Monday, November 23, 2020

“SÔNG CỦA CHÚNG TÔI LÀ THẦN LINH”: LÀM THẾ NÀO ĐẬP VÀ VŨ LỰC CỦA TRUNG HOA GÂY NGUY HẠI MEKONG

(‘Our River Was Like a God’: How Dams and China’s Might Imperil the Mekong)

Hannah Beech – Bình Yên Đông lược dịch

The New York Times – October 12, 2019

Nhà nổi của một gia đình trên sông Mekong ở Cambodia trong tháng 12, gần vị trí đập.  Giới chức và các công ty Trung Hoa hy vọng việc xây đập mới trong khu vực sẽ bù cho sự đình trệ tăng trưởng ở trong nước. [Ảnh: Sergey Ponomarey]

Trên sông Mekong – Khi người Trung Hoa đến làng Lat Thahae, cắm sào trên khúc cong của một phụ lưu sông Mekong, họ viết nguệch ngoạc một chữ Hoa trên tường nhà, trường học và chùa Phật.

Không ai trong cái ấp hẻo lánh ở thượng Lào có thể đọc nó nói gì.  Nhưng chữ đó có nghĩa là “phá bỏ” – số phận của hàng trăm cộng đồng dọc theo con sông vĩ đại của Á Châu nằm trong một chữ ngoại quốc duy nhất.

Năm nay, một đập sẽ bắt đầu biến vùng đồi lởm chởm và rừng ban sơ trong một quốc gia xa xôi nhất thế giới, một phần của nỗ lực rộng lớn hơn để thúc đẩy một số nền kinh tế kém phát triển nhất của Á Châu.  Nó là một trong 7 dự án thủy điện do Trung Hoa xây trên Nam Ou.

Để lấy đất cho các đập, Lat Thahae và hàng chục làng nữa đang được phá bỏ.  Một người dân ở Lat Thahae có tên là See không hài lòng với tiền bồi thường của Tổ hợp Sinohydro, nhà thầu xây đập ở hại ngoại lớn nhất của Trung Hoa, để xây một cái chòi tre cách xa nhiều miles thay thế cho căn nhà rộng rãi bị phá bỏ ở ven sông.

Nhưng một người nông dân mù chữ như bà, bà hỏi, có sức mạnh gì so với sức mạnh của Trung Hoa?

“Tôi phải đi vì họ bảo tôi đi,” bà nói khi một máy đào đất có bản số và người tài xế Trung Hoa xẻ đất ngay trước cửa nhà bà.  “Cuộc sống trên sông của chúng tôi chấm dứt.”

Đối với các chánh phủ trong khu vực, đập được dùng để bảo vệ kinh tế bằng cách mang hàng trăm đến hạ lưu Mekong và các phụ lưu, cùng với hạ tầng cơ sở đi kèm theo.  Giới chức và công ty Trung Hoa hy vọng các đập mới, cũng như đường sá và những phát triển khác, sẽ bù cho sự đình trệ tăng trưởng ở trong nước và mang đến cho các quốc gia một mô hình để thoát nghèo.

Khi các kế hoạch xây đập ở hạ lưu Mekong thu hút được sức mạnh vào đầu thập niên 2000s, Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) tiên đoán rằng 4 quốc gia thành viên – Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam – sẽ được lợi có trị giá 30 tỉ USD.  Nhưng một tái thẩm định nhiều năm sau, cũng của MRC, mà Trung Hoa từ chối tham gia, đã cho một kết quả khác xa: Các nền kinh tế của các quốc gia Mekong sẽ bị thiệt 7 tỉ USD nếu tiến hành các dự án thủy điện được dự trù.

Đã xảy ra, mực nước trong tháng 7 xuống đến mức thấp nhất kỷ lục, theo MRC.

Với dòng chảy biến chuyển khi các đập mới khởi động các turbines, ngư dân, nông dân và hệ sinh thái địa phương sẽ bị thiệt hại.  Một cuộc khảo sát của MRC cho thấy rằng, nếu tất cả các đập được dự trù cho hệ thống Mekong tiến hành, 97% phù sa từng chảy đến cửa sông có thể bị ngăn chận vào năm 2040, khiến đất thiếu chất dinh dưỡng cần thiết cho nông nghiệp.

 

Vị trí đập Nam Ou 1 ở thượng Lào trên Nam Ou, một phụ lưu then chốt của Mekong.  Đập được xây bởi công ty thủy điện lớn nhất của Trung Hoa. [Ảnh: Sergey Ponomarey]

 

Làng tái định cư Baan Hat Kham gần vị trí đập Nam Ou 3 ở Lào.

[Ảnh: Sergey Ponomarey]

“Tôi phải đi vì họ bảo tôi đi,” người dân làng tên See, trong hình, nói.  Làng của bà ở thượng Lào và hàng chục làng nữa đang bị phá bỏ để lấy đất xây đập.  “Cuộc sống trên sông của chúng tôi chấm dứt.” [Ảnh: Sergey Ponomarey]

Ở Lào, vụ vỡ đập hồi năm ngoái đã giết chết hàng chục người và cuốn trôi hàng ngàn nhà trong 2 quốc gia làm nổi bật sự nguy hiểm của việc xây cất trong vùng xa xôi ít được giám sát.  Mặc dù chánh phủ Lào kết luận rằng tai nạn đó do con người gây ra, không ai có trách nhiệm.

Các nhà hoạt động môi trường đã được cảnh báo năm ngoái khi một công ty Trung Hoa báo cáo ảnh hưởng xuyên biên giới của một dự án đập quan trọng ở Lào, được xem là kết quả của nhiều tháng nghiên cứu kỹ lưỡng, lại có những cắt xén từ một báo cáo trước đó cho một dự án khác của Trung Hoa.

“Người dân dựa vào Mekong nhiều nhất lại kiểm soát ít nhất cái xảy ra cho dòng sông,” Bruce Shoemaker, một nhà nghiên cứu về xung đột tài nguyên trong khu vực, cho biết.

Các nhà phê bình lo ngại rằng các chánh phủ không thể gánh nổi chi phí của các đập.

“Các đập nầy tốt cho các quốc gia Mekong, hay chúng tốt cho quốc gia như Trung Hoa đang tìm cách gây ảnh hưởng kinh tế và sử dụng khả năng thừa thải?” Maurin Harris, giám đốc chương trình Đông Nam Á (ĐNA) của International Rivers (Sông ngòi Quốc tế), một cơ quan theo dõi môi trường, cho biết.

“Đập là thứ không dễ phá bỏ,” cô nói.  “Chúng ta phải nghĩ đến hậu quả.”

Bình điện của Á Châu

Nghèo và không có bờ biển, Lào đang đánh cược rằng thủy điện sẽ trở thành người làm ra tiền nhiều nhất vào năm 2025.  Chánh phủ, một trong các chế độ cộng sản còn lại của thế giới, đã quyết định xây trên 140 đập cho Mekong và các phụ lưu.

Chánh phủ Lào dựa vào tiền vay mượn từ Trung Hoa để tài trợ nhiều đập nầy.  Nhưng Lào nằm trong số 8 quốc gia dễ tổn thương nhất vì nợ quá nhiều với Trung Hoa, theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Washington.

Lào cũng là một trong các quốc gia tham nhũng nhất Á Châu, theo Minh bạch Quốc tế (Transparency International), và việc đấu thầu các dự án thủy điện nổi tiếng là mờ ám.

“Minh bạch và trách nhiệm?” Shoemaker, đồng tác giả của quyển sách về thủy điện ở Lào.  “Chúng không phải từ ngữ tôi dùng để mô tả Lào.”

Chuẩn bị cấy lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gần Hồng Ngự, Việt Nam.  Người trồng lúa ở Việt Nam và Thái Lan dựa vào phù sa do sông Mekong bồi đắp trong mùa mưa. [Ảnh: Sergey Ponomarey]

 

Nông dân phun phân bón trên ruộng lúa trong ĐBSCL gần Hồng Ngự.  “Người dân dựa vào Mekong nhiều nhất không thể kiểm soát việc gì xảy ra cho dòng sông,” một nhà nghiên cứu về xung đột tài nguyên trong khu vực cho biết. [Ảnh: Sergey Ponomarey]

 

Một chợ nổi trên sông Mekong ở Châu Đốc, Việt Nam trong tháng 12.

[Ảnh: Sergey Ponomarey]

Các nhà phê bình lo ngại rằng kế hoạch của Lào để nhảy ra khỏi nhóm quốc gia kém phát triển nhất bằng cách xây đập sẽ nới rộng sự chênh lệch lợi tức.

“Tôi chưa từng thấy trường hợp nào mà người dân được bồi thường hợp lý cho sự gián đoạn của cuộc sống do đập gây ra,” Ian Baird, một chuyên viên ĐNA ở Đại học Wisconsin-Madison, người nghiên cứu ảnh hưởng xã hội của đập, cho biết.  “Nếu các chánh phủ lập luận rằng những dự án nầy là cần thiết mà không phải bồi thường, thì những dự án nầy có thể không tốt cho quốc gia.”

Việc ngăn đập trên Mekong là những dự án hạ tầng cơ sở lớn lao sắp hết thời trên khắp thế giới.  Ở Hoa Kỳ, nơi thủy điện từng được ca tụng như là chiến thắng của con người đối với thiên nhiên, đập đang được tháo dỡ để cho sông chảy tự do.

Các nhà khoa học Tây phương nay xem mặt trời và gió là một nguồn điện khả chấp hơn.  Ngay cả các tổ chức tài chánh quốc tế như Ngân hàng Thế giới, đã từng truyền bá chân lý thủy điện trên khắp thế giới đang phát triển, đang cảnh báo về ảnh hưởng lâu dài của đập.

Nhưng các nhà hoạch định Lào, một số theo học ở Liên bang Sô Viết, đập vẫn là đỉnh cao của tiến bộ xã hội chủ nghĩa.

“Vấn đề là chúng ta có người ngồi trong các bộ của chánh phủ không muốn từ bỏ giấc mộng hiện đại hóa bằng thủy điện,” ông Baird nói.  “Toàn thể mô hình phát triển của họ dựa trên nó.”

Thế nhưng các nhà khoa học nghi ngờ khu vực có thể tiêu thụ tất cả năng lượng mà Lào hy vọng thu hoạch được.  Dân số 7 triệu của nước nầy không cần tất cả số điện đó, và láng giềng Thái Lan đã dư thừa năng lượng.  Cơ quan Phát Điện Thái Lan (Electricity Generating Authority of Thailand (EGAT)), dự định mua 2,4 tỉ USD từ dự án Pak Beng của Lào, đang suy nghĩ lại quyết định của họ.

Điều đó không ngăn được các kỹ sư, doanh nghiệp và công nhân Trung Hoa đổ vào Lào.  Ở các vị trí xây cất chuỗi đập Nam Ou của Sinohydro, các biểu ngữ màu đỏ khổng lồ treo trên vách đá, đề cao tầm quan trọng của tình hữu nghị xã hội chủ nghĩa giữa Trung Hoa và Lào.  Các biểu ngữ bằng tiếng Hoa.  Có rất ít công nhân Lào.

Wei Jun, giám sát viên của Sinohydro ở một cơ sở xay đá, bác bỏ sự kiện là dân làng buộc phải ra đi với số bồi thường không đáng kể.  Khi Trung Hoa xây đập Xiaowan trên thượng lưu Mekong, 35.000 người Trung Hoa phải dời cư, ông nói.

“Tiến bộ,” ông dùng một thành ngữ Trung Hoa, ‘có nghĩa là ngậm đắng.”

Dòng sông của đời sống

Nguồn của Mekong phát xuất ở trên cao trong cao nguyên Tây Tạng, nhưng ở Trung Hoa, sông ít được con người sử dụng.  Lancang, tên gọi của Mekong ở đây – có nghĩa là “cuồng nộ” – quá nhanh và quá dốc để làm gì khác hơn chạy các turbines.  Bảy đập đã được xây trên thượng lưu Mekong kể từ năm 2000.

Nhưng đối với các quốc gia ở hạ lưu, Mekong là mạch máu.  Giống như Nile, Tigris và Yangtze, Mekong đã cung cấp nước cho các đế quốc.  Hai thủ đô, Vientiane của Lào và Phnom Penh của Cambodia, nằm trên bờ của nó.

Một nhà sư đi trong hồ Tonle Sap ở Cambodia trong tháng 12. 

Nhiều hơn bất cứ quốc gia nào, Cambodia được Mekong nuôi dưỡng.

[Ảnh: Sergey Ponomarey]

 

Lựa cá ở làng nổi Chong Khneas, Cambodia. [Ảnh: Sergey Ponomarey]

 

Thủ đô của Cambodia, Phnom Penh, nằm trên bờ sông Mekong.

[Ảnh: Sergey Ponomarey]

Những người trồng lúa phong phú nhất, ở Thái Lan và Việt Nam, dựa vào tính hào phóng của Mekong trong việc bồi đắp phù sa mầu mỡ trong mùa mưa.  Hệ thống sông là nền thủy sản nội địa lớn nhất trên thế giới.

Hơn bất cứ quốc gia nào khác, Cambodia được Mekong nuôi dưỡng.  Dân số 16 triệu của nước nầy tiêu thụ 80% chất đạm đến từ hệ thống, kể cả một phụ lưu là con sông đảo ngược dòng chảy theo mùa duy nhất trên thế giới.

Cambodia cũng dựa vào Trung Hoa, nay là đối tác mậu dịch và ân nhân lớn nhất.  Thủ tướng Hun Sen, lãnh tụ cầm quyền lâu nhất của Á Châu, đã quay lưng với các quốc gia Tây phương mà viện trợ của họ đã không thể thúc đẩy cải cách dân chủ.

Một đập trên Mekong được đề nghị ở Cambodia, Sambor, có thể sản xuất nhiều điện hơn mức tiêu thụ hiện nay của Cambodia.  Năm nay, nước nầy khổ sở vì mất điện khiến các nhà máy ngưng hoạt động và hàng triệu người không có điện.

Nhưng đập ở Sambor do Trung Hoa xây có thể “giết chết sông Mekong và tàn phá kinh tế của Cambodia,” theo một phúc trình của Viện Di sản Thiên nhiên (Natural Heritage Institute (NHI)), một cơ quan giám sát Mỹ theo dõi các lưu vực sông quan trọng trên thế giới, do chánh phủ Cambodia ủy thác.

60% phù sa cần thiết để nuôi dưỡng cho ruộng lúa ở ĐBSCL ở Việt Nam sẽ bị đập Sambor ngăn chận, phúc trình cảnh báo, và “sẽ tạo nên một chướng ngại vật cho di ngư.”

Thay vào đó, NHI đề nghị các tấm điện mặt trời nổi trong một hồ chứa nước hiện hữu như một giải pháp tốt hơn cho tình trạng thiếu điện của Cambodia.

Cho đến nay, đập lớn nhất của Cambodia là Hạ Sesan 2 trị giá 800 triệu USD, trên một phụ lưu của Mekong.  Các turbines do Trung Hoa xây bắt đầu hoạt động hồi tháng 12 vừa qua, làm ngập 5 làng khi làm đầy hồ chứa.  Ngày nay, chóp của một chùa Phật trồi trên mặt nước đã làm ngập làng Srekor.  Dân làng ở đây dùng thuyền để vớt đồ dùng trong nhà bị ngập, nơi cái đồng hồ đứng lại đánh đấu lúc nước đến.

Dân làng Srekor đã ra đi, nhưng nhà mới của họ cách xa sông đã hỗ trợ họ.  Có trường học nhưng không có thầy giáo, một bệnh xá nhưng không có bác sĩ.  Điện rất mắc, và cay đắng vì họ bị đuổi đi cho dự án điện, người dân nói.  Không có nước sạch.

Ông Hun Sen, chủ tọa lễ khánh thành đập, gọi những người dân làng than phiền là “phản động.”

Trong cộng đồng tái định cư, dân làng thương tiếc con sông đã mất từng nuôi sống nhiều thế hệ của họ.

“Sông là thần linh của chúng tôi,” In Chin, một người dân, nói.  “Tôi rất buồn vì chúng ta giết nó.”

Làng Srekor ở Cambodia trong tháng 12, bị ngập khi hồ chứa choa đập Hạ Sesan 2 được làm đầy hồi cuối năm 2017. [Ảnh: Sergey Ponomarey]

.

VÌ SAO CÁC ĐẬP THỦY ĐIỆN CÓ THỂ GIÚP ASEAN CHỐNG THAY ĐỔI KHÍ HẬU.

 (How hydropower dams can help ASEAN fight climate change)

Stefano Galelli – Bình Yên Đông lược dịch

Channel News Asia – 11 November 2020

Việc xây cất thủy điện ở Lào bị đình chỉ vì lo ngại Covid-19 lây lan. [Ảnh: Jack Board]

Đập là hạ tầng cơ sở được xây để kiểm soát dòng chảy của sông và chứa một số nước lớn trong hồ nhân tạo hay hồ chứa.

Chúng không những được dùng để cung cấp nước canh tác và ngừa lụt, mà còn để sản xuất điện.  Nước từ đập chảy qua turbines, biến động năng của nước thành điện bởi máy phát điện.

Kể từ khi đập đầu tiên được xây cất vào cuối thế kỷ 19th, hàng ngàn trạm thủy điện đã được xây trên khắp thế giới.  Đông Nam Á (ĐNA) không phải là một ngoại lệ, với các sông Mekong, Irrawaddy và Chao Phraya hùng vĩ nằm trong các lưu vực sông đã thu hút sự chú ý của kỹ nghệ thủy điện.

Tất cả các sông nầy đều cách xa các thành phố lớn chẳng hạn như Kuala Lumpur hay Singapore, nơi có nhu cầu điện cao.  Vì thế, tại sao chúng ta phải để ý đến đập?

Một dân làng bơi thuyền ở vị trí tương lai của đập Luang Prabang trên sông Mekong 

ngày 5 tháng 2 năm 2020. [Ảnh: Reuters/Panu Wongcha-um]

Có nhiều lý do.  Trước nhất, ưu thế cạnh tranh của thủy điện so với nhiên liệu hóa thạch là dấu vết carbon của nó rất nhỏ, gần như 0.  Điều nầy có nghĩa là thủy điện có thể giúp chúng ta thay thế, ít nhất một phần, khí đốt, than đá và dầu hỏa, mà nhiều quốc gia dựa vào.

Hơn thế, đập sử dụng được trong nhiều thập niên và có chi phí điều hành thấp, vì nguồn năng lượng nước không tốn tiền.  Và, nơi sông chảy qua hẽm núi cao, điện được sản xuất rất nhiều.

Thí dụ, Lào có hàng chục nhà máy thủy điện, với công suất thiết trí tổng cộng vào khoảng 7.000 MW.  Đó là ½ công suất thiết trí của Singapore.

Nhưng để các lợi ích nầy thành hiện thực, chúng ta phải “di chuyển”, hay truyền thủy điện từ các sông lớn đến các thành phố lớn.  Dịch vụ như thế có thể cung cấp bởi Lưới Điện ASEAN (Association of Southeast Asian Nations (Hiệp hội các Quốc gia ĐNA)).  Lưới điện nầy, được bàn thảo lần đầu trong thập niên 1990s, vẫn còn đang tiến triễn.

Mặc dù toàn thể hạ tầng cơ sở có thể mất nhiều năm để hoạch định và thực hiện, chúng ta đã có bằng chứng về tiềm năng của nó.  Thí dụ, Malaysia đã ký một giao dịch tay ba với Thái Lan và Lào, theo đó Malaysia sẽ mua điện của Lào qua Thái Lan.

Singapore vừa mới loan báo các kế hoạch để nhập cảng điện từ Malaysia, bắt đầu bằng 2 năm thử nghiệm.  Quốc gia thành phố nầy cũng là một phần của dự án kết hợp điện cùng với Lào, Thái Lan và Malaysia.  Dự án kết hợp điện nầy được xem như “người mở đường” cho Lưới Điện ASEAN rộng lớn hơn.

Có nhiều cách để thủy điện giúp chúng ta giảm phóng thích carbon dioxide: đập bổ sung cho việc sản xuất điện tái tạo khác, chẳng hạn như năng lượng mặt trời và gió, vì sản lượng của chúng không liên tục.

Vì các bình điện vẫn chưa có hiệu quả kinh tế, các cơ sở điện dùng đập để chứa nước và, do đó, điện.  Nói cách khác, các cơ sở có thể giảm sản xuất thủy điện khi mặt trời chiếu sáng, hay gió thổi mạnh, và rồi gia tăng khi cần.  Bằng cách kết hợp tất cả nguồn điện nầy, chúng ta có một cách để giảm dấu vết carbon của thành phần điện.

Có phải xây đập luôn luôn là điều tốt?

Không may, câu trả lời là không.

Cũng mạnh mẽ như việc thu hoạch năng lương tái tạo, đập có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.  Chúng làm gián đoạn sông, vì thế giới hạn, và thỉnh thoảng ngưng, dòng chảy của phù sa và chất dinh dưỡng, mạch máu của sông.  Chúng cũng cản trở sự di chuyển của cá và thay đổi chế độ thủy học tự nhiên.

Trong một số trường hợp, các hồ chứa làm ngập vĩnh viễn nhiều vùng rộng lớn là nơi cư trú của các điểm nóng đa dạng sinh học và các cộng đồng bản xứ.

Nói cách khác, có một cái giá tiềm ẩn mà xã hội và môi trường phải trả cho thủy điện.  Vì thế không ngạc nhiên khi nhiều tổ chức ủng hộ chống lại việc xây đập mới.

 

Mekong khổ sở vì mực nước thấp và có màu xanh hồi cuối năm ngoái vì mất phù sa. 

[Ảnh: Jack Board]

Một thí dụ rõ ràng là đập Xayaburi, một dự án thủy điện 1.400 MW vừa được hoàn tất ở thượng Lào.

Không những kích thước lớn lao của nó gây lo ngại mà nó là đập đầu tiên được Lào xây trên dòng chánh Mekong.  Điều nầy có nghĩa là đập có ảnh hưởng sâu đậm đến hệ sinh thái và thủy sản của sông.

Xây thêm đập trên dòng chánh sẽ gây thiệt hại vĩnh viễn cho sông và hệ thống kinh tế xã hội mà nó hỗ trợ.

Chúng ta đi đâu từ đây?

Làm giảm lượng phóng thích carbon dioxide của thành phần điện là một bước tiến căn bản để chống lại thay đổi khí hậu, vì thế chúng ta có thể mong đợi rằng thủy điện sẽ tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong nhiều năm sắp tới, cùng với mặt trời, gió và năng lượng tái tạo khác.

Và khi có thêm các quốc gia ASEAN hợp tác về năng lượng – và Lưới Điện ASEAN được thực hiện hoàn toàn – các trung tâm tiêu thụ và các thành phố quan trọng sẽ được kết nối thêm đến các vị trí sản xuất, hy vọng làm giảm áp lực đối với lưu vực sông.

Một người đàn ông mang một túi nhựa trong một cuộc biểu tình môi trường để đòi hỏi quyền có không khí sạch, gần Dinh Chánh phủ Thái ở Bangkok, Thái Lan, khi nước nầy chật vật để kềm chế ô nhiễm không khí tồi tệ ngày 23 tháng 1 năm 2020. [Ảnh: Reuters]

Thái Lan, thí dụ, không những nhập cảng thủy điện từ Lào, mà còn gia tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo.  Nếu mọi thứ theo như hoạch định, tỉ lệ năng lượng tái tạo sẽ được tăng đến khoảng 30% vào năm 2037.  Điều nầy có nghĩa là các thành phố lớn, chẳng hạn như Bangkok, có thể phụ thuộc ít hơn vào thủy điện và nhiều hơn vào mặt trời, gió, và sinh khối.

Tương lai của nguồn điện ở ĐNA có thể xanh hơn nếu chúng ta ngưng, hay hạn chế, việc xây thêm đập mới, và thay vào đó chú trọng đến việc pha trộn sản xuất điện tái tạo và trao đổi năng lượng sạch trong các quốc gia.

Sơ lược về tác giả

Stefano Galelli là phụ tá giảng sư ở Khoa Kỹ thuật và Thiết kế của Đại học Singapore và cầm đầu Resilient Water Systems Group.

 

Friday, November 20, 2020

Thiện Tùng - Rừng phòng hộ đầu nguồn

 18/11/2020

Muốn biết rừng nguyên sinh phòng hộ bị tàn phá thế nào, chư vị cứ gõ: “Nạn phá  rừng” thì Goole đáp ứng ngay. Bài viết nầy tôi có dụng ý góp phần tranh luận về cây tạo nên “Rừng phòng hộ” và “Cây công nghiệp”.

Nhiều chuyên gia thế giới và trong nước nói về tính năng, tác dụng “Rừng phòng  hộ” khá phong phú. Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) rút gọn lại: “Rừng phòng  hộ được sử dung chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn,  chống sa mạc hóa, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường, môi sinh cho nhiều loại  động thực vật, hạn chế thiên tai, nơi thu hút khách nhàn du…”.

Việt Nam phân ra 2 loại rừng: “Rừng phòng hộ đầu nguồn”(vùng cao) và “Rừng  phòng hộ ven biển”(vùng thấp). Bài viết nầy tôi chỉ nói rừng phòng hộ đầu nguồn.

Nếu không có cây thì không ai gọi là rừng?. Cây rừng là những chủng loại cây  hoang dã, sinh trưởng thích hợp với thổ nhưỡng từng vùng. Trồng cây chuyên  canh, kể cả cây công nghiệp, không ai gọi là “rừng” cả . Nếu quy mô nhỏ gọi là  “vườn”, quy mô lớn gọi là “đồn điền”. Thế mà, chẳng biết tại sao, có lắm người  do kém hiểu biết hay cố tình, phá cây rừng, trông cây chuyên canh nhứt định nào  đó rồi gọi là rừng. Cây chuyên canh có thể có lợi về mặt kinh tế, nhưng nó không  làm được những chức năng cây rừng như vừa nói trên.

I. RỪNG NGUYÊN SINH ĐẦU NGUỒN

1/ Rừng nguyên sinh đầu nguồn, nơi định cư nhiều chủng loại thực vật

Rừng nguyên sinh là rừng trong quá trình phát sinh chưa bị con ngưới tác động . Nó do  thiên nhiên cấu tạo, sống hoang dã, tự lập, tự cung tự cấp, không cần con người chăm  bón… mà nó vẫn xanh tốt. Trên cao là tàng cây, dưới là thảm thực vật, rễ nó ăn sâu vào  lòng đất, đất ôm chặt vào nó, chẳng khác xi-măn gắn chặt với cốt sắt. Vì vậy, chuyện sạt  lở đất ít khi xảy ra.

Có lần đi trong rừng nguyên sinh tỉnh Tây Ninh gặp mưa, tôi trú vào tàng cây có thân lớn  hơn một vòng tay. Mưa khoảng 2 phút nước mới rơi xuống. Khi mưa lớn, nước theo thân  cây tuột xuông , riu ríu chui vào kẽ hở do khô hạn giữa đất và rễ cây để vào lòng đất.

2/ Rừng nguyên sinh đầu nguồn“giữ đất nước” 

Ông Bùi Tú Trà - Phó Ban thanh tra Hội Bảo vệ Thiên nhiên & Môi trường tỉnh

Đắk Lắk bên cây gỗ tung tại buôn Ky, phường Thành Nhất (TP. Buôn Ma Thuột).

Rừng nguyên sinh có nhiều chủng loại cây, tầng cao, tầng trung, tầng thấp và có nhiều chủng loại dây leo đeo bám trên thân cây. Tất cả thừ gì không cần nữa, chúng thải rơi xuống mặt đất, hình thành thảm thực vật, vừa giữ độ ẩm vừa làm phân bón cho cây/dây.

Trừ những cây mọc theo bờ sông suối, gió mưa, giông bão có thể gãy tét nhánh chớ không trốc gốc vì bộ rễ nó ăn sâu vào lòng đất. Trong chiến tranh bom pháo phần lớn chỉ sát phạt thân cây, hễ còn cái gốc là nó đâm tược, bộ rễ vẫn làm tốt chức năng giữ đất nước – theo nghĩa đen.

3/Rừng nguyên sinh đầu nguồn giữ ổn định khí hậu, hạn chế thiên tai 


Rừng nguyên sinh là những cổ máy khổng lồ điều hòa khí hậu, ngoài che nắng sương,  chống đỡ gió giông. Thảm thực vật giữ nước mưa, phần thì thấm vào đất, phần thì  chuyển giao cho những bộ rễ cây mang sâu vào lòng đất, tạo ra mạch nước ngầm. Khi  mước ngầm dư thừa thải đần ra sông suối, cung cấp nước thường xuyên cho vùng hạ lưu,  hạn chế đến mức thấp nhứt lũ quét gây sạt lở.

4/ Rừng nguyên sinh, nơi định cư động vật hoang dã

Rừng nguyên sinh, cây rừng và các loài động vật cộng sinh với nhau:

- Rừng là nơi dung thân cho các loài động vật, số thì ”ăn chay” – ăn cây cỏ, số thì “ăn mặn” – ăn thỉt các động vật yếu kém hơn mình.

- Thực phẩm của cây là lá cỏ mục trộn với chất thải của các loài động vật cư trú tại đây, nước uống của cây là mạch nước ngầm.

5/ Rừng là nơi lý tường cho khách nhàn du


Nhứt là người thành thị luôn sống trong cảnh đông người ồn áo, nóng bức.., rừng nguyên  sinh trong lành, thơ mộng, nhiều cảnh quan bắt mắt nên, những khi rảnh rỗi, họ thích  nhàn du nơi rừng sâu núi thẩm. Được thiên ưu đãi, Việt Nam có bờ biển dài, có nhiều  rừng nguyên sinh tên tuổi. Người xưa từng nói “Đát nước ta có rừng vàng, biển bạc” không ngoa chút nào. Có điều đáng buồn là, suốt gần nửa thế kỷ qua, lãnh đạo Việt Nam  không chú trọng khai thác Du lịch – ngành Công nghiệp không khói nầy: Cho khai thác  Bauxite Tây nguyên, cho phá rừng nguyên sinh làm thủy điện, đưa dân lên vùng cao  trồng cây Công nghiệp… phá nát rừng nguyên sinh / Cho nước ngoài làm nhà máy cán  phép và xây dựng nhiều nhà máy nhiệt điên than…xả thải gây ô nhiễm suốt dọc chiều dài  bờ biển. Để rồi, giờ đây chuốc lấy bao thảm họa, xúm nhau ngữa mặt lên trời than: “Rừng  vàng Biển bạc nay còn đâu?!”.

II. ĐỒN ĐIỀN HAY VƯỜN CÂY CÔNG NGHIỆP

Trồng cây Công nghiệp với quy mô nhỏ gọi là “vườn”, với quy mô lớn gọi là “Đồn điền”  chớ không ai gọi là rừng cả?. Thế mà có lắm người, kể cả ngành chủ quản cho rằng: “loại  cây bất kỳ nào trông trên đất đều được xem là rừng”.

1/ Về cây Cao su


Vườn Cao su

 

Đồn điền Cao su 

Tiến sĩ Nguyễn Anh Nghĩa nói về cây Cao su khá thuyết phục: “Cây cao su quang hợp  giống như các cây khác, ban ngày hút CO2, nhả O2 và chuyển sang hút O2 và nhả CO2  vào ban đêm. Không có con gì sống dưới rừng cao su sống được, cây cao su có mủ và độc  hại đối với nhiều côn trùng và cả loài ăn thực vật. Do trong rừng cao su không có nhiều  thức ăn như trái cây, côn trùng,... nên chim chóc và các loài động vật không thể sống  được ở trong rừng cao su. Hơn nữa, trong rừng cao su có rắn, rết… nên công nhân lao  động phải phát quang, dọn dẹp các bụi rậm bên dưới, vừa an toàn lại vừa dễ dàng cho  công việc chăm sóc và cạo mủ. Đây cũng là nguyên nhân dưới rừng cao su có ít thảm thực  vật là vậy...”.

2/ Về cây Cà phê 


Diện tích trồng cây cà-phê các tỉnh Tây Nguyên hiện hơn 500.000 ha, chiếm hơn 95% diện tích đất trồng cây ca-phê trên cả nước.

Nhiều chủ Vườn và Đồn điền Cà-phê cho rằng “Ca-phê đang ngồi trên lửa”: Ho cho biết:  Ở nhiều vùng, vườn càphê đang già cỗi cho năng suất thấp; thời tiết thất thường nên niên vụ này dự báo có nơi sẽ giảm năng suất đến 1/3. Cty TNHH xuất khẩu nông sản Tây Nguyên, cho biết năm nay dự báo năng suất càphê của Brazil sẽ cao mức kỷ lục, khoảng 63 triệu tấn. Nông dân Brazil đang đẩy mạnh bán ra nên giá sẽ khó giữ như năm trước”.

Với vườn càphê đã thu hoạch, hiện nay mỗi vụ nhà vườn đầu tư tiền phân bón, thuốc bảo vệ thực vật từ 50-70 triệu đồng, thu hoạch khoảng 3 tấn/ha. Năm nay sản lượng giảm khoảng 1/3, trong khi giá chỉ còn 35 triệu đồng/tấn nhân xô, giảm 1/4 so với trước. Tại Gia Lai niên vụ 2018, đa số 81.000ha cà-phê giai đoạn kinh doanh của Gia Lai đều giảm năng suất. Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Gia Lai, năng suất cà-phê toàn tỉnh vụ này chỉ đạt 11,5 tấn quả tươi/ha, giảm gần 1/3 so với vụ năm ngoái. Nếu giá cà-phê nhân vẫn ở mức 35 triệu đồng/tấn như hiện nay, người trồng càphê ở tỉnh Gia Lai sẽ bị thiệt hơn 800 tỉ đồng vì giảm sản lượng. 

Ngoài ra việc thu hái càphê bắt đầu chín cũng gặp nhiều khó khăn do nguồn nhân công quá khan hiếm. Nhiều năm trước, nguồn lao động dựa vào nhân lực từ các tỉnh duyên hải miền Trung như: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên… rất sẵn. Thế nhưng vài năm trở lại đây, các khu công nghiệp ở các địa phương mở ra đã thu hút nguồn lao động tại chỗ, cộng với nhiều nguyên nhân khác khiến các chủ vườn đỏ mắt đi tìm nhân công hái cà-phê. Theo đó giá nhân công hiện nay cao ngất ngưởng, khoảng 1 triệu đồng/tấn so với 800.000 đồng năm trước. Nhiều vườn cà-phê chín đỏ mà đành chịu. Tính trung bình cứ mỗi hécta cà-phê phải cần đến 5 - 7 nhân công thu hái hơn một tuần. Và với 500.000 hécta càphê của Tây Nguyên, đang cần một nguồn nhân công khổng lồ. Không chỉ có những hộ gia đình, các doanh nghiệp trồng cà-phê cũng rất cần nguồn nhân công thu hái. Nhiều Cty sốt ruột với hàng trăm hécta diện tích chín dồn dập mà vẫn chạy đôn, chạy đáo. Cây cà-phê Tây Nguyên niên vụ 2018 như đang ngồi trên lửa>>.

3/ Về Tiêu (Hồ Tiêu)


Số phận cây Tiêu còn ảm đạm hơn cây Ca-phê. Hãy nghe ông Nguyễn Minh Vịnh chia sẻ: “ Những yêu cầu kỹ thuật cơ bản, trước tiên ta phải phân biệt được cây suy yếu là do bệnh tật, già cỗi hay do chế độ chăm sóc. Những bụi tiêu quá xấu, nhắm không cách gì khôi phục được, thì phải ưu tiên việc nhổ bỏ trồng mới.

Việc trồng mới trên vùng đất cũ cũng khá khó khăn, do đất bạc màu, hoặc đất đã chai cứng, khó rút nước, không còn độ tơi xốp,… Ta cần phải khôi phục lại độ phì cho đất”..

Cảnh báo tình trạng thu mua rễ cây hồ tiêu ngay tại vùng dịch

Nhiều người dân đã đến các vùng tiêu vừa bị dịch bệnh chết để đào gốc lấy rễ bán. Điều  đáng nói là đa số các dịch bệnh khiến tiêu chết với diện tích lớn tại huyện Chư Pưh thời  gian gần đây xuất hiện từ rễ loại cây này. Sau khi hồ tiêu chết, các mầm bệnh vẫn lưu trú  tại gốc, rễ của cây nếu như không được xử lý dịch triệt để.

Diện tích hồ tiêu chết do dịch bệnh của huyện Chư Pưh từ năm 2015 đến nay khoảng 320  ha. Trước đó, người dân vẫn để tiêu chết tại vườn, không nhổ bỏ và xử lý qua phần đất  nền để tiếp tục tái canh một số loại cây công nghiệp khác.

Tuy nhiên, khi nghe thông tin có thương lái thu mua rễ hồ tiêu, nhiều người dân đã về vườn nhà đào gốc lấy rễ bán, thậm chí còn đến những diện tích hồ tiêu chết của hộ khác  đào bới gây nguy cơ lây lan mầm bệnh cho cây trồng.

Trước thông tin rễ hồ tiêu được thu mua để bán cho người Trung Quốc tái chế, trộn vào  phân bón bán lại cho người dân nhằm phát tán, lây lan dịch bệnh. Ông Lê Thanh Việt, Chủ tịch UBND xã cho biết, khi làm việc với cán bộ xã, các hộ thu mua không thừa nhận mua  rễ tiêu để bán cho người Trung Quốc mà mua về đề đun lửa. Vụ việc đã được chính quyền  báo cáo lên Công an huyện Chư Pưh để cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, làm rõ.

4/ Về cây Điều

Cà-phê và Tiêu thọ nạn, Điều sắp tử vong. Căn bịnh của anh Diều phải cầu cứu tuyến trên.  Được biết:

Ngày 16.1/2018, tại huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước, Trung tâm khuyến nông Quốc gia  (TTKNQG) phối hợp Sở NN&PTNT tỉnh tổ chức Hội thảo “Xây dựng mô hình khôi phục  vườn điều bị sâu bệnh”. Dự buổi hội thảo có ông Trần Văn Khởi - Giám đốc TTKNQG, lãnh  đạo Sở NN&PTNT tỉnh cùng 80 nông dân trồng điều trên địa bàn tỉnh.


Tình Bình Phước có diện tích điều lớn nhất cả nước 59.000ha, hạt điều Bình Phước được chọn xây dựng thành thương hiệu quốc gia.

Người dân chặt bỏ diện tích điều bị sâu bệnh ở huyện Bù Đăng (Bình Phước).

Niên vụ điều 2017-2018, sâu bệnh cây Điều trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp. Bù Ðăng  là huyện có diện tích cây Điều lớn nhất tỉnh Bình Phước với gần 59.000 ha, cũng là địa  bàn bị thiệt hại nặng nhất, gần như toàn bộ diện tích bị nhiễm sâu bệnh . Hơn 18.100 ha  gần như mất trắng, năng suất giảm hơn 46,5% so với vụ điều năm 2016...

Trong đó, nặng nhất là xã Ðăng Hà, nơi có tới 90% số hộ dân trồng Điều, chỉ mới đầu vụ  (giữa tháng 3.2017) đã mất trắng 650 ha, năng suất bình quân cả vụ chỉ còn 50 kg/ha. Kế  tiếp là huyện Ðồng Phú có tới 40% (tương ứng 5.763 ha) diện tích Điều gần như mất  trắng; huyện Bù Gia Mập có hơn 47,1% trong 20.457 ha Điều bị nhiễm bệnh, năng suất  giảm 51%, trong đó gần 1.900 ha mất trắng; huyện Phú Riềng có 2.000 ha gần như mất  trắng...

Anh Long Hoàng Ngân (thôn 3 xã Ðăng Hà, huyện Bù Ðăng) nói: “Vụ điều vừa rồi, tôi mất  trắng 1 ha”. Vụ điều năm 2016, anh Ngân thu được gần hai tấn hạt nên mùa 2017 anh  mạnh dạn chi khoảng 17 triệu đồng mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) chăm  sóc rẫy điều. Tuy nhiên, côn trùng, bọ xít muỗi, bệnh thán thư rồi cháy lá khô ngọn đã  cướp đi tất cả...Năng suất điều bình quân toàn tỉnh chỉ còn 7,15 tạ/ha, tổng sản lượng là  94.485 tấn (giảm khoảng 38% cả về năng suất và sản lượng so với vụ Điều 2016). Theo  đánh giá của Phó Chủ tịch Hiệp hội Ðiều Việt Nam (Vinacas) Tạ Quang Huyên, mức độ sâu

bệnh trên cây Điều ở Bình Phước trong vụ điều 2017 là nghiêm trọng nhất trong vòng 15  năm trở lại đây.

Trước tình hình đó, Trung tâm khuyến nông Quốc gia phối hợp với Trung tâm Khuyến  nông tỉnh đã xây dựng các mô hình khôi phục vườn Điều bị sâu bịnh – đến nay chưa nghe  nói kết quả..

Vậy là 3 cây “Ca-phê, Tiêu, Điều” vướn bịnh nan y, đang cùng nằm nhà thương?!. Đát  nước mất rừng, nhân dân thất mùa đang rên siết ?! Lỗi nầy do ai?. -/-

Mời xem ảnh 3 trong nhiều rừng Nguyên sinh vang tiếng một thời, du khách quốc tế thường ghé qua


1 / Nằm trong diện bảo tồn của 3 tỉnh Đồng Nai, Bình Phước và Lâm Đồng, rừng nguyên  sinh Nam Cát Tiên nổi tiếng với nhiều thảm thực vật đa dạng. Rừng là nơi ngụ cư của  khoảng 40 loài nằm trong sách Đỏ thế giới và nhiều loại cây quý hiếm. Đến với rừng Nam  Cát Tiên, du khách không chỉ chiêm ngưỡng khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ mà còn được  khám phá Bàu Sấu – vùng đất ngập mặn lớn thứ 2 ở Việt Nam. Ảnh: Trabong.


2 / Rừng quốc gia Cúc Phương nằm ở địa phận tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội hơn 120 km,  là vườn quốc gia đầu tiên ở Việt Nam. Đến rừng Cúc Phương, du khách sẽ có cơ hội thấy  tận mắt những cây cổ thụ với hàng trăm năm tuổi. Đặc biệt, rừng quốc gia Cúc Phương  còn có nhiều loại động vật và thực vật có tên trong sách Đỏ. Thời điểm thích hợp nhất để  du khách đến rừng Cúc Phương là vào mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 5), lúc này thời  tiết trong rừng mát mẻ. Ảnh: I.m.nhung.

3/ Rừng Yok Đôn nằm trên địa bàn 2 tinh Dắk Nông và Dắk Lắk, có diện tích khoảng  115.545ha, cách Buôn Ma Thuộc 40km. Ngoài có nhiều loại thực vật ra thì động vật ở đây  cũng ghi dấu một con số ấn tượng. có tới 489 loài gồm 196 loài chim, 15 loài lưỡng cư, 67 loài thú, 100 loài côn trùng và 46 loài bò sát mang đặc trưng riêng biệt của khu vực Đông  Nam Á. Đặc biệt hơn cả, rừng quốc gia Yok Đôn còn là nhà của 36 loài động vật quý hiếm  với 17 loài đã được ghi tên trong sách đỏ cần được bảo vệ nghiêm ngặt như: Chim công,  Voi, Hổ, Báo, Quắm lớn, Chìa vôi Mê Kông, Chim sáo. Trâu rừng, Gà lôi, Hươu sao, Phượng hoàng, Sơn dương, Bò sừng xoắn, Quắm lớn, Nai cà tông, Kỳ đà nước.

SOURCE:

https://quanvan.net/rung-phong-ho-dau-nguon/#.X7eqY1B7mUk

.

Wednesday, November 18, 2020

Gs. Trần Hồng Quân – Rừng 1 – 2 – 3

 

Bài viết của Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Quân cựu Bộ trưởng Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

17/11/2020

Bài viết của Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Quân cựu Bộ trưởng Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

RỪNG (1)

Năm 1984 tôi đi thăm khu rừng mà Đắc lắc cho trường Đại học Tây nguyên làm cơ sở nghiên cứu và thực tập cho ngành Lâm nghiệp. Đi bằng xe Jeep quân dụng. Cây rừng dầy đặc kín khung trời, toàn cây to vài người ôm không xuể. Đến một con suối, chúng tôi xuống thưởng ngoạn. Dấu chân voi rừng to đến ngạc nhiên. Tôi gang tay đo thử. Đồng chí bảo vệ người dân tộc bất ngờ ra lệnh phải lên xe. Anh lên đạn khẩu tiểu liên cầm theo. Có mùi khét của hổ. Con suối là nơi nhiều thú rừng đến uống nước. Kể cũng hơi sợ nhưng thấy rừng mà mê.

Đi thêm vài nơi. Các anh giới thiệu bao nhiêu sản vật rừng quý giá. Ngay loại cây thấp thấp giống như cây ngải, cây gừng ta hay trồng ở đồng bằng mà xe chúng tôi chạy ào lên đều là cây sa nhân quý giá. Ôi, rừng của ta thật tuyệt biết bao. Sau này Đại học Tây nguyên phải trả lại khu rừng ấy

Năm 2018, lần gần nhất tôi có dịp lại lên Tây nguyên. Đi dọc đường 14 không thấy rừng đâu. Nhìn quanh toàn đồi núi trọc một màu xám. Mãi mới thấy một dãy núi xa xa còn xanh thảm rừng. Chúng tôi buộc miệng: Chỉ thấy địa phương ấy là giữ rừng giỏi, thật đáng khen. Người dẫn đường cười: "Thưa đó là đất Campuchia ạ"

RỪNG (2)

Hàng trăm tấn đất mặt sẽ bị xói mòn trong một năm trên một ha.

Năm 1987 tôi có việc đi châu Phi. Khi bay qua một vùng hoàn toàn không có màu xanh, chỉ xám và đỏ gạch, bạn tôi giải thích rằng Đất nước này trong lịch sử là một quốc gia có rừng bạt ngàn, nhiều gỗ quý. Thực dân châu Âu sang xâm chiếm và khai thác triệt để. Không còn rừng, đất màu bị xói mòn làm trơ ra toàn sỏi đá. Các nhà khoa học cho rằng, 500 năm nữa cũng khó phục hồi để trồng trọt được. Còn rừng thì mất vĩnh viễn.

Rừng ở Việt nam bị phá như ta đã biết. Nhìn ảnh vệ tinh, không thể chối cãi được. Dạo này lũ lụt, lở đất ở Miền Trung gây ra bao cảnh tang thương như gióng một tiếng chuông báo động vang dội trời đất và rung chuyển cung đình.

Nhưng đó chỉ là phần nổi. Còn phần chìm là sự xói mòn thầm lặng lớp đất mặt nhiều dinh dưỡng khi không còn thảm thực vật làm chiếc áo bảo vệ. Cứ năm này qua năm khác ta sẽ chỉ còn lại đất gốc sỏi đá nghèo nàn như đất nước nói trên.

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk đã chỉ ra rằng ở độ dốc từ 5-8 độ, với lượng mưa hàng năm 1.905mm, trên 1ha nương rẫy sẽ bị bị rửa trôi 95,1 tấn đất, trên đất trồng ngô bị rửa trôi 105,7 tấn, trên đất trồng càphê được hai tuổi bị trôi 69,2 tấn. Trong khi đó, với 1ha đất rừng nguyên sinh, lượng đất bị rửa trôi chỉ dưới 6 tấn, còn đất rừng tái sinh là 12 tấn (vùng có rừng, lá cây rụng xuống bù đắp một phần lớn)

Xin nhắc lại đó chỉ là trong một năm. Trong 10 năm thì 1 ha bị trôi hàng ngàn tấn đất mặt. Bạn hình dung đi, tương lai sẽ ra sao? Có đáng lo không?

Nhiều người có trách nhiệm trực tiếp mà phát biểu như nói chuyện vô can, không chút sốt ruột.

RỪNG (3)

Vui chuyện người, buồn chuyện mình

Có lần tôi thăm Tiệp Khắc vào 1984 hay 1985 gì đó, không còn nhớ. Ngoài chương trình làm việc, họ cho tham quan một lâu đài cổ xưa. Xe đi theo những con đường quanh co trong rừng mà các nhà quý tộc xưa đi bằng xe ngựa. Rừng nguyên sinh rất đẹp. Tòa lâu đài nguy nga thật yên bình như mơ màng ngủ trong rừng.

Rất nhiều kỷ vật liên quan đến rừng của các quý tộc xưa được chưng bày. Đến giờ nhất định lại có đội lính kèn ăn mặc như người cổ xưa ra thổi một điệu nhạc vang vọng vào khu rừng tạo một cảm giác như ta đang lạc vào chuyện cổ tích.

Tôi rất cảm xúc trước cảnh tượng này. Và thấy lạ lùng về sự tồn tại một khu rừng như vậy trong một quốc gia mà ngay đầu thế kỷ 20 đã là nước công nghiệp đứng thứ 7 thế giới. Ở đây hiện đại hóa không hề là kẻ phá hoại rừng xanh. Tôi tò mò hỏi sự suy nghĩ của họ.

Bạn cho biết Tiệp khắc hết sức coi trọng việc bảo vệ rừng. Bộ Thủy lợi và Lâm nghiệp là một. Họ coi rừng là yếu tố điều tiết nguồn nước quan trọng nhất.

Họ luôn duy trì rừng ở mức chiếm 65% diện tích quốc gia. Ngay với rừng trồng cũng có quy định nghiêm nhặt khi khai thác. Mỗi lần chỉ được đốn hạ từng băng rừng với độ rộng chỉ tương đương chiều cao trung bình của cây trưởng thành. Không được rộng hơn. Xong phải trồng lại sớm nhất. Các băng cây cao hai bên che chở cho băng cây con mới trồng. Cứ thế mà luân phiên.

Người dân rất coi trọng bảo vệ rừng và cả thú rừng. Đi trên các con đường xuyên rừng ở châu Âu ta hay gặp bảng cảnh báo thú rừng để xe tránh làm thiệt hại. Ở đây cũng vậy.

Có điều thú vị là ở Tiệp khắc dạo đó muốn thi vào ngành Lâm nghiệp thật không dễ, đó là một ngành đặc biệt hấp dẫn vì làm việc ở các trạm chăm sóc rừng như đi nghỉ mát quanh năm. Ở Liên xô cũng vậy.

Nhìn việc của bạn, tôi chạnh lòng nghĩ đến những chuyện về rừng của ta.

TRẦN HỒNG QUÂN

https://www.facebook.com/100012875434848/posts/1103200213452483/

.