Sunday, December 20, 2020

NHẬN XÉT VỀ DỰ ÁN “THEO DÕI ĐẬP MEKONG” CỦA HOA KỲ

 Nguyễn Minh Quang

17 tháng 12 năm 2020

Đập Xiaowan trên sông Lancang (Mekong) ở Trung Hoa.

Phần giới thiệu

Vào ngày 13 tháng 12 năm 2020, hãng thông tấn Reuters gởi một bản tin từ Bangkok, Thái Lan loan báo rằng Hoa Kỳ tài trợ cho một dự án sử dụng vệ tinh để theo dõi mực nước hàng tuần của các đập thủy điện trên sông Mekong ở Trung Hoa và phổ biến trên một trang mạng [1].  Lập tức, bản tin đã được giới truyền thông trên thế giới loan tải [2-7].  Riêng ở Việt Nam, mãi đến ngày 16 tháng 12 mới được một tờ báo loan tin [8].  Phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao Trung Hoa cũng lên tiếng rằng “Trung Hoa hoan nghênh đề nghị xây dựng của các quốc gia ngoài khu vực về việc phát triển và sử dụng nguồn nước sông Lancang-Mekong, nhưng chúng tôi cực lực phản đối những hành động hiểm độc để chia rẽ chúng tôi…  Cộng đồng khoa học quốc tế và Ủy hội sông Mekong tin rằng chuỗi đập thủy điện Lancang sẽ giúp duy trì sự ổn định của dòng chảy Mekong và có ích lợi trong nỗ lực ngừa lụt và cứu trợ hạn hán của các quốc gia Mekong.” [9]

Bài viết nầy có mục đích tìm hiểu thêm về dự án đó.

Theo dõi Đập Mekong

Theo dõi Đập Mekong (Mekong Dam Monitor) là một dự án hợp tác của Trung tâm Stimson (Stimson Center) và Eyes on Earth, Inc (EoE) được tài trợ bởi chương trình Hợp tác Mekong-Hoa Kỳ (Mekong-US Partnership) của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Hiệp hội Chino Cienega (Chino Cienega Foundation) và các mạnh thường quân [4].  Dự án được điều hành bởi một toán chuyên viên gồm có Brian Eyler (Stimson) và Alan Basist (EoE) là đồng trưởng toán;

Allison Carr (Stimson) và Claude Williams (Global Environmental Satellite Observations, Inc), nghiên cứu; và Courtney Weatherby (Stimson), liên lạc và hỗ trợ [10].

 

Phân tích chuỗi đập Lancang từ ngày 20 đến 26 tháng 7 năm 2020. [10]

Dự án sẽ sử dụng kỹ thuật viễn thám, ảnh vệ tinh và phân tích GIS để cung cấp dữ kiện gần nhất (near-real time) cho nhiều chỉ số chưa từng được phổ biến trước đây trong lưu vực Mekong [10].  Dự án nhằm các mục đích:

·        Theo dõi việc điều hành đập trên dòng chánh và các phụ lưu lớn của sông Mekong cùng ảnh hưởng thủy học ở hạ lưu (thay đổi đối với dòng chảy).

·        Tăng cường khả năng của các bên liên hệ để đo đạc một cách độc lập dòng chảy tự nhiên trong thượng lưu vực.

·        Nâng cao khả năng thương thảo, cai quản sông xuyên biên giới và tự mình lấy quyết định.

·        Nâng cao khả năng dự đoán ảnh hưởng môi trường và xã hội của việc điều hành đập.

·        Nâng cao kiến thức về lợi ích của dòng chảy tự nhiên, cải thiện cơ hội cho việc bảo tồn rộng rãi tài nguyên thiên nhiên của Mekong và làm giảm nguy cơ sụp đổ sinh thái Mekong.

·        Cung cấp bằng chứng để chống lại các tuyên bố không chính xác về tình trạng dòng chảy và việc điều hành các đập và hồ chứa trong lưu vực Mekong.

Dữ kiện của dự án – được phổ biến trên mạng của Sáng kiến Dữ kiện Nước Mekong (Mekong Water Data Initiative (MWDI)) [11] – gồm có:

Lưu lượng hàng tháng tại trạm Chiang Saen, Thái Lan. (Đen: MRC; Đỏ: EoE; Xanh: MRC-EoE) [10]

 

Lưu lượng hàng tháng tại trạm Vientiane, Lào. (Đen: MRC; Đỏ: EoE; Xanh: MRC-EoE) [10]

·        Ảnh vệ tinh hàng tuần (độ phân giải 10 m) của 13 đập và hồ chứa đã hoàn tất trên dòng chánh Mekong cùng với 15 đập trên phụ lưu với công suất trên 200 MW.

·        Mực nước hàng tuần của hồ chứa (bằng m trên mặt biển) và đường điều hành (operation curve) của đập.

·        Quan sát và phân tích hàng tuần của chuỗi 11 đập của Trung Hoa trên thượng lưu Mekong.

·        Các ảnh có độ phân giải cao và phân tích thủy học của 4 vùng ảnh hưởng then chốt ở hạ lưu.

·        So sánh dữ kiện dòng chảy của mô hình với dữ kiện đo đạc của Ủy hội Sông Mekong tại 2 trạm Chiang Saen, Thái Lan và Vientiane, Lào.

·        Bản đồ và dữ kiện về sự thay đổi của độ ướt mặt đất (surface wetness), nhiệt độ, lớp tuyết và lượng mưa trên toàn lưu vực Mekong.

·        Dữ kiện của tất cả các đập và hồ chứa được dự trù, đang được xây cất, và hoàn tất trong lưu vực Mekong (trên 500).

Vài nhận xét

Trước hết, dự án “Theo dõi Đập Mekong” đã tập trung dữ kiện của các đập và hồ chứa nước trong lưu vực Mekong, giúp cho việc theo dõi hay nghiên cứu tài nguyên nước trong lưu vực Mekong được dễ dàng hơn.

Dự án dựa trên nghiên cứu trong năm 2020 của Eyes on Earth, Inc. và Global Environmental Satellite Observations, Inc để ước tính “lượng nước chảy tràn của thượng lưu vực Mekong bằng một mô hình đơn giản và tin cậy,” rồi dùng ước tính nầy để “xác định xem chuỗi đập thủy điện của Trung Hoa trên thượng lưu Mekong đã thay đổi dòng chảy tự nhiên của sông như thế nào.” [12] Vì thế, dự án cũng vấp phải một số khuyết điểm mà Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) [13] và Hợp tác Tài nguyên Môi trường và Hệ thống Năng lượng Australia-Mekong (Australia-Mekong Partnership for Environmental Resources & Energy systems (AMPERES)) [14] đã nhận xét trước đây.  Trung Hoa cũng lên tiếng bác bỏ nghiên cứu và nói rằng “Hoa Kỳ không thể cung cấp bằng chứng từ đầu đến cuối.” [1]

Dự án sẽ cung cấp mực nước hàng tuần của hồ chứa (bằng m trên mặt biển).  Dữ kiện nầy không đủ để theo dõi việc điều hành hồ chứa.  Hơn nữa, độ chính xác cao nhất của việc ước tính cao độ của mực nước trong hồ chứa là 2 m, một sai số rất cao nếu hồ chứa có diện tích lớn [15].

Trong một bài xã luận, tờ báo China Daily của nhà nước Trung Hoa đã chỉ trích mạnh mẽ dự án nầy: “Tuy phải còn chờ xem mức độ chính xác của dự án có thể giúp theo dõi mực nước và đóng góp cho hệ sinh thái và phúc lợi của nông dân và ngư dân sống ven sông, nhiệm vụ được người điều hành dự án tiết lộ không đúng với tính khách quan và trung lập chánh trị của nghiên cứu khoa học. ‘Việc theo dõi cung cấp bằng chứng rằng 11 đập của Trung Hoa được dàn dựng và điều hành theo cung cách phức tạp để tối đa hóa việc sản xuất thủy điện để bán cho các tỉnh ở phía đông Trung Hoa mà không cứu xét đến các ảnh hưởng ở hạ lưu,’ Brian Eyler của Trung tâm Stimson ở Washington, một cơ quan nghiên cứu toàn cầu điều hành các thước nước ảo, cho biết.

Một phán quyết trước phiên tòa.

Làm sao người ta có thể tin vào các kết quả mới của dự án – dựa trên ‘độ ướt mặt đất’ hay ‘dòng chảy tự nhiên’ – được cho là đã xảy ra.  Cách tiếp cận lộ liễu của nó cho thấy dự án chỉ là một phần của việc vận động gây ảnh hưởng của Washington để bôi nhọ Trung Hoa và xúi giục các nước láng giềng.  Đó chẳng khác gì gọi con chó bằng một tên xấu rồi treo cổ nó.” [16]

Phần kết luận

Vào trung tuần tháng 12 năm 2020, Hoa Kỳ - qua chương trình MWDI – đã phát động dự án Theo dõi Đập Mekong để cung cấp dữ kiện gần nhất của các đập và hồ chứa trong lưu vực sông Mekong, bao gồm ảnh vệ tinh hàng tuần của các đập và hồ chứa và mực nước hàng tuần của các hồ chứa, nhằm mục đích theo dõi việc điều hành đập trên dòng chánh và các phụ lưu lớn của sông Mekong và ảnh hưởng thủy học ở hạ lưu (thay đổi đối với dòng chảy).

Dự án tập trung dữ kiện của các đập và hồ chứa, giúp cho việc theo dõi hay nghiên cứu tài nguyên nước trong lưu vực Mekong được dễ dàng hơn.  Vì dự án dựa trên một nghiên cứu trước đây, nó cũng vấp phải các khuyết điểm của nghiên cứu nầy.  Dữ kiện mực nước trong hồ chứa, được ước tính hàng tuần với độ chính xác 2 m, không đủ để theo dõi việc điều hành của hồ chứa.  Dữ kiện mực nước hàng ngày với độ chính xác cao hơn có lẽ thích hợp hơn.

Như thường lệ, Trung Hoa đã lên tiếng chỉ trích dự án Theo dõi Đập Mekong của Hoa Kỳ.  Họ nói dự án không có tính khách quan và trung lập chánh trị của nghiên cứu khoa học và được Hoa Kỳ sử dụng để bôi nhọ Trung Hoa và xúi giục hiềm khích của các nước láng giềng Mekong.

Sơ lược về tác giả

Tác giả nguyên là Kỹ sư Công chánh Chuyên nghiệp (Professional Civil Engineer) của tiểu bang Florida và California.  Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh tại Trường Cao đẳng Công chánh, Trung tâm Quốc gia Kỹ Thuật Phú Thọ, Sài Gòn năm 1972.  Trưởng ty Kế hoạch, Ủy ban Quốc gia Thủy lợi, Bộ Công chánh và Giao thông, Sài Gòn đến tháng 4 năm 1975.  Tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh (1983) và Cao học Thủy lợi (1985) tại Đại học Nebraska, Hoa Kỳ.  Chuyên viên Thủy học (Hydrlogist) của Sở Quản trị Thủy lợi, Broward County, Florida đến năm 1989.  Từ năm 1990 đến 2015, Kỹ sư Giám sát Trưởng (Senior Supervising Engineer) của Stetson Engineers Inc., một công ty cố vấn về thủy lợi và ô nhiễm nguồn nước, thành lập năm 1957 ở Los Angeles.  Về hưu từ năm 2016.

Tài liệu tham khảo

[1]       Kay Johnson and Matthew Tostevin.  December 13, 2020. “Chinese dams under scrutiny in Mekong rivalry.” Reuters. https://www.reuters.com/article/uk-mekong-river-idAFKBN28N0MW

[2]       Kay Johnson and Matthew Tostevin.  December 13, 2020. “Chinese dams under scrutiny in Mekong rivalry.” Yahoo!finance.  https://finance.yahoo.com/news/chinese-dams-under-u-scrutiny-170100921.html

[3]       Kay Johnson and Matthew Tostevin.  December 13, 2020. “Chinese dams under scrutiny in Mekong rivalry.” Financial Post. https://financialpost.com/pmn/business-pmn/chinese-dams-under-u-s-scrutiny-in-mekong-rivalry

[4]       Maria Siow. December 14, 2020. “US-backed Mekong monitoring project set to test China’s patience.” Souht China Morning Post. https://www.scmp.com/week-asia/politics/article/3113785/us-backed-mekong-monitoring-project-set-test-chinas-patience

[5]       Sebastian Strangio. December 14, 2020. “New Monitoring Platform to Scrutinize China’s Mekong Dams.”  The Diplomat.  https://thediplomat.com/2020/12/new-monitoring-platform-to-scrutinize-chinas-mekong-dams/

[6]       Đài Á Châu Tự do. December 14, 2020. “Hoa Kỳ giám sát các đập thủy điện của Trung Quốc ở sông Mekong.”  RFA. https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/chinese-dams-under-us-scrutiny-in-mekong-rivalry-12142020074235.html

[7]       Mai Vân. December 14, 2020. “Sông Mêkông: Mỹ loan báo dùng vệ tinh giám sát đập thủy điện của Trung Quốc.” RFI. https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20201214-s%C3%B4ng-m%C3%AAk%C3%B4ng-m%E1%BB%B9-loan-b%C3%A1o-d%C3%B9ng-v%E1%BB%87-tinh-gi%C3%A1m-s%C3%A1t-%C4%91%E1%BA%ADp-th%E1%BB%A7y-%C4%91i%E1%BB%87n-c%E1%BB%A7a-trung-qu%E1%BB%91c

[8]       Thụy Miên. 16 tháng 12 năm 2020. “Vén màn bí mật hoạt động của các đập Trung Quốc trên sông Mê Kông. Thanh Niên. https://thanhnien.vn/the-gioi/ven-man-bi-mat-hoat-dong-cua-cac-dap-trung-quoc-tren-song-me-kong-1317751.html

[9]       Xinhua. December 14, 2020. “China, Mekong countries make progress in water resources cooperation: FM spokeperson.” Xinhua. http://www.xinhuanet.com/english/2020-12/14/c_139589306.htm

[10]     Stimson Center. Accessed December 10, 2020. “Mekong Dam Monitor.”  Stimson Center.  https://www.stimson.org/project/mekong-dam-monitor/

[11]     MWDI, Stimson, Eyes on Earth, and Chino Cienega Foundation.  Acessed December 15, 2020. Mekong Dam Monitor. https://monitor.mekongwater.org/virtual-gauges/

[12]     Alan Basist and Claude Williams.  April 10, 2020. Monitoring the Quantity of Water Flowing Through the Mekong Basin Under Natural (Unimpeded) Conditions.  Sustainable Infrastructure Partnership, Bangkok.

[13]     Mekong River Commission. April 2020. Understanding the Mekong River’s hydrological conditions: A brief commentary note on the “Monitoring the Quantity of Water Flowing Through the Upper Mekong Basin Under Natural (Unimpeded) Conditions” study by Alan Basist and Claude Williams (2020).  Mekong River Commission.  http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/Understanding-Mekong-River-hydrological-conditions_2020.pdf

[14]     Tarek Ketelsen, John Sawdon and Timo Rasaenen.  19 April 2020.  “Monitoring the Quantity of water flowing through the Upper Mekong Basin under natural (unimpeded) conditions. RAPID REVIEW.”  AMPERES. https://onedrive.live.com/?authkey=%21AGOd8Qb3xSyPaFw&cid=692043E535D0F3B2&id=692043E535D0F3B2%21572&parId=692043E535D0F3B2%21573&o=OneUp

[15]     Stimson. Accessed December 15, 2020. “Mekong Dam Monitor: methods and Process.” Stimson. https://www.stimson.org/2020/mekong-dam-monitor-methods-and-processes/

[16]     Editorial.  December 16, 2020. “Washington’s ploy to drive wedge between China and Mekong neighbors: China Daily editorial.” http://www.chinadaily.com.cn/a/202012/16/WS5fda02dca31024ad0ba9c3b5.html

 

 

 

Thursday, December 17, 2020

Dân bỏ xứ đi, Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ra sao?

 RFA

2020-12-17

Ảnh minh họa. Một người nuôi vịt chạy đồng ở ĐBSCL.

Courtesy of Tùng Thien

ĐBSCL-Vựa lúa của Việt Nam

Khu vực miền Tây Nam Bộ, còn được gọi tên “Đồng bằng sông Cửu Long” (ĐBSCL) là vùng châu thổ trù phú được thiên nhiên ưu đãi nhất ở Việt Nam. ĐBSCL được dân gian truyền miệng rằng vùng đất Phương Nam “chim trời cá nước” là một nơi không bao giờ bị đói khát vì được bao bọc bởi những đồng lúa cò bay thẳng cánh và dòng Mekong mênh mông với 9 nhánh sông đầy ấp tôm cá quanh năm, nhiều nhất vào mùa nước tràn đồng mỗi năm.

ĐBSCL được xem là vựa lúa của Việt Nam, góp phần quan trọng để trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Nơi đây còn là khu vực phát triển nông nghiệp chủ lực với nhiều mặt hàng nông sản đa dạng, không những cung cấp cho thị trường tiêu thụ nội địa mà còn xuất khẩu ra nước ngoài.

Trong vòng 10 năm từ 2009 đến 2019, khu vực ĐBSCL góp đến 54% sản lượng lúa, 70% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 60% lượng trái cây và xấp xỉ 18% GDP của Việt Nam.

Theo số liệu thống kê, do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương ghi nhận, trong năm 2020, tỷ lệ dân số ở ĐBSCL gần 17,3 triệu người, chiếm gần 18% dân số Việt Nam. Tỷ lệ tăng dân số ở ĐBSCL trong một thập niên qua thấp nhất Việt Nam, chỉ chiếm 0,05% trong khi chỉ số già hóa dân số lại cao nhất nước đến 58,5% và tỷ suất di cư thuần cũng cao nhất nước, ở mức 39,9%. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các thông số này là do “sự đi ra khỏi vùng để làm ăn sinh sống của lớp người trong độ tuổi lao động”.

 

Ảnh minh họa. Chợ nổi ở Cần Thơ. Courtesy of Duy Black

 

Do sự đô thị hóa quá nhanh và cơ cấu kinh tế dịch chuyển từ sự yếu kém của nông nghiệp sang hướng về thương mại, dịch vụ và công nghệp cho nên lực lượng lao động trẻ đi đến các tỉnh phát triển công nghiệp mạnh, như người ta nói câu ‘Đi Bình Dương’, cho nên thanh niên ở tuổi lao động đi Bình Dương, Đồng Nai làm công nhân hết, cho nên đất đai thì do người già làm công việc đồng án nhiều, chứ không phải thanh niên trẻ. Do đó, nguồn lao động ở các tỉnh ĐBSCL bị mất và nằm trong diện di cư-Nhà báo ở ĐBSCL

1,3 triệu người di cư trong một thập niên

Một nhà báo sinh sống tại ĐBSCL, hiện đang làm việc trong lĩnh vực phóng sự truyền hình, vào tối ngày 17/12 chia sẻ thêm thông tin liên quan về người miền Tây di cư, qua ghi nhận cá nhân của ông.

“Do sự đô thị hóa quá nhanh và cơ cấu kinh tế dịch chuyển từ sự yếu kém của nông nghiệp sang hướng về thương mại, dịch vụ và công nghệp cho nên lực lượng lao động trẻ đi đến các tỉnh phát triển công nghiệp mạnh, như người ta nói câu ‘Đi Bình Dương’, cho nên thanh niên ở tuổi lao động đi Bình Dương, Đồng Nai làm công nhân hết, cho nên đất đai thì do người già làm công việc đồng án nhiều, chứ không phải thanh niên trẻ. Do đó, nguồn lao động ở các tỉnh ĐBSCL bị mất và nằm trong diện di cư.”

Báo giới quốc nội mới đây trích lời phát biểu của Chủ tịch tỉnh Đồng Tháp, ông Phạm Thiện Nghĩa, tại lễ công bố báo cáo kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2020, được tổ chức vào chiều ngày 14/12 ở Cần Thơ, rằng “Nói ĐBSCL là trù phú, lao động nhiều, nhưng tổng hợp lại 10 năm di cư trên 1,3 triệu người là vấn đề rất buồn. Gần 40% lao động không học tiếp phổ thông, trong xã hội hội nhập như hiện nay là điều rất đau đáu”.

Nhà báo truyền hình, không muốn nêu tên, chia sẻ thêm với RFA rằng ĐBSCL tuy có rất nhiều thuận lợi về quỹ đất đai, phát triển nông nghiệp và được nhà nước đầu tư khoa học kỹ thuật, đặc biệt là nguồn nhân lực lao động trẻ dồi dào; nhưng con số người dân ở ĐBSCL di cư lên đến hơn triệu người, bởi khu vực này đang đối mặt với không ít khó khăn và thách thức.

“10 năm trở lại đây, bất lợi thứ nhất là biến đổi khí hậu và làm cho một số tỉnh ven biển bị ngập mặn như Bết Tre, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau. Nước ngập mặn xâm phạm vô vườn cây ăn trái hoặc các loại thủy hải sản, làm cho bị hư, bị chết. Rất nhiều trường hợp nông dân bị lao đao do biến đổi khí hậu đó. Còn những tỉnh không bị xâm nhập mặn như Đồng Tháp, An Giang…nhưng bị xói mòn và lở đất do dòng chảy của nước bị thay đổi. Nguyên nhân thay đổi là do khai thác cát, nhất là ở khu vực đầu nguồn Campuchia bị tận thu cát quá nhiều cho nên rất nhiều hộ dân phải sống khổ sở do vấn đề dòng chảy bị thay đổi gây ra.”

Vị nhà báo ẩn danh còn liệt kê tình trạng các đập thủy điện được xây dựng ở Trung Quốc và Lào, khu vực thượng nguồn sông Mekong gây ra tình trạng khô hạn và phù sa không còn. Bên cạnh đó, hệ thống đê bao ngày càng nhiều cùng với việc nông dân gia tăng năng suất cây trồng bằng phân thuốc hóa học, thải ra dòng nước gây ô nhiễm môi trường và tác động ngược lại hệ thống nước tưới tiêu, làm cho ngành sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL bị tổn thất nặng nề.

 

Ảnh minh họa. Một phụ nữ đang làm việc tại lò gạch ở ĐBSCL. Courtesy of Duy Black

 

Bộ Tài nguyên-Môi trường Việt Nam, hồi năm 2016, công bố một báo cáo cho thấy các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong gây ra nguy cơ làm mất đi hoặc thậm chí tuyệt chủng tới 10% các loài cá và thu nhập người dân có thể giảm tới 50%. Việt Nam bị tổn thất hàng năm về thuỷ sản và nông nghiệp, bởi các đập thuỷ điện đó, có thể lên đến khoảng 760 triệu USD.

Bà Kim, một nông dân ở Bến Tre, vào tối hôm 17/12, lên tiếng với RFA rằng gia đình bà không thể sống được qua thu nhập từ ruộng vườn nên bà phải tìm việc làm xa xứ.

“Tôi phải lên Đồng Nai làm công nhân từ năm 2008. Mức lương lúc đó chỉ có 38 ngàn đồng/ngày làm việc 8 tiếng đồng hồ. Thời gian mười mấy năm qua tôi không đủ sống, cho nên cũng khổ lắm và phải cố gắng bươn chải.”

Chị Anh, một cư dân ở Đồng Tháp rời quê nhà đến làm việc ở Công ty Kinh Đô, tại khu công nghiệp Bình Dương từ năm 2001, tâm tình với RFA về cuộc sống công nhân của mình:

“Coi như gần 6 triệu đồng/tháng. Nếu tăng ca thì lãnh thêm được lên 7,8 triệu, có khi được tới 10 triệu. Làm việc 12 tiếng đồng hồ/ngày, từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều.”

Cuộc sống của chị Anh được cho làm tạm ổn khi chị đủ trang trải cho bản thân và gửi tiền về quê chu cấp cho bà mẹ già đơn thân, bệnh tật. Tuy nhiên, vào đầu năm 2020, chị Anh buộc phải trở về quê sinh sống, để chăm sóc cho mẹ vì bà bị xe đụng gãy chân, không đi đứng được. Dù trong dịch bệnh COVID-19, nhưng chị Anh cũng tìm được việc làm nhân viên lau dọn trong một công ty, nhờ vào sự giới thiệu của người hàng xóm.

“Hiện giờ làm mức lương 3,5 triệu/tháng. Nào là tiền điện, tiền nước, tiền ăn, tiền thuốc của má tôi. Chưa kể nhiều khi tôi bị đau ốm cho nên chi tiêu không đủ.”

Ông K, giám đốc điều hành thuộc công ty tư nhân, kinh doanh các dự án bất động sản ở ĐBSCL, cho RFA biết về tình hình công ăn việc làm hiện nay tại khu vực này:

“ĐBSCL vừa bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 chung với cả nước và xâm nhập mặn làm cho nông nghiệp bị tác động nghiêm trọng và COVID-19 cũng gây ra hậu quả nặng nề cho lực lượng lao động trẻ có trình độ, còn lao động phổ thông thì còn tệ hơn nhiều. 1,3 triệu người di cư chỉ là một phản ánh rất khiêm tốn.”

Ông Nguyễn Phương Lam, Phó Giám đốc Phòng Thương Mại- Công Nghiệp chi nhánh Cần Thơ, vào ngày 17/12 trong trả lời báo mạng VnEXpress cho rằng việc người dân miền Tây rời đi quá nhiều trong một khoảng thời gian nhất định cho thấy đó là tình trạng bức bách và vùng đất này kém phát triển. Về lâu về dài nếu không giải quyết, xã hội sẽ bất ổn.

 

Ảnh minh họa. Đạp xe lôi là công việc lao động phổ thông phổ biến ở ĐBSCL.

 Courtesy of Đặng Đại

 

Viễn cảnh ĐBSCL sẽ thế nào?

Mùa hạn mặn năm 2020 tại ĐBSCL được đánh giá là “khắc nghiệt” và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, hồi đầu tháng 8, ra quyết định chi ngân sách cho 5 tỉnh bị thiệt hại bao gồm Bến Tre, Tiền Giang, Long An, Cà Mau, Kiên Giang số tiền 70 tỷ đồng/tỉnh để hỗ trợ nguồn nước sinh hoạt và đời sống người dân.

Vào đầu tháng 11 vừa qua, tại một phiên chất vấn, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng tuyên bố Chính phủ sẽ đặc biệt quan tâm và dành nguồn lực xứng đáng để đầu tư hạ tầng cho vùng ĐBSCL, trước tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng cũng như hạ tầng yếu kém do đầu tư chưa tương xứng với nhu cầu phát triển của vùng. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam còn đồng ý tăng thêm 2 tỷ USD cho quy hoạch vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050.

Nhà báo truyền hình ẩn danh xác nhận với RFA hiện tại chính quyền các tỉnh và thành phố ở ĐBSCL đang thực hiện và tiến hành nhiều dự án theo quy hoạch vừa được đề cập. Ông nói rằng ĐBSCL trong tương lai sẽ tập trung phát triển về công nghiệp, thương mại và dịch vụ du lịch. Đặc biệt, ngành nông nghiệp sẽ chuyển hướng nhắm đến nông nghiệp sạch theo tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng các thị trường xuất khẩu như Mỹ và Châu Âu.

Bất kể ai cũng muốn được ở gần quê và nếu có được cơ hội phát triển tốt thì sẽ quay trở về để phát triển sự nghiệp và ổn định cuộc sống. Nếu như nhà nước đầu tư tốt, bài bản và phát triển bền vững thì mọi người sẽ quay trở về. Nhưng mà, thật sự điều đó hơi khó tại vì theo các căn cứ của cơ sở khoa học thì khu vực miền Tây Nam Bộ đang ngày càng chết dần, chết mòn-Kiến trúc sư Duy Black

Kiến trúc sư trẻ Duy Black, hiện sinh sống và làm việc ở Sài Gòn, nói với RFA rằng chắc chắn anh và rất nhiều người con của miền Tây Nam Bộ sẽ hồi hương nếu như vùng này được đầu tư và phát triển theo như kế hoạch đề ra:

“Tất nhiên rồi. Bất kể ai cũng muốn được ở gần quê và nếu có được cơ hội phát triển tốt thì sẽ quay trở về để phát triển sự nghiệp và ổn định cuộc sống. Nếu như nhà nước đầu tư tốt, bài bản và phát triển bền vững thì mọi người sẽ quay trở về. Nhưng mà, thật sự điều đó hơi khó tại vì theo các căn cứ của cơ sở khoa học thì khu vực miền Tây Nam Bộ đang ngày càng chết dần, chết mòn.”

Truyền thông Nhà nước Việt Nam, hồi tháng 6/2019, dẫn lời của Vụ trưởng Vụ Kiểm soát An toàn Thiên tai, ông Tăng Quốc Chính cho biết trước đó vào tháng 2, Đại học Utrecht, của Hà Lan công bố một nghiên cứu về mức độ lún sụt ở ĐBSCL và đưa ra cảnh báo với mức lún sụt như hiện nay thì đến năm 2100 gần như toàn bộ vùng ĐBSCL của Việt Nam sẽ bị chìm dưới mặt nước.

Đài RFA mượn lời của nhà báo truyền hình ẩn danh để kết thúc bài ghi nhận này, rằng trong “bức tranh tối tranh sáng” đời sống xã hội ở ĐBSCL, ông rất đồng cảm với những người di cư như chị Anh và hàng chục ngàn “cô dâu” miền Tây phải ra đi tìm miếng cơm manh áo và thật thương cảm hơn về sự trở về của họ, mà trong đó có những hũ tro cốt của phận đời như nhánh lục bình trôi bập bềnh trên dòng Mekong sắp cạn.

SOURCE:

https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/mekong-delta-future-when-millions-of-residents-moving-out-of-the-area-12172020144021.html?fbclid=IwAR3nkFEIJTbH0LiqzDYCHeF2kPtn8IZH4VQ-w51E3s1C7jHY3KRFmxvV6IQ

.

Tuesday, December 15, 2020

LÀM CHO THỦY ĐIỆN “XANH HƠN”

 (Making Hydropower ‘Greener’)

The ASEAN Post Team – Bình Yên Đông lược dịch

The Asean Post - 6 December 2020

Một công nhân Cambodia nhặt các vỏ bao xi măng ở phía trước đập Kamchay trong tỉnh Kampot. [Ảnh: AFP]

Kỹ thuật thủy điện được xem là một nguồn năng lượng tái tạo sạch.  Nó được sản xuất bằng cách biến động năng và thế năng của nước chảy xuống từ trên cao thành lực quay để chạy máy phát điện.

Tuy nhiên, một vài nghiên cứu kể cả nghiên cứu trong Tạp chí Quản trị Thủy sản và Sinh Thái (Journal of Fisheries managements and Ecology) đã ghi nhận nguy hại gây ra cho cá khi di chuyển qua công trình thủy điện để xuống hạ lưu.

Các nguy hại gồm có bị thương, mất vảy, rách vây, xuất huyết, bầm, trầy da, mất các bộ phận hay bị nội thương và những thứ khác.

Nghiên cứu giải thích rằng các nhà máy điện cổ điển thường được trang bị các máy turbines kiểu Pelton, Kaplan hay Francis, có số tử vong của cá rất cao vì vận tốc quay, thay đổi áp suất và lực cắt lớn.

Năm 2018, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (International Energy Agency (IEA)) báo cáo rằng 18% năng lượng của Đông Nam Á (ĐNA) là thủy điện, được dự trù sẽ gia tăng trong thập niên tới.  Tuy nhiên, các tiên đoán về việc sử dụng năng lượng ở ĐNA cho thấy rằng khu vực sẽ dựa nhiều hơn vào dầu và khí đốt.

Vào năm 2040, khu vực được ước tính sẽ có một thâm thủng ròng trong mậu dịch năng lượng trên 300 tỉ USD mỗi năm, hầu hết là do việc nhập cảng dầu.  Sự gia tăng lớn trong nhập cảng cũng gây lo ngại cho an toàn năng lượng.  Trong trường hợp của dầu, sự lệ thuộc chung của khu vực vào nhập cảng sẽ vượt quá 80% vào năm 2040, tăng từ 65% trong năm 2018.

Với nhu cầu điện đang gia tăng và sự tiếp tục cam kết của các chánh phủ trong ASEAN để thực hiện việc có điện phổ thông vào năm 2030, thủy điện có thể trở thành một nguồn năng lượng sạch hấp dẫn.  Ngoài ra, các lo ngại môi trường cũng cần có một giải pháp thay thế cấp bách cho các nguồn năng lượng tin cậy và khả chấp.

Nguồn: International Energy Agency

Một giải pháp mới

Trong năm 2017, các nỗ lực để phát triển nhà máy thủy điện thân thiện với cá bắt đầu và giải pháp cuối cùng có thể đã đến.  Thành lập vào năm 2015, công ty kỹ thuật xanh ở Belgium, Turbulent đã phát triển một turbine thủy điện để sản xuất 100% điện xanh 24 tiếng đồng hồ trong một ngày.

“Các turbines của chúng tôi lấy điện từ sông và kinh đào với sự khác biệt cao độ giới hạn: từ 1,5 đến 5 m,” người đồng sáng lập Jasper Verreydt nói.  “Trong quá khứ, các thủy lộ như thế không thể làm thủy điện.  Nhưng nay, ngay những nơi xa xôi cũng có thể có nguồn năng lượng đáng tin cậy.  Cũng có thể nối một loạt turbines để cung cấp cho các vùng rộng lớn hơn.  Cái mà trước đây phải cần đập, chẳng hạn, nay có thể được thực hiện với một loạt turbines nước.  Năng lượng sản xuất như nhau, nhưng chúng nhanh và rẻ hơn để thiết trí và có ít ảnh hưởng đến môi trường.”

Nhà máy thủy điện cực nhỏ của Turbulent được thiết trí ở Bali để cung cấp điện cho Trường Xanh (Green School).  Các turbines được thiết kế cho năng lượng liên tục - được phân tán và không có đập, thiết trí dễ dàng, ít bảo trì, thân thiện với cá, và có thể theo dõi từ xa – không sợ giông tố và nguy cơ lũ lụt và có tuổi thọ cao.

Đây có thể là một giải pháp có thể đứng vững cho tình trạng thiếu điện trong một số quốc gia ASEAN – nhất là các cộng đồng nông thôn lớn.  Việc thiết trí đã bắt đầu ở Philippines, trong lúc tổ chức đang tìm kiếm nhà phân phối và đối tác phát triển trong khu vực ASEAN.

Kỹ thuật loại bỏ những phức tạp iên quan đến các nhà máy điện cổ điển và thay thế chúng với những bộ phận đơn giản.  Một turbine duy nhất có thể sản xuất đến 200 kW, có thể cung cấp năng lượng cho khoảng 1.750 gia đình trong một cộng đồng hẽo lánh.

“Các turbines của chúng tôi là một đáp ứng tuyệt hảo cho nhu cầu của năng lượng xanh, tái tạo và phân tán,” Verreydt giải thích.

“Chúng tôi có thể thiết trí các nhà máy thủy điện cực nhỏ chỉ trong vài tháng và chúng rất dễ bảo trì bởi các cộng đồng hay các công ty địa phương.  Nó cũng thúc đẩy nền kinh tế ở địa phương.”

.