trên các tạp chí khoa học có uy tín toàn cầu.

Chỉ mới triều cường làm vỡ bờ bao tại đường Mễ Cốc (quận 8) 
mà người dân đã phải "bơi" trong dòng nước đen ngòm. Ảnh: PLO

Thứ hai, Báo cáo nghiên cứu của Climate Central có đưa ra các kết quả cập nhật và có tính mới về khoa học hay không?  Theo PGS. TS Huỳnh Thị Lan Hương, nghiên cứu của Climate Central có ý nghĩa về mặt khoa học, tuy nhiên, bản đồ số độ cao do Bộ Tài nguyên và môi trường sử dụng trong xây dựng bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng trong kịch bản năm 2016 là nguồn số liệu cập nhật và tốt nhất.

Do vậy, theo quan điểm bà Hương, các cơ quan, địa phương khi đánh giá nguy cơ ngập do nước biển dâng cần sử dụng số liệu chính thức do Bộ Tài nguyên và môi trường công bố.
Đối với người dân, một câu trả lời rõ ràng và đúng đắn rất quan trọng và cần thiết, bởi ứng xử tự nhiên của một con người trước nguy cơ thảm hoạ là phòng ngừa ở mức tối đa cho tình huống xấu nhất chứ không phải những giả định lạc quan.

Tại báo Báo cáo của Climate Central có chỉ dẫn về 67 thông tin tham khảo nhưng không có nguồn nào từ Bộ Tài nguyên và môi trường Việt Nam. Vậy, để trả lời câu hỏi này một cách chính xác, phải chăng Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và biến đổi khí hậu cần liên hệ với các tác giả của Báo cáo để đối chất và tranh luận, trước khi tuyên bố không thừa nhận hay bác bỏ kết quả nghiên cứu của họ!?

Thứ ba, liệu rằng có thể xảy ra kịch bản mức nước biển dâng cao 2m hay không? PGS. TS Huỳnh Thị Lan Hương cho rằng Báo cáo của Climate Central đã dựa trên các “giả định cực đoan”, cụ thể các tác giả đã đưa ra kịch bản mức ngập tới 2m dựa trên sự chồng chập của hai hiệu ứng nước biển dâng vĩnh viễn do biến đổi khí hậu và nước biển dâng nhất thời (chỉ vài giờ) do thuỷ chiều là phi thực tế.

Người phụ nữ bồng đứa con 3 tháng tuổi lội trên đường Phan Anh (quận Tân Phú) 
do xe chết máy vì ngập nước. Ảnh: Tùng Tin/VietNamNet

Đọc văn bản Báo cáo thì thấy hai tác giả kết luận rằng với phương pháp tính toán mới, mọi dự báo về mức nước biển dâng thấp hơn nhiều dưới 2m đều không đúng nữa.
Đối với người dân, một câu trả lời rõ ràng và đúng đắn rất quan trọng và cần thiết, bởi ứng xử tự nhiên của một con người trước nguy cơ thảm hoạ là phòng ngừa ở mức tối đa cho tình huống xấu nhất chứ không phải những giả định lạc quan.

Thứ tư, một khi Báo cáo nghiên cứu của Climate Central được phổ biến rất chi tiết để ai cũng có thể tiếp cận thì về phía Việt Nam, Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và biến đổi khí hậu hay Bộ Tài nguyên và môi trường cũng có thể công bố rộng rãi các nghiên cứu và dự báo của mình được không? Một sự thật hiển nhiên là trong thời đại ngày nay, người dân có thể tiếp cận các nguồn thông tin bằng rất nhiều phương tiện khác nhau.

Họ làm điều đó để tự định hướng cho hành động của mình mà cần không chờ đợi ai, dù là cơ quan chính quyền, chỉ dẫn hay yêu cầu. Vấn đề đặt ra là thông tin trung thực và chính xác.
Do đó, sự phản hồi từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam trong vấn đề này đang khẩn thiết được trông đợi.

Cuối cùng, điều người dân chờ đợi hơn từ các cấp có thẩm quyền thực chất lại không phải là cảnh báo những gì sẽ xảy ra, mà quan trọng hơn là nếu mỗi kịch bản xảy ra thì các tác động cũng như giải pháp và kế hoạch ứng phó thế nào?

Luật sư Nguyễn Tiến Lập


Trung Quốc biến nguồn nước thành vũ khí, gây thêm hạn hán ở châu Á



Mai Vân
06-11-2019

Ảnh minh họa : 
Đập Xayaburi, dài 820 mét do Trung Quốc xây trên sông Mêkông tại Lào.
Handout / CK POWER / AFP


Các hành vi bức hiếp láng giềng của Bắc Kinh không chỉ được thấy trên các vùng biển bao quanh Trung Quốc, mà còn thể hiện trên đất liền, với việc khống chế nguồn nước của các con sông tỏa ra khắp khu vực.

Trong bài phân tích “Trung Quốc biến nguồn nước thành vũ khí, gây thêm hạn hán ở châu Á - China is weaponizing water and worsening droughts in Asia”, công bố ngày 28/10/2019 vừa qua trên tờ báo Nhật Bản Nikkei Asian Review, giáo sư Ấn Độ Brahma Chellaney đã vạch trần thủ đoạn của Trung Quốc, lợi dụng vị trí đầu nguồn các con sông chảy qua các nước khác, ồ ạt xây đập để biến nguồn nước thành công cụ gây sức ép chính trị, với hệ quả là làm cho nạn hạn hán ở châu Á thêm nghiêm trọng.

Bài phân tích trước hết nêu bật sự kiện châu Á, lục địa khô hạn nhất thế giới tính theo đầu người, hiện là trung tâm xây đập của thế giới, tập hợp hơn một nửa trên tổng số 50.000 con đập lớn của hành tinh. Hoạt động quá mức của các con đập đã làm gay gắt thêm tranh chấp khu vực và quốc tế về nguồn lợi đến từ các con sông chung của nhiều nước.
Thế thượng phong tự nhiên của Trung Quốc

Theo chuyên gia Chellaney, Trung Quốc nằm ở trung tâm bản đồ về nguồn nước của châu Á. Nhờ chiếm được vùng cao nguyên Tây Tạng giàu nguồn nước và vùng Tân Cương rộng lớn, Trung Quốc trở thành thượng nguồn các con sông chảy xuống 18 quốc gia vùng hạ lưu. Không một nước nào trên thế giới là đầu nguồn nước của nhiều quốc gia như thế.
Khi xây dựng đập, hay những cấu trúc khác làm thay đổi dòng nước ở vùng biên giới, Trung Quốc thiết lập như thế những cấu trúc lớn ở thượng nguồn, trang bị cho mình khả năng sử dụng nước như vũ khí.

Ví dụ rõ nhất được tác giả nêu lên là sông Mêkông. Mùa hè vừa qua, mực nước của dòng sông có giá trị sống còn cho vùng Đông Nam Á này, dài 4.880 cây số, đã xuống mức thấp nhất từ hơn 100 năm qua, cho dù mùa mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng cuối tháng 9. Sau khi hoàn tất 11 con đập khổng lồ, Trung Quốc lại xây thêm một loạt đập nữa ở thượng nguồn dòng sông. Bắc Kinh cũng xây đập trên những con sông xuyên quốc gia khác.

Rủi ro đến từ các con đập
Giáo sư Chellaney nhìn thấy việc xây dựng đập thủy điện cũng khuấy động quan hệ ở nơi khác ở châu Á.

Tranh chấp ở Kashmir vùng Nam Á, hay ở Ferghana Valley, khu vực Trung Á, liên quan đến vấn đề nguồn nước cũng như lãnh thổ. Tại nhiều nơi ở châu Á các quốc gia đều tìm cách kiểm soát tài nguyên của những con sông chung bằng cách xây dựng đập, cho dù vẫn đòi hỏi sự minh bạch và thông tin về các đề án của các láng giềng.

Hạn hán nghiêm trọng đã xẩy ra ở nhiều vùng rộng lớn, từ Úc cho đến bán đảo Ấn Độ. Tình trạng này đã phơi bày các rủi ro trong việc tập trung vào giải pháp đập, làm tăng thêm nguy có thiếu hụt nước sử dụng.

Những vùng đông dân cư ở châu Á đã đứng trước nguy cơ thiếu nước trầm trọng có thể dẫn đến tình trạng khan hiếm nước. Việc tranh nhau xây đập cũng gây ra thêm căng thẳng có thể đi đến xung đột.

Ở phương Tây, các công trình xây đập khổng lồ không còn được tiến hành nữa. Tại các quốc gia dân chủ lớn ở châu Á, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, việc xây đập lớn cũng giảm đi do các phong trào phản đối của người dân. Tại các nước độc đoán thì khác

Chính việc xây đập ở các nước không dân chủ đã biến châu Á thành tụ điểm của việc xây đập. Và Trung Quốc đứng đầu thế giới trong lãnh vực này ở trong nước cũng như ngoài nước.
Bắc Kinh luôn luôn bị tham vọng xây đập ngày càng lớn, càng sâu, càng dài, càng cao hơn ám ảnh. Và như vậy, Trung Quốc đã hoàn tất đập lớn nhất thế giới Tam Hiệp, công trình được khoe là kiến trúc vĩ đại nhất trong lịch sử từ sau Vạn Lý Trường Thành…

Trong kế hoạch xây dựng đập mới, có công trình trên con sông cao nhất thế giới, Brahmaputra. Đập dự kiến nằm gần biên giới tranh chấp với Ấn Độ được canh phòng cẩn mật. Công xuất điện sản xuất gần gấp đôi của đạp Tam Hiệp, mà bồn chứa dài hơn là hồ lớn nhất của Great Lakes, Bắc Mỹ.

Một số quốc gia Đông Nam Á cũng có đề án xây đập, do công ty Trung Quốc tài trợ và xây dựng, như ở Lào và Miến Điện, để xuất khẩu điện sang Trung Quốc.
Bài viết ghi nhận là Trung Quốc cũng không mấy tỏ ra áy náy trong việc xây đập tại những nơi tranh chấp, như ở vùng Kashmir ở Pakistan, hay vùng sắc tộc thiểu số miền bắc Miến Điện.
Từ khi Trung Quốc xây một loạt đập to lớn trên sông Mêkông, hạn hán trở nên thường xuyên hơn ở các nước hạ lưu. Và điều đó đã khuấy động quan hệ với các nước khác, vì Bắc Kinh không chấp nhận nguyên nhân đến từ đập của mình.

Giải pháp cứu vãn tình hình ?
Trong thực tế, Trung Quốc đã tìm cách đóng vai kẻ cứu tinh, hứa sẽ xả thêm nước từ các con đập xuống cho các quốc gia bị hạn hán. Nhưng đề nghị này chỉ nêu bật tình trạng phụ thuộc hoàn toàn mới của các nước hạ nguồn vào thiện chí của Trung Quốc - một sự phụ thuộc được đặt ra ngày càng sâu sắc khi Trung Quốc xây dựng thêm những con đập khổng lồ trên sông Mêkông.

Với những tai họa về nước ngày càng tồi tệ trên khắp châu Á, lục địa này phải đối mặt với sự lựa chọn rõ ràng - đi theo con đường hiện tại, điều này chỉ có thể dẫn đến suy thoái môi trường nhiều hơn và thậm chí là chiến tranh nước, hoặc thay đổi cơ bản bằng cách bắt đầu con đường hợp tác dựa trên quy tắc.

Con đường thứ hai không chỉ đòi hỏi sự chia sẻ nước và lưu lượng dữ liệu thủy văn miễn phí mà còn đòi hỏi quản lý hiệu quả hơn việc tiêu thụ nước, tăng sử dụng nước tái chế và khử muối, và các nỗ lực bảo tồn và thích ứng.

Không thể làm được điều này nếu không có sự hợp tác của Trung Quốc, cho đến nay vẫn từ chối tham gia vào các thỏa thuận chia sẻ nguồn nước với bất kỳ nước láng giềng nào.
Nếu Trung Quốc không từ bỏ cách tiếp cận hiện tại, triển vọng cho một trật tự dựa trên quy tắc ở châu Á có thể bị xóa bỏ vĩnh viễn. Do đó, theo ông Chellaney, việc kéo được Trung Quốc vào cuộc đã trở nên thiết yếu trong việc quản lý nguồn nước vì hòa bình ở châu Á.

Source:

.

10 năm chờ đợi làm Chủ tịch ASEAN: Việt Nam sẽ thúc đẩy vấn đề Biển Đông và sông Mekong?



10/11/2019
Võ Văn Quản

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp nhận chức Chủ tịch ASEAN cho Việt Nam, 
ngày 4/11/2019 tại Bangkok. Ảnh: TTXVN.


Khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp nhận chiếc búa Chủ tịch ASEAN từ Thủ tướng Thái Lan ngày 4/11 tại Bangkok, ông mang về cơ hội 10 năm có một cho Việt Nam trong việc xác lập nghị trình của tổ chức liên chính phủ này. 

Chủ tịch ASEAN là ai?

Chức danh Chủ tịch ASEAN (ASEAN Chairmanship) có căn cứ pháp lý quốc dựa trên Hiến chương ASEAN (ASEAN Charter), tại Điều 31 và 32. Theo đó, vị trí Chủ tịch ASEAN sẽ được luân phiên giữa các thành viên, theo thứ tự ABC của tên quốc gia và có nhiệm kỳ một năm. Với 10 thành viên, điều này đồng nghĩa với việc phải đến cả thập niên thì một quốc gia thành viên mới có cơ hội ngồi vào chiếc ghế nóng này. 
Song ghế nóng thế nào cũng vô giá trị nếu chủ nhân của nó không có thực quyền. Vậy Chủ tịch ASEAN có những quyền hành như thế nào? 

Về tổ chức, quốc gia giữ ghế Chủ tịch ASEAN sẽ đồng thời có quyền chủ trì (a) Hội nghị Cấp cao ASEAN và các Hội nghị cấp cao liên quan; (b) Các cuộc họp của Hội đồng Điều phối ASEAN; (c) Ba Hội đồng Cộng đồng ASEAN; (d) Các cuộc họp của Cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trưởng và quan chức cao cấp; và (e) Ủy ban các Đại diện thường trực ASEAN. Như vậy, ghế chủ tịch sẽ giúp quốc gia thành viên có tiếng nói khá quan trọng, thực hiện hoạt động điều phối nhiều chế định khác nhau, từ đó có thể có những ảnh hưởng nhất định đến cương lĩnh và định hướng phát triển của toàn ASEAN.   

Về chính sách, ngoại trừ những quy định chung chung như “tích cực thúc đẩy và đề cao lợi ích cũng như quyền lợi của ASEAN” hay “đảm bảo vai trò trung tâm của ASEAN”, vị trí Chủ tịch sẽ là bên đưa ra các nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN thông qua các sáng kiến về chính sách, điều phối, đồng thuận và hợp tác. Đặc biệt hơn, vị trí chủ tịch cũng sẽ có thẩm quyền đưa ra những đề xuất nhằm “ứng phó một cách hiệu quả và kịp thời các vấn đề cấp bách hoặc các tình huống khủng hoảng tác động đến ASEAN”.

Hiển nhiên, những quyền lợi nói trên không đồng nghĩa với việc Chủ tịch ASEAN có quyền hô mưa gọi gió. ASEAN vẫn vận hành chủ yếu dựa trên nguyên tắc “đồng thuận”, tức chỉ ra nghị quyết hoặc thống nhất một cương lĩnh hành động chung nếu 100% thành viên đều tán thành. Song dù sao, việc có khả năng xây dựng chương trình nghị sự, đưa ra các sáng kiến lập pháp, đề xuất vấn đề trọng tâm để ASEAN phải cùng xem xét, giải quyết chắc chắn mang lại cho quốc gia nắm ghế chủ tịch những lợi thế nhất định. 

Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN, tháng 6/2019, do Thái Lan chủ trì. 
Ảnh: Al Jazeera.

Ảnh hưởng thực tế và cơ hội nào cho Việt Nam
Thực tế cũng cho thấy các quốc gia ASEAN thường rất xem trọng vị trí Chủ tịch ASEAN, trừ khi họ bị quá phân tâm vào các vấn đề quốc nội. 

Đối với trường hợp của Thái Lan, nước giữ quyền Chủ tịch ASEAN trong năm 2019, nhiều nhà phân tích đã dự báo từ trước đó rằng nước này sẽ gặp rất nhiều khó khăn để tận dụng vị thế Chủ tịch ASEAN khi mà người dân và các chính khách, quan chức Thái Lan gần như dành toàn lực chú ý vào các vấn đề trong nước. 

Thật vậy, hơn nửa đầu năm 2019, không có nghị trình đặc biệt hay sáng kiến lập pháp, sáng kiến chính sách nào được Thái Lan đưa ra để giải quyết các vấn đề cấp thiết mà khối ASEAN đang hoặc sẽ phải đối mặt. Trong năm 2019, gần như toàn nguồn lực của chính phủ và người dân Thái Lan tập trung vào cuộc bầu cử đầu tiên tại nước này kể từ sau cuộc đảo chánh năm 2014. Kế đó, chính trị Thái Lan lại tiếp tục ầm ĩ với sự lên ngôi của quốc vương Maha Vajiralongkorn, vị vua mới của người dân Thái sau hơn bảy thập kỷ trị vì của vua Bhumibol Adulyadej. 

Tuy nhiên, Thái Lan cũng có sáng kiến chính sách chung ASEAN được đánh giá cao trong nửa cuối nhiệm kỳ, nhằm thể hiện và khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN trong tương lai của châu Á là việc xây dựng và định hướng cho Tuyên bố chung của ASEAN về vùng “Indo-Pacific” (ASEAN Outlook on the Indo-Pacific). Bằng cách bao gồm cả vùng Ấn Độ Dương và các quốc gia Thái Bình Dương, Thái Lan – cũng như các quốc gia thành viên ASEAN – khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN cũng như sự liên thông, nối liền của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. 

Đặc biệt hơn, Thái Lan cũng thành công trong việc đưa vào tuyên bố vấn đề tự do hàng hải, chủ quyền biển và yêu cầu các bên phải tôn trọng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982. Nhờ vào việc xác định khu vực biển Đông Nam Á là vùng đệm liên lục địa Ấn – Á, văn bản này lôi kéo cả vai trò của Ấn Độ – một cường quốc khác luôn kèn cựa với sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Châu Á, và Nhật Bản – một cựu đế quốc vẫn còn duy trì được vai trò nhất định của mình ở châu Á. 

Thực tế cho thấy, Ấn Độ và Nhật Bản rất chào đón thuật ngữ “Indo-Pacific” và khả năng hợp tác chiến lược mới của họ tại Đông Nam Á, trong khi Trung Quốc thì phản đối ý tưởng, cho rằng đây là một chiến thuật cũ của Hoa Kỳ để đa phương hóa các vấn đề chính trị tại vùng biển Đông Nam Á, mà đặc biệt là Biển Đông của Việt Nam. 

Làm Chủ tịch ASEAN, Việt Nam có cơ hội thúc đẩy quan hệ giữa Hoa Kỳ và khu vực? 
Ảnh: ussc.edu.au.

Biển Đông và vấn đề sông Mekong

Như vậy, có thể thừa nhận một điều rằng vai trò Chủ tịch ASEAN không chỉ là hư danh, đặc biệt khi chúng ta nhớ đến cách mà Campuchia ngăn cản khối đưa ra tuyên bố chung về các hành vi của Trung Quốc tại Biển Đông hồi năm 2012, khi họ nắm ghế chủ tịch. 
Về vấn đề Biển Đông, người viết cho rằng việc vận dụng khôn khéo nền tảng “Indo – Pacific” mà Thái Lan để lại sẽ giúp ích rất nhiều cho việc đa dạng hoá các lựa chọn chính sách của Việt Nam tại Biển Đông, tranh thủ sự ủng hộ của nhiều cường quốc dành cho cả khối ASEAN và từ đó thống nhất được tiếng nói chung của nhóm về Biển Đông một cách gián tiếp, nhưng có chiến lược.

Thêm vào đó, chúng ta cũng hoàn toàn có khả năng đưa vấn đề sông Mekong vào nhiều nghị trình khác nhau trong các chương trình của ASEAN. Trong đó, cần đặc biệt nâng vấn đề Mekong trở thành vấn đề cấp bách chung của cả khối về an ninh lương thực, an ninh di cư, an ninh môi trường cũng như an ninh năng lượng; từ đó vận động và tìm kiếm một tuyên bố chung của ASEAN về Mekong. 

Với hầu hết các quốc gia đang thụ hưởng lợi ích từ dòng Mekong là thành viên của ASEAN, việc kết hợp tiếng nói chung của cả khối sẽ giúp Việt Nam có cơ hội tốt hơn để đàm phán, đối thoại với Lào về các chương trình thủy điện của họ, cũng như đoàn kết một khối để gây sức ép lên Trung Quốc đang chiếm giữ thượng nguồn Mekong. 
Nếu Việt Nam thật sự hoàn thành được những mục tiêu trên trong chỉ một năm làm Chủ tịch ASEAN, đây quả thật sẽ là một nhiệm kỳ rực rỡ về mặt ngoại giao, bõ công 10 năm chờ đợi. 


SOURCE: