Tuesday, November 12, 2019

Dự báo năm 2050 miền Nam Việt Nam ngập lụt nặng


Hà Dương Cự/Người Việt
November 7, 2019

Dự báo mới cho năm 2050. (Hình: climatecenter.org)


Ngày 29 Tháng Mười vừa qua một bài báo khảo cứu đăng trên báo Nature Communications đã có những tính toán mới và đưa đến những dự báo là đến năm 2050 hầu như toàn bộ miền Nam Việt Nam sẽ bị ở dưới mực nước khi thủy triều lên cao.
Nhưng theo mạng VOA (voatiengviet.com) thì bà Huỳnh Thị Lan Hương, phó viện trưởng Viện Khoa Học Khí Tượng Thủy Văn và Biến Đổi Khí Hậu thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi Trường CSVN, đã tỏ vẻ ngờ vực kết quả của bài báo này. Bà cho rằng bài báo nói Đồng Bằng Sông Cửu Long bị xóa sổ là chưa đủ cơ sở khoa học và dựa trên các giả định cực đoan.

Trong bài này tôi xin trình bày kết quả của bài báo, những chi tiết liên quan tới bài báo. Thí dụ như tác giả bài này là ai và phương pháp tính toán của họ ra sao? Xét về chuyên môn bài báo này có tin được không?

Kết quả của bài báo 
Mực nước biển dâng cao là một trong những sự nguy hiểm do không khí bị hâm nóng gây ra. Loài người đã thải ra ngoài không khí những khí nhà kính làm cho trái đất nóng lên. Do đó những tảng băng ở hai cực tan ra và chảy vào biển làm cho mực nước biển dâng cao. Hơn nữa, nhiệt độ ấm làm nước biển nở ra, sự kiện này cũng góp phần vào việc dâng cao mực nước biển. Những vùng đất thấp ven biển trên thế giới có nguy cơ bị ngập lụt.
Hai tác giả của bài báo cho là mô hình phát triển trước đây không được chính xác và quá lạc quan. Họ loan báo là đã phát triển được một phương pháp tính toán chính xác hơn dựa vào thông tin về mực độ cao từ vệ tinh.
Theo bài khảo cứu này thì trong thế kỷ 21 mực nước biển sẽ dâng lên ít nhất là 0.5 mét. Trong trường hợp tệ nhất thì có thể lên trên 2 mét. Mô hình mới tính lại độ cao của vùng ven biển. Theo những con số đó và dựa vào sự dự đoán mực nước biển thì vào năm 2050 nhà cửa của khoảng 300 triệu người sẽ bị ở dưới mức ngập lụt trung bình hằng năm. Trong số đó có 20 triệu người Việt Nam ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Vào năm 2100 thì đất đai của 200 triệu người hiện đang sinh sống sẽ bị nằm dưới nước khi thủy triều lên cao.

Cảnh ngập lụt. (Hình: creativecommons.org)

Những chi tiết liên quan đến bài báo 
Tên bài báo là: “New elevation data triple estimates of global vulnerability to sea-level rise and coastal flooding” (tạm dịch Dữ kiện mới về độ cao làm tăng lên gấp ba các ước tính về sự nguy hại toàn cầu đối với việc mặt nước biển lên cao và sự ngập lụt miền duyên hải), được đăng trên báo Nature Communications, ngày 29 Tháng Mười, 2019. Hai tác giả là Scott A. Kulp và Benjamin H. Strauss.

Báo Nature Communications là một báo khảo cứu khoa học, có từ năm 2010 và có trụ sở ở New York, London và Thượng Hải. Cũng như những báo khảo cứu đứng đắn khác Nature Communications theo hệ thống duyệt xét của đồng nghiệp (peer review), tức là bài khảo cứu nào muốn được đăng thì phải qua sự duyệt xét của một vài chuyên viên cùng ngành. Nếu được chấp thuận của các chuyên viên thì mới được cho đăng.

Tiến Sĩ Scott A. Kulp là khoa học gia chuyên về mực nước biển dâng cao ở Climate Central và có bằng Ph.D. về máy tính ở Đại Học Rutgers, New Jersey. Tiến Sĩ Benjamin Strauss là tổng giám đốc (chief executive officer) và khoa học gia trưởng của Climate Central. Ông Strauss có bằng Ph.D. về sinh thái học ở Đại Học Princeton.
Climate Center là một cơ quan độc lập chuyên khảo cứu và báo cáo về sự thay đổi khí hậu và các ảnh hưởng đối với công chúng. Như vậy, xét về trình độ chuyên môn mức độ khả tín của bài báo này rất cao.

Các phương pháp đo độ cao trước đây 
Hai yếu tố chính của bài khảo cứu là sự tan chảy của băng đá và mực độ cao của vùng đất ven biển. Bài báo không chú trọng đến sự tan chảy của băng đá mà chỉ dựa vào những con số có sẵn. Điểm chính yếu và mới mẻ của bài nghiên cứu này là phương thức tính toán độ cao của đất đối với mực nước biển.
Bài báo nói là công việc đo độ cao vùng ven biển một cách chính xác rất là khó khăn và tốn kém. Ở Hoa Kỳ hay những nước tân tiến thì dùng kỹ thuật lidar để đo độ cao. Kỹ thuật này sử dụng máy bay, máy bay trực thăng và máy bay không người lái. Ở những vùng không dùng lidar thì phải sử dụng những tập dữ liệu khác. Tập dữ liệu được dùng nhiều nhất là từ vệ tinh của NASA trong chương trình Shuttle Radar Topography Mission (Nhiệm Vụ Địa Hình Ra Đa của Phi Thuyền Con Thoi, viết tắt là SRTM).

Đa số dữ liệu SRTM có trên mạng Internet và ai cũng có thể truy nhập được, nhưng không được chính xác bằng lidar. SRTM chỉ đo được độ cao của phần trên của mặt đất, thí dụ ở chỗ có nhà hay cây thì độ cao đo từ STRM là nóc nhà hay ngọn cây chứ không phải thật sự độ cao của mặt đất, như vậy không được chính xác. Nhất là những vùng cây cối dày đặc hay vùng đông dân cư. Độ cao của SRTM trung bình cao hơn khoảng 2 mét so với độ cao thật sự. Ở những vùng ven biển nếu xác định độ cao cao hơn thực tế thì có thể đánh giá thấp sự nguy cơ bị ngập lụt.

Dự báo cũ cho năm 2050. (Hình: climatecentral.org)

Phương pháp đo độ cao của bài nghiên cứu 
Phương pháp đo độ cao của bài báo được gọi là CoastalDEM (Coastal Digital Elevation Model, mô hình độ cao duyên hải kỹ thuật số). Mô hình này dùng công nghệ máy tự học áp dụng vào 51 triệu điểm dữ liệu để sửa lại những sai số của SRTM.
Các nhà khoa học đối chứng CoastalDEM với SRTM tại những nơi đã biết chính xác độ cao bằng lidar như vùng duyên hải miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Tại những vùng đó SRTM tính độ cao cao hơn thực tại trung bình là 15.5 foot trong khi đó Coastal DEM chỉ sai có 2.5 inch.
Việt Nam nên làm gì? 

Những khảo cứu khoa học có thể chính xác hay không nhưng nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam không thể làm ngơ chuyện này được vì ảnh hưởng rất lớn đối với dân chúng kể về sinh mạng và tài sản cũng như nền kinh tế của cả nước.

Việc đầu tiên là phải lập ra một ủy ban chuyên nghiên cứu về việc nước biển dâng lên và nguy cơ ngập lụt Đồng Bằng Sông Cửu Long, liên lạc với các cơ quan khảo cứu quốc tế để tìm hiểu và xác định mức độ khả tín của những báo cáo đó. Sau đó phải làm một báo cáo đầy đủ chi tiết và loan báo cho công chúng để mọi người được hiểu tường tận vấn đề.

Bà Huỳnh Thị Lan Hương đã tỏ vẻ ngờ vực kết quả của bài nghiên cứu này. Nhưng bà Hương cũng có nói là một số vấn đề trong bài báo cần được xem xét kỹ lưỡng hơn, đặc biệt là về mặt số liệu và giả định nghiên cứu. Hy vọng có người thật sự quan tâm và theo dõi vấn đề này.
Tuy nhiên, như một câu ngạn ngữ Anh: “Hope for the best and prepare for the worst” (Hy vọng được tốt đẹp nhất và sửa soạn cho trường hợp xấu nhất) nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam dù sao cũng cần phải có những kế hoạch dài hạn như xây đập ngăn nước và di dân lên vùng đất cao để nếu cần thì đem ra thi hành. (Hà Dương Cự)

Nguồn tài liệu:

.

Sunday, November 10, 2019

Khoa học và chính trị xung quanh thông tin ĐBSCL, TP.HCM sẽ "biến mất"



Luật sư Nguyễn Tiến Lập
Chủ nhật, 03/11/2019  

Từ dự báo rằng vào năm 2050, đồng bằng sông Cửu Long và TP.HCM sẽ chìm dưới nước biển, điều người dân chờ đợi từ các cấp có thẩm quyền thực chất lại không phải là cảnh báo những gì sẽ xảy ra, mà quan trọng hơn là nếu mỗi kịch bản xảy ra thì các tác động cũng như giải pháp và kế hoạch ứng phó thế nào?

Bản so sánh kết quả nghiên cứu cũ và nghiên cứu mới 
công bố về ảnh hưởng của nước biển dâng đối với miền Nam Việt Nam. 
Đồ họa: New York Times


Theo quan điểm của tôi, bất kể vấn đề gì tác động lên tư duy và hành động của số đông người dân, chưa nói tới hàng triệu con người, đều là vấn đề chính trị. Vậy thì thông tin về Báo cáo khoa học của tổ chức Climate Central vừa mới được công bố với dự báo rằng vào năm 2050, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và TP.HCM sẽ chìm dưới nước biển đang được đón nhận ở Việt Nam như vấn đề của khoa học hay chính trị?

Trước hết, hơn 20 triệu người dân vùng ĐBSCL và gần 10 triệu người dân TP.HCM, chưa nói tới toàn thể người dân Việt Nam, sẽ phản ứng thế nào về thông tin đáng sợ này một khi đang có hai đánh giá hoàn toàn ngược nhau từ hai Viện khoa học ở hai đầu đất nước?

PGS. TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu về biến đổi khí hậu (thuộc Đại học Cần Thơ), đồng quan điểm và cho rằng Báo cáo của Climate Central hoàn hoàn đáng tin cậy. Trong khi đó, PGS. TS Huỳnh Thị Lan Hương, cũng là Phó Viện trưởng của Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và biến đổi khí hậu (thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường), thì phản bác cho rằng thông tin của Climate Central về việc ĐBSCL sẽ biến mất vào năm 2050 là “chưa đủ căn cứ khoa học”.

Từ góc độ người dân, tôi tin rằng tất cả đều hy vọng nhận định của PGS. TS Huỳnh Thị Lan Hương là đúng bởi nếu không, Việt Nam sẽ đối mặt một vấn đề chính trị lớn khi chỉ 30 năm nữa cuộc sống của hàng chục triệu con người không biết sẽ đi về đâu và các rủi ro cho an ninh quốc gia có liên quan sẽ được xử lý như thế nào?

Tuy nhiên, người dân lại chỉ hành động theo niềm tin chứ không phải sự hy vọng. Mà từ hy vọng đến niềm tin lại là cả một quá trình mà trong đó, nhiều câu hỏi sau đây có thể được đặt ra và cần sự trả lời, không chỉ từ chính các nhà khoa học mà cả Bộ Tài nguyên và môi trường:
Thứ nhất, Climate Central có phải là một tổ chức có uy tín về khoa học trên thế giới hay không? Thông tin từ mạng internet cho biết đây là một tổ chức phi chính phủ, chuyên cung cấp các nghiên cứu độc lập về biến đổi khí hậu do các nhà khoa học hàng đầu thực hiện.
Đặc biệt, hai tác giả chính của Báo cáo về nước biển dâng mới đây có liên quan đến Việt Nam là Scott Kulp - một nhà nghiên cứu cấp cao của tổ chức này và Đại học New Jersey, và người kia là Benjamin Strauss - CEO và Khoa học gia trưởng của Climate Central - là người có các công trình khoa học được cả Nhà trắng Hoa Kỳ và Liên hợp quốc sử dụng, từng có các bài nghiên cứu được hơn 10 ngàn lần đăng tải trên các tạp chí khoa học có uy tín toàn cầu.

Chỉ mới triều cường làm vỡ bờ bao tại đường Mễ Cốc (quận 8) 
mà người dân đã phải "bơi" trong dòng nước đen ngòm. Ảnh: PLO

Thứ hai, Báo cáo nghiên cứu của Climate Central có đưa ra các kết quả cập nhật và có tính mới về khoa học hay không?  Theo PGS. TS Huỳnh Thị Lan Hương, nghiên cứu của Climate Central có ý nghĩa về mặt khoa học, tuy nhiên, bản đồ số độ cao do Bộ Tài nguyên và môi trường sử dụng trong xây dựng bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng trong kịch bản năm 2016 là nguồn số liệu cập nhật và tốt nhất.

Do vậy, theo quan điểm bà Hương, các cơ quan, địa phương khi đánh giá nguy cơ ngập do nước biển dâng cần sử dụng số liệu chính thức do Bộ Tài nguyên và môi trường công bố.
Đối với người dân, một câu trả lời rõ ràng và đúng đắn rất quan trọng và cần thiết, bởi ứng xử tự nhiên của một con người trước nguy cơ thảm hoạ là phòng ngừa ở mức tối đa cho tình huống xấu nhất chứ không phải những giả định lạc quan.

Tại báo Báo cáo của Climate Central có chỉ dẫn về 67 thông tin tham khảo nhưng không có nguồn nào từ Bộ Tài nguyên và môi trường Việt Nam. Vậy, để trả lời câu hỏi này một cách chính xác, phải chăng Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và biến đổi khí hậu cần liên hệ với các tác giả của Báo cáo để đối chất và tranh luận, trước khi tuyên bố không thừa nhận hay bác bỏ kết quả nghiên cứu của họ!?

Thứ ba, liệu rằng có thể xảy ra kịch bản mức nước biển dâng cao 2m hay không? PGS. TS Huỳnh Thị Lan Hương cho rằng Báo cáo của Climate Central đã dựa trên các “giả định cực đoan”, cụ thể các tác giả đã đưa ra kịch bản mức ngập tới 2m dựa trên sự chồng chập của hai hiệu ứng nước biển dâng vĩnh viễn do biến đổi khí hậu và nước biển dâng nhất thời (chỉ vài giờ) do thuỷ chiều là phi thực tế.

Người phụ nữ bồng đứa con 3 tháng tuổi lội trên đường Phan Anh (quận Tân Phú) 
do xe chết máy vì ngập nước. Ảnh: Tùng Tin/VietNamNet

Đọc văn bản Báo cáo thì thấy hai tác giả kết luận rằng với phương pháp tính toán mới, mọi dự báo về mức nước biển dâng thấp hơn nhiều dưới 2m đều không đúng nữa.
Đối với người dân, một câu trả lời rõ ràng và đúng đắn rất quan trọng và cần thiết, bởi ứng xử tự nhiên của một con người trước nguy cơ thảm hoạ là phòng ngừa ở mức tối đa cho tình huống xấu nhất chứ không phải những giả định lạc quan.

Thứ tư, một khi Báo cáo nghiên cứu của Climate Central được phổ biến rất chi tiết để ai cũng có thể tiếp cận thì về phía Việt Nam, Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và biến đổi khí hậu hay Bộ Tài nguyên và môi trường cũng có thể công bố rộng rãi các nghiên cứu và dự báo của mình được không? Một sự thật hiển nhiên là trong thời đại ngày nay, người dân có thể tiếp cận các nguồn thông tin bằng rất nhiều phương tiện khác nhau.

Họ làm điều đó để tự định hướng cho hành động của mình mà cần không chờ đợi ai, dù là cơ quan chính quyền, chỉ dẫn hay yêu cầu. Vấn đề đặt ra là thông tin trung thực và chính xác.
Do đó, sự phản hồi từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam trong vấn đề này đang khẩn thiết được trông đợi.

Cuối cùng, điều người dân chờ đợi hơn từ các cấp có thẩm quyền thực chất lại không phải là cảnh báo những gì sẽ xảy ra, mà quan trọng hơn là nếu mỗi kịch bản xảy ra thì các tác động cũng như giải pháp và kế hoạch ứng phó thế nào?

Luật sư Nguyễn Tiến Lập


Trung Quốc biến nguồn nước thành vũ khí, gây thêm hạn hán ở châu Á



Mai Vân
06-11-2019

Ảnh minh họa : 
Đập Xayaburi, dài 820 mét do Trung Quốc xây trên sông Mêkông tại Lào.
Handout / CK POWER / AFP


Các hành vi bức hiếp láng giềng của Bắc Kinh không chỉ được thấy trên các vùng biển bao quanh Trung Quốc, mà còn thể hiện trên đất liền, với việc khống chế nguồn nước của các con sông tỏa ra khắp khu vực.

Trong bài phân tích “Trung Quốc biến nguồn nước thành vũ khí, gây thêm hạn hán ở châu Á - China is weaponizing water and worsening droughts in Asia”, công bố ngày 28/10/2019 vừa qua trên tờ báo Nhật Bản Nikkei Asian Review, giáo sư Ấn Độ Brahma Chellaney đã vạch trần thủ đoạn của Trung Quốc, lợi dụng vị trí đầu nguồn các con sông chảy qua các nước khác, ồ ạt xây đập để biến nguồn nước thành công cụ gây sức ép chính trị, với hệ quả là làm cho nạn hạn hán ở châu Á thêm nghiêm trọng.

Bài phân tích trước hết nêu bật sự kiện châu Á, lục địa khô hạn nhất thế giới tính theo đầu người, hiện là trung tâm xây đập của thế giới, tập hợp hơn một nửa trên tổng số 50.000 con đập lớn của hành tinh. Hoạt động quá mức của các con đập đã làm gay gắt thêm tranh chấp khu vực và quốc tế về nguồn lợi đến từ các con sông chung của nhiều nước.
Thế thượng phong tự nhiên của Trung Quốc

Theo chuyên gia Chellaney, Trung Quốc nằm ở trung tâm bản đồ về nguồn nước của châu Á. Nhờ chiếm được vùng cao nguyên Tây Tạng giàu nguồn nước và vùng Tân Cương rộng lớn, Trung Quốc trở thành thượng nguồn các con sông chảy xuống 18 quốc gia vùng hạ lưu. Không một nước nào trên thế giới là đầu nguồn nước của nhiều quốc gia như thế.
Khi xây dựng đập, hay những cấu trúc khác làm thay đổi dòng nước ở vùng biên giới, Trung Quốc thiết lập như thế những cấu trúc lớn ở thượng nguồn, trang bị cho mình khả năng sử dụng nước như vũ khí.

Ví dụ rõ nhất được tác giả nêu lên là sông Mêkông. Mùa hè vừa qua, mực nước của dòng sông có giá trị sống còn cho vùng Đông Nam Á này, dài 4.880 cây số, đã xuống mức thấp nhất từ hơn 100 năm qua, cho dù mùa mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng cuối tháng 9. Sau khi hoàn tất 11 con đập khổng lồ, Trung Quốc lại xây thêm một loạt đập nữa ở thượng nguồn dòng sông. Bắc Kinh cũng xây đập trên những con sông xuyên quốc gia khác.

Rủi ro đến từ các con đập
Giáo sư Chellaney nhìn thấy việc xây dựng đập thủy điện cũng khuấy động quan hệ ở nơi khác ở châu Á.

Tranh chấp ở Kashmir vùng Nam Á, hay ở Ferghana Valley, khu vực Trung Á, liên quan đến vấn đề nguồn nước cũng như lãnh thổ. Tại nhiều nơi ở châu Á các quốc gia đều tìm cách kiểm soát tài nguyên của những con sông chung bằng cách xây dựng đập, cho dù vẫn đòi hỏi sự minh bạch và thông tin về các đề án của các láng giềng.

Hạn hán nghiêm trọng đã xẩy ra ở nhiều vùng rộng lớn, từ Úc cho đến bán đảo Ấn Độ. Tình trạng này đã phơi bày các rủi ro trong việc tập trung vào giải pháp đập, làm tăng thêm nguy có thiếu hụt nước sử dụng.

Những vùng đông dân cư ở châu Á đã đứng trước nguy cơ thiếu nước trầm trọng có thể dẫn đến tình trạng khan hiếm nước. Việc tranh nhau xây đập cũng gây ra thêm căng thẳng có thể đi đến xung đột.

Ở phương Tây, các công trình xây đập khổng lồ không còn được tiến hành nữa. Tại các quốc gia dân chủ lớn ở châu Á, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, việc xây đập lớn cũng giảm đi do các phong trào phản đối của người dân. Tại các nước độc đoán thì khác

Chính việc xây đập ở các nước không dân chủ đã biến châu Á thành tụ điểm của việc xây đập. Và Trung Quốc đứng đầu thế giới trong lãnh vực này ở trong nước cũng như ngoài nước.
Bắc Kinh luôn luôn bị tham vọng xây đập ngày càng lớn, càng sâu, càng dài, càng cao hơn ám ảnh. Và như vậy, Trung Quốc đã hoàn tất đập lớn nhất thế giới Tam Hiệp, công trình được khoe là kiến trúc vĩ đại nhất trong lịch sử từ sau Vạn Lý Trường Thành…

Trong kế hoạch xây dựng đập mới, có công trình trên con sông cao nhất thế giới, Brahmaputra. Đập dự kiến nằm gần biên giới tranh chấp với Ấn Độ được canh phòng cẩn mật. Công xuất điện sản xuất gần gấp đôi của đạp Tam Hiệp, mà bồn chứa dài hơn là hồ lớn nhất của Great Lakes, Bắc Mỹ.

Một số quốc gia Đông Nam Á cũng có đề án xây đập, do công ty Trung Quốc tài trợ và xây dựng, như ở Lào và Miến Điện, để xuất khẩu điện sang Trung Quốc.
Bài viết ghi nhận là Trung Quốc cũng không mấy tỏ ra áy náy trong việc xây đập tại những nơi tranh chấp, như ở vùng Kashmir ở Pakistan, hay vùng sắc tộc thiểu số miền bắc Miến Điện.
Từ khi Trung Quốc xây một loạt đập to lớn trên sông Mêkông, hạn hán trở nên thường xuyên hơn ở các nước hạ lưu. Và điều đó đã khuấy động quan hệ với các nước khác, vì Bắc Kinh không chấp nhận nguyên nhân đến từ đập của mình.

Giải pháp cứu vãn tình hình ?
Trong thực tế, Trung Quốc đã tìm cách đóng vai kẻ cứu tinh, hứa sẽ xả thêm nước từ các con đập xuống cho các quốc gia bị hạn hán. Nhưng đề nghị này chỉ nêu bật tình trạng phụ thuộc hoàn toàn mới của các nước hạ nguồn vào thiện chí của Trung Quốc - một sự phụ thuộc được đặt ra ngày càng sâu sắc khi Trung Quốc xây dựng thêm những con đập khổng lồ trên sông Mêkông.

Với những tai họa về nước ngày càng tồi tệ trên khắp châu Á, lục địa này phải đối mặt với sự lựa chọn rõ ràng - đi theo con đường hiện tại, điều này chỉ có thể dẫn đến suy thoái môi trường nhiều hơn và thậm chí là chiến tranh nước, hoặc thay đổi cơ bản bằng cách bắt đầu con đường hợp tác dựa trên quy tắc.

Con đường thứ hai không chỉ đòi hỏi sự chia sẻ nước và lưu lượng dữ liệu thủy văn miễn phí mà còn đòi hỏi quản lý hiệu quả hơn việc tiêu thụ nước, tăng sử dụng nước tái chế và khử muối, và các nỗ lực bảo tồn và thích ứng.

Không thể làm được điều này nếu không có sự hợp tác của Trung Quốc, cho đến nay vẫn từ chối tham gia vào các thỏa thuận chia sẻ nguồn nước với bất kỳ nước láng giềng nào.
Nếu Trung Quốc không từ bỏ cách tiếp cận hiện tại, triển vọng cho một trật tự dựa trên quy tắc ở châu Á có thể bị xóa bỏ vĩnh viễn. Do đó, theo ông Chellaney, việc kéo được Trung Quốc vào cuộc đã trở nên thiết yếu trong việc quản lý nguồn nước vì hòa bình ở châu Á.

Source:

.

10 năm chờ đợi làm Chủ tịch ASEAN: Việt Nam sẽ thúc đẩy vấn đề Biển Đông và sông Mekong?



10/11/2019
Võ Văn Quản

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp nhận chức Chủ tịch ASEAN cho Việt Nam, 
ngày 4/11/2019 tại Bangkok. Ảnh: TTXVN.


Khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp nhận chiếc búa Chủ tịch ASEAN từ Thủ tướng Thái Lan ngày 4/11 tại Bangkok, ông mang về cơ hội 10 năm có một cho Việt Nam trong việc xác lập nghị trình của tổ chức liên chính phủ này. 

Chủ tịch ASEAN là ai?

Chức danh Chủ tịch ASEAN (ASEAN Chairmanship) có căn cứ pháp lý quốc dựa trên Hiến chương ASEAN (ASEAN Charter), tại Điều 31 và 32. Theo đó, vị trí Chủ tịch ASEAN sẽ được luân phiên giữa các thành viên, theo thứ tự ABC của tên quốc gia và có nhiệm kỳ một năm. Với 10 thành viên, điều này đồng nghĩa với việc phải đến cả thập niên thì một quốc gia thành viên mới có cơ hội ngồi vào chiếc ghế nóng này. 
Song ghế nóng thế nào cũng vô giá trị nếu chủ nhân của nó không có thực quyền. Vậy Chủ tịch ASEAN có những quyền hành như thế nào? 

Về tổ chức, quốc gia giữ ghế Chủ tịch ASEAN sẽ đồng thời có quyền chủ trì (a) Hội nghị Cấp cao ASEAN và các Hội nghị cấp cao liên quan; (b) Các cuộc họp của Hội đồng Điều phối ASEAN; (c) Ba Hội đồng Cộng đồng ASEAN; (d) Các cuộc họp của Cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trưởng và quan chức cao cấp; và (e) Ủy ban các Đại diện thường trực ASEAN. Như vậy, ghế chủ tịch sẽ giúp quốc gia thành viên có tiếng nói khá quan trọng, thực hiện hoạt động điều phối nhiều chế định khác nhau, từ đó có thể có những ảnh hưởng nhất định đến cương lĩnh và định hướng phát triển của toàn ASEAN.   

Về chính sách, ngoại trừ những quy định chung chung như “tích cực thúc đẩy và đề cao lợi ích cũng như quyền lợi của ASEAN” hay “đảm bảo vai trò trung tâm của ASEAN”, vị trí Chủ tịch sẽ là bên đưa ra các nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN thông qua các sáng kiến về chính sách, điều phối, đồng thuận và hợp tác. Đặc biệt hơn, vị trí chủ tịch cũng sẽ có thẩm quyền đưa ra những đề xuất nhằm “ứng phó một cách hiệu quả và kịp thời các vấn đề cấp bách hoặc các tình huống khủng hoảng tác động đến ASEAN”.

Hiển nhiên, những quyền lợi nói trên không đồng nghĩa với việc Chủ tịch ASEAN có quyền hô mưa gọi gió. ASEAN vẫn vận hành chủ yếu dựa trên nguyên tắc “đồng thuận”, tức chỉ ra nghị quyết hoặc thống nhất một cương lĩnh hành động chung nếu 100% thành viên đều tán thành. Song dù sao, việc có khả năng xây dựng chương trình nghị sự, đưa ra các sáng kiến lập pháp, đề xuất vấn đề trọng tâm để ASEAN phải cùng xem xét, giải quyết chắc chắn mang lại cho quốc gia nắm ghế chủ tịch những lợi thế nhất định. 

Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN, tháng 6/2019, do Thái Lan chủ trì. 
Ảnh: Al Jazeera.

Ảnh hưởng thực tế và cơ hội nào cho Việt Nam
Thực tế cũng cho thấy các quốc gia ASEAN thường rất xem trọng vị trí Chủ tịch ASEAN, trừ khi họ bị quá phân tâm vào các vấn đề quốc nội. 

Đối với trường hợp của Thái Lan, nước giữ quyền Chủ tịch ASEAN trong năm 2019, nhiều nhà phân tích đã dự báo từ trước đó rằng nước này sẽ gặp rất nhiều khó khăn để tận dụng vị thế Chủ tịch ASEAN khi mà người dân và các chính khách, quan chức Thái Lan gần như dành toàn lực chú ý vào các vấn đề trong nước. 

Thật vậy, hơn nửa đầu năm 2019, không có nghị trình đặc biệt hay sáng kiến lập pháp, sáng kiến chính sách nào được Thái Lan đưa ra để giải quyết các vấn đề cấp thiết mà khối ASEAN đang hoặc sẽ phải đối mặt. Trong năm 2019, gần như toàn nguồn lực của chính phủ và người dân Thái Lan tập trung vào cuộc bầu cử đầu tiên tại nước này kể từ sau cuộc đảo chánh năm 2014. Kế đó, chính trị Thái Lan lại tiếp tục ầm ĩ với sự lên ngôi của quốc vương Maha Vajiralongkorn, vị vua mới của người dân Thái sau hơn bảy thập kỷ trị vì của vua Bhumibol Adulyadej. 

Tuy nhiên, Thái Lan cũng có sáng kiến chính sách chung ASEAN được đánh giá cao trong nửa cuối nhiệm kỳ, nhằm thể hiện và khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN trong tương lai của châu Á là việc xây dựng và định hướng cho Tuyên bố chung của ASEAN về vùng “Indo-Pacific” (ASEAN Outlook on the Indo-Pacific). Bằng cách bao gồm cả vùng Ấn Độ Dương và các quốc gia Thái Bình Dương, Thái Lan – cũng như các quốc gia thành viên ASEAN – khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN cũng như sự liên thông, nối liền của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. 

Đặc biệt hơn, Thái Lan cũng thành công trong việc đưa vào tuyên bố vấn đề tự do hàng hải, chủ quyền biển và yêu cầu các bên phải tôn trọng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982. Nhờ vào việc xác định khu vực biển Đông Nam Á là vùng đệm liên lục địa Ấn – Á, văn bản này lôi kéo cả vai trò của Ấn Độ – một cường quốc khác luôn kèn cựa với sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Châu Á, và Nhật Bản – một cựu đế quốc vẫn còn duy trì được vai trò nhất định của mình ở châu Á. 

Thực tế cho thấy, Ấn Độ và Nhật Bản rất chào đón thuật ngữ “Indo-Pacific” và khả năng hợp tác chiến lược mới của họ tại Đông Nam Á, trong khi Trung Quốc thì phản đối ý tưởng, cho rằng đây là một chiến thuật cũ của Hoa Kỳ để đa phương hóa các vấn đề chính trị tại vùng biển Đông Nam Á, mà đặc biệt là Biển Đông của Việt Nam. 

Làm Chủ tịch ASEAN, Việt Nam có cơ hội thúc đẩy quan hệ giữa Hoa Kỳ và khu vực? 
Ảnh: ussc.edu.au.

Biển Đông và vấn đề sông Mekong

Như vậy, có thể thừa nhận một điều rằng vai trò Chủ tịch ASEAN không chỉ là hư danh, đặc biệt khi chúng ta nhớ đến cách mà Campuchia ngăn cản khối đưa ra tuyên bố chung về các hành vi của Trung Quốc tại Biển Đông hồi năm 2012, khi họ nắm ghế chủ tịch. 
Về vấn đề Biển Đông, người viết cho rằng việc vận dụng khôn khéo nền tảng “Indo – Pacific” mà Thái Lan để lại sẽ giúp ích rất nhiều cho việc đa dạng hoá các lựa chọn chính sách của Việt Nam tại Biển Đông, tranh thủ sự ủng hộ của nhiều cường quốc dành cho cả khối ASEAN và từ đó thống nhất được tiếng nói chung của nhóm về Biển Đông một cách gián tiếp, nhưng có chiến lược.

Thêm vào đó, chúng ta cũng hoàn toàn có khả năng đưa vấn đề sông Mekong vào nhiều nghị trình khác nhau trong các chương trình của ASEAN. Trong đó, cần đặc biệt nâng vấn đề Mekong trở thành vấn đề cấp bách chung của cả khối về an ninh lương thực, an ninh di cư, an ninh môi trường cũng như an ninh năng lượng; từ đó vận động và tìm kiếm một tuyên bố chung của ASEAN về Mekong. 

Với hầu hết các quốc gia đang thụ hưởng lợi ích từ dòng Mekong là thành viên của ASEAN, việc kết hợp tiếng nói chung của cả khối sẽ giúp Việt Nam có cơ hội tốt hơn để đàm phán, đối thoại với Lào về các chương trình thủy điện của họ, cũng như đoàn kết một khối để gây sức ép lên Trung Quốc đang chiếm giữ thượng nguồn Mekong. 
Nếu Việt Nam thật sự hoàn thành được những mục tiêu trên trong chỉ một năm làm Chủ tịch ASEAN, đây quả thật sẽ là một nhiệm kỳ rực rỡ về mặt ngoại giao, bõ công 10 năm chờ đợi. 


SOURCE:

Sam Geall - Những vấn đề trên dòng sông Mekong -Thanh Hà

Những vấn đề trên dòng sông Mekong

Ngày 29 tháng 8, Lào công bố một con đập mới ở phía Bắc đất nước. Đập Sayaburi có công xuất 1,3 gigawatt nằm trên dòng sông Mekong chảy theo chiều dài đất nước. Trong nỗ lực trở thành “bình ắc-quy của Đông Nam Á”, Lào có kế hoạch xây dựng gần 100 con đập giống như vậy vào năm 2020, có khả năng xuất khẩu 2/3 năng lượng tạo ra từ thủy điện. Nhiều con đập được Trung Quốc tài trợ và hỗ trợ trực tiếp. Nhưng các con đập đe dọa sẽ làm nghẹt một dòng sông vốn đã bị tắc nghẽn từ trước. Khi đập Sayaburi bắt đầu hoạt động, mực nước sông Mekong đã giảm xuống 1,5 m, mức thấp nhất trong một thế kỷ. Các báo cáo từ nước láng giềng Thái Lan cho biết các bãi cát nhô ra đường thủy và các con kênh bị cạn nước.

Sông Mekong là một động mạch trọng yếu ở Đông Nam Á. Các hoạt động gây ảnh hưởng đến dòng nước tác động đến toàn khu vực và các con đập ở Lào chỉ là một trong những yếu tố hiện đang gây áp lực lên hệ sinh thái của dòng sông. Sông Mekong chảy qua 6 quốc gia, từ cao nguyên Tây Tạng đến Biển Đông và đây là ngành thủy sản nội địa có năng suất cao nhất thế giới, trị giá 17 tỷ USD mỗi năm. Khoảng 60 triệu người sống trong lưu vực sông Mekong, và 80% trong số họ phụ thuộc vào dòng sông để kiếm thực phẩm và sinh kế.

Khí hậu biến đổi trở thành mối đe dọa lớn và ngày càng tăng đối với cuộc sống và sinh kế trên sông. Theo một số nghiên cứu, 2/3 băng hà trên dãy núi Himalaya cung cấp nước cho sông Mekong có thể biến mất vào cuối thế kỷ. Các nhà khoa học đã cảnh báo rằng đường chuyển dịch của lốc xoáy nhiệt đới đang thay đổi lưu vực sông Mekong không thể đảo ngược: với các hình thái mưa bị xáo trộn, khu vực này dễ bị hạn hán hơn. Các hình thái khí hậu biến đổi làm trầm trọng thêm các vấn đề khác trên sông, như mất trầm tích, tăng độ mặn và sói mòn bờ sông.

Phát triển mạnh cơ sở hạ tầng trên sông Mekong sẽ khiến ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu tệ hại hơn. Nhưng Trung Quốc có nhiều dự án như vậy trong đầu. Trong biên giới của chính mình, Trung Quốc đã xây dựng ít nhất 10 con đập lớn trên thân chính của dòng sông. Những con đập này bắt đầu ảnh hưởng tiêu cực đến ngư nghiệp, bờ sông và trang trại ở hạ lưu. Giờ đây, Bắc Kinh đang góp phần thúc đẩy việc xây dựng các con đập ở Lào và Campuchia, biến sông Mekong thành đấu trường lớn để phô trương các lợi ích của Trung Quốc ở Đông Nam Á.

Các cộng đồng phụ thuộc vào dòng sông Mekong thấy mình ở cạnh những sức mạnh dường như không thể hiểu được: hậu quả của biến đổi khí hậu, tham vọng địa chính trị của Trung Quốc và sự thờ ơ của chính phủ của họ. Mặc dù cơ hội rất thấp, nhiều rủi hơn may, cư dân ở lưu vực sông Mekong đang khai triển các cách để bảo vệ sinh kế của họ và canh giữ dòng sông khỏi bị hủy hoại.

Trung Quốc dòm ngó sông Mekong

Từ năm 1995, Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam đã hợp tác quản lý dòng sông và các nguồn tài nguyên của nó, thông qua một tổ chức liên chính phủ có tên là Ủy ban sông Mekong (Mekong River Commission – MRC). Ít nhất trong khả năng hùng biện, các quốc gia thành viên MRC đã chấp thuận nguyên tắc quản lý sông Mekong vỉ lợi ích tốt nhất của khu vực và tính bền vững sinh thái của nó. Năm 2010, MRC đã đề nghị một lệnh cấm 10 năm đối với các đập thủy điện lớn trên sông.

Nhưng MRC không có quyền ép buộc thực thi các khuyến nghị của riêng mình. Lào, quốc gia nghèo hơn các quốc gia láng giềng, đã tìm cách phát triển với kế hoạch thu hút đầu tư, chủ yếu từ Trung Quốc. Xây dựng đập là một phần của việc phát triển thủy điện với quy mô lớn do Trung Quốc hậu thuẫn.

Năm 2015, Trung Quốc thành lập một tổ chức đối thủ với MRC và đã làm lu mờ nó một cách rất hiệu quả. Khung hợp tác Langcang-Mekong (Langcang-Mekong Cooperation Frameworl – LMC), được bộ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị mô tả một cách thích đáng, không phải như “một cửa hàng nói chuyện mà là cái xe ủi đất”, có nhiệm vụ vượt ra khỏi dòng sông. Nó phù hợp với dự án cơ sở hạ tầng toàn cầu đầy tham vọng của Trung Quốc, được gọi là Sáng kiến Vành đai và Con đường. Đầu tư của Bắc Kinh vào khu vực này phản ảnh thêm mong muốn tạo ra các tuyến vận chuyển mới, nhằm giảm sự phụ thuộc của Trung Quốc vào một điểm hàng hải duy nhất trong việc nhập khẩu phần lớn dầu hỏa của họ: eo biển Malacca - dưới sự tuần tra và kiểm soát của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ.

Là chủ nợ, Trung Quốc kiểm soát đáng kể nền chính trị và kinh tế các quốc gia trên sông Mekong

Là nhà đầu tư đồng thời là chủ nợ, Trung Quốc kiểm soát đáng kể nền chính trị và kinh tế các quốc gia trên sông Mekong. Các tổ chức quốc tế cảnh báo rằng Lào có nguy cơ cao về tình trạng nợ nần nhờ vay Trung Quốc, với tỷ lệ nợ công dự báo sẽ lên tới 70% GDP. Mỗi năm, hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo LMC đưa ra các chi tiêu đáng kể. Trung Quốc hứa cho vay và trợ cấp 12 tỷ USD trong năm 2018. Dự án ký kết bao gồm một tuyến đường sắt cao tốc Trung Quốc – Lào, sẽ kết nối Côn Minh ở phía tây nam tỉnh Vân Nam Trung Quốc đến Singapore. Trung Quốc cũng hỗ trợ xây dựng các đặc khu kinh tế, chẳng hạn như Sihanoukville ở Campuchia và Savan-Seno ở Lào mà nhiều người địa phương khinh bỉ coi là những khu vực sa đọa của Trung Quốc.

Các quốc gia dọc theo con sông tìm đến các đối thủ và các cường quốc trong khu vực như một hàng rào chống lại ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc. Những quốc gia khác như Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan, Úc và Hoa Kỳ đã đưa ra ít nhất 13 sáng kiến có tính cạnh tranh ở lưu vực sông Mekong. Mục đích là để hỗ trợ hội nhập kinh tế khu vực và thiết lập dần dần các dự án có tiêu chuẩn quốc tế cao hơn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhưng cho đến nay, họ chưa là gì cả so với quy mô và tiến độ mở rộng của Trung Quốc trên sông Mekong.

Tự lực cánh sinh

Những người sống ở lưu vực sông Mekong đã phải gánh chịu một trong những đợt hạn hán tồi tệ nhất trong một thế kỷ. Với những con đập lớn xuất hiện trong năm tới, những cộng đồng này có thể sẽ phải đối mặt với những khó khăn hơn nữa: mực nước sẽ dâng cao thất thường, lũ lụt bất ngờ và hệ sinh thái sông sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng. Đối với những cư dân bảo vệ môi trường, họ có nguy cơ phải đối mặt với sự thù địch của chính phủ.

Các quốc gia Đông Nam Á có lịch sử thù hằn và hình sự hóa hoạt động môi trường. Năm ngoái, một đoạn của đập Xe Pian Xe Namnoy còn đang xây dựng ở Lào sụp đổ, gây lũ lụt nghiêm trọng ở một số ngôi làng khiến nhiều người mất mạng. Chính phủ Lào đã phản ứng bằng cách trấn áp các phóng viên. Cùng năm đó, tại Việt Nam, một sự cố tràn hóa chất đã giết chết số lượng cá khổng lồ khiến ngư dân phản đối. Một tòa án Việt Nam đã kết án blogger Hoàng Đức Bình 14 năm tù vì phát trực tiếp hành động của họ. Năm 2018, ở phía đông bắc Campuchia, quân đội đã giết chết 3 người “bảo vệ rừng” - một công nhân bảo tồn rừng, một nhân viên bảo vệ rừng và một sĩ quan quân cảnh - để trả đũa việc bắt giữ các thiết bị của những người khai thác gỗ bất hợp pháp, buôn lậu gỗ vào Việt Nam, cấu kết với lực lượng an ninh.

Mùa Thu năm ngoái, trên bờ sông Mekong ở miền bắc Thái Lan, một nhà hoạt động nói với tôi rằng cô không còn hy vọng dòng sông sẽ được cứu. Cô và cư dân đã nhìn thấy những khúc sông bị hư hại không thể khắc phục do nổ mìn và nạo vét để vận chuyển thương mại; dân làng đã chứng kiến nước cuốn trôi những khu vườn trồng cây ăn trái theo mùa bên sông của họ khi Trung Quốc xả đập bất ngờ. Thay vào đó, cuộc đấu tranh của cô trở thành cuộc chiến cho nhân phẩm:” Để nói với cháu tôi rằng tôi đã đấu tranh vì tương lai của chúng”.

Năng lượng tuyệt vời

Trên bờ sông Mekong gần Chiang Khong ở miền bắc Thái Lan, tôi đã ghé thăm một địa điểm được dự định xây dựng đặc khu kinh tế - nay đã hủy bỏ vì bị địa phương phản đối kịch liệt. Nếu được xây dựng, sự phát triển sẽ phá hủy một vùng đất ngập nước vẫn được sử dụng làm nguồn cá, cây tre và các tài nguyên thiên nhiên khác. Người dân nói rằng chính phủ Thái Lan và các nhà hoạch định phát triển đã không tham khảo ý kiến cộng đồng cũng như không tiến hành đánh giá môi trường trước khi thiết lập khu vực và chào đón các nhà đầu tư tiềm năng Trung Quốc.

Một tương lai tốt hơn cho lưu vực sông Mekong có thể nằm ở các nguồn năng lượng khác ngoài thủy điện.

Ví dụ, ở Thái Lan, block-chain-enable real-time peer-to-peer (chương trình giao dịch ngang hàng thời gian thực kích hoạt theo chuỗi khối) đã chứng minh tiềm năng cho các nhà sản xuất năng lượng mặt trời, giúp trao đổi năng lượng dư thừa trên lưới điện, giảm chi phí năng lượng và tối đa hóa việc sử dụng năng lượng tái tạo.

Tại Myanmar, các lưới quang điện mặt trời siêu nhỏ đang giúp tiếp cận năng lượng sạch và cơ hội kinh tế cho người nghèo.

Những sáng kiến lén lút (under-the-radar) như vậy - được một liên minh gồm các diễn viên cứng đầu lãnh đạo, từ các nhà hoạt động ven sông phản đối những con đập lớn đến các cơ quan phát triển và các doanh nghiệp tư nhân – đưa ra nhiều phương án thay thế cho các dự án điện tập trung lớn. Các hệ thống năng lượng hiện đại trong khu vực có thể khử carbon và phi tập trung.

Sam Geall
 Hoàng Thủy Ngữ chuyển ngữ

Nguồn: Troubles on the Mekong, by: Sam Geall, Foreign Affairs

(Dân Luận)

ASEAN CÓ THỂ NGĂN NGỪA “CHIẾN TRANH NƯỚC” MEKONG NHƯ THẾ NÀO



(How Asean can avoid Mekong 'water war')

Anchalee Kongrut – Bình Yên Đông lược dịch
Bangkok Post – 31 October 2019

Đập thủy điện Xayaburi ở Lào [Ảnh: Chiang Rai Times]


Đập Xayaburi, đập đầu tiên trên dòng chánh ở hạ lưu sông Mekong, đã bắt đầu hoạt động đúng vào thời điểm đáng chú ý – chỉ vài ngày trước khi Thái Lan đăng cai Thượng đỉnh ASEAN (Association of Southeast Asian Nations (Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á)) thứ 35th trong tuần nầy.

Đáng chú ý vì con đập, được xây trong lãnh thổ Lào – cùng với 10 đập tiếp theo trên sông Mekong – được ca tụng như là một đỉnh cao của đối tác và hợp tác kinh tế giữa các quốc gia ASEAN.  Nó được tài trợ bởi một nhà đầu tư Thái và trên 90% số điện sản xuất sẽ được bán cho Cơ quan Phát Điện Thái Lan (Electricity Generating Authority of Thailand (EGAT)).

Hôm Thứ Ba, đập được khánh thành với sự phô trương rầm rộ của giới truyền thông – kể cả các mẫu quảng cáo to lớn trên báo chí khoe khoang thiện ý và cam kết của người điều hành để làm cho Xayaburi là một đập thủy điện khả chấp.  Cùng ngày, một nhóm dân địa phương và nhà hoạt động môi trường tụ tập ở Chiang Rai để phản đối công trình mà họ cáo buộc làm khô cạn sông Mekong.

Cái nghịch lý đó nhắc lại chủ đề của Thượng đỉnh ASEAN năm nay – “Tiến đến Đối tác cho tính Khả chấp”.  Đối với giới đầu tư và ủng hộ đập, Xayaburi tiêu biểu cho “tiến đến đối tác” giữa các thành viên ASEAN.  Nhưng liệu nó sẽ đưa đến “tính khả chấp” vẫn còn là một câu hỏi lớn.

Lo ngại hơn là việc thảo luận về đập trên Mekong đã không được ghi vào nghị trình của thượng đỉnh ASEAN lần nầy và lần trước.

Xayaburi chỉ là ngọn của tảng băng.  Trung Hoa đã xây 11 đập thủy điện trên thượng lưu và dự trù thêm 17 đập trong những năm sắp tới.  Ở hạ lưu Mekong, Xayaburi là đập đầu tiên trong số 11 đập được dự trù.  Hầu hết sẽ được xây ở Lào, tự xem mình là “bình điện của Á Châu”.

Nhà đầu tư tìm cách biện hộ cho sự cần thiết của Xayaburi, và đã chi một số tiền cho việc bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng địa phương để giảm bớt ảnh hưởng của đập.  Tuy thế, không thể chối cãi rằng việc xây đập liên tục sẽ thay đổi sinh thái của toàn lưu vực.

Hãy tưởng tượng khối lượng nước to lớn được chuyển để phục vụ cho 39 đập khổng lồ!  Điều nầy đưa đến một sự cạnh tranh trong vùng – một “cuộc chiến” – về nguồn nước, cùng với ảnh hưởng sinh thái trên qui mô chưa từng thấy ở ASEAN.

Tuy nhiên, những lo ngại nầy không phải là thảm họa mà là thách thức nghiêm trọng đối với mục tiêu “tính khả chấp” được thảo luận trong các phiên họp của ASEAN.  Tại Thượng đỉnh ASEAN thứ 35th, tất cả các dự án môi trường và khả chấp sẽ được chuẩn thuận thuộc loại “cảm thấy tốt”, như các kế hoạch cho thành phố thông minh và quản lý rác biển.  Không có nguy cơ cho việc đầu tư.

Có thể không công bằng khi nói rằng ASEAN bỏ quên phân vùng Mekong, hầu hết phần lục địa của khu vực, vì nó đã phát động Hợp tác Phát triển Lưu vực sông Mekong của ASEAN (ASEAN Mekong River Basin Development Cooperation (AMBDC)) vào năm 1996.  Tuy nhiên, sự hợp tác phân vùng nầy không có mấy tiến triển thật sự.

Hiện nay, có hàng chục dự án trong phân vùng Mekong đang được giám sát bởi AMBDC và các tổ chức khu vực khác, kể cả Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) và Hợp tác Langcang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC)), một sáng kiến của Trung Hoa thành lập vào năm 2015.  Các dự án khác được giám sát ở mức phân vùng và quốc tế, bao gồm các đối tác quan trọng ở Âu Châu, Hoa Kỳ, Nam Hàn và Nhật Bản.

Tuy nhiên, khu vực cần có ngay một cơ chế có thể đưa các quốc gia duyên hà đến các mục tiêu phát triển khả chấp.

MRC đã có nỗ lực trong chiều hướng nầy nhưng bị trở ngại vì thiếu quyền hạn trong việc thi hành luật lệ và mặc cả chánh trị.  ASEAN có thể vượt qua những thiếu sót nầy nếu nó lãnh đạo và cộng tác với các tổ chức để hình thành một khuôn khổ hợp tác chân thật trong các quyết định về Mekong.

Một thí dụ tiêu biểu là Sáng kiến Lưu vực Nile (Nile Basin Initiative (NBI)) ở Phi Châu, thành lập vào năm 1999 bởi 10 quốc gia duyên hà.  Lưu vực sông Nile – nơi cư trú của 300 triệu người trong 10 quốc gia – có nhiều vấn đề từ quyền sử dụng nước, phẩm chất nước kém, ảnh hưởng của thay đổi khí hậu và dự án xây đập của các quốc gia ở thượng lưu.  NBI bắt đầu rất nhỏ, một nơi để chia sẻ dữ kiện khoa học, nhưng đã lớn mạnh để trở thành một cơ chế hợp tác vượt trội trong lưu vực.  Đương nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm để hoàn thành mục tiêu tất cả các quốc gia duyên hà cùng nhau làm việc quên mình.  Nhưng những tiến triển cho đến nay cũng đủ để làm mô hình cho sự hợp tác duyên hà.

Nếu ASEAN có trách nhiệm về sự hợp tác sông Mekong, các chánh sách của NBI là một đường lối.  Chia sẻ nguồn nước sông Nile không chỉ là nhiệm vụ của các chánh phủ và nhà đầu tư; NBI bao gồm những người có liên quan trong xã hội như nông dân, ngư dân, NGOs (non-governmental organizations (các tổ chức phi chánh phủ)) và dân làng trong tiến trình đối thoại.  Nó cũng bao gồm các diễn viên toàn cầu như Ngân hàng Thế giới và các cơ quan viện trợ quốc tế.  Những cơ quan nầy giúp xây dựng năng lực khoa học và theo dõi để việc chia sẻ nguồn nước được toàn bộ và minh bạch hơn, thay vì để chúng nằm trong tay của chánh phủ và doanh nhân như đã xảy ra ở Mekong.

.

SEOUL CÓ THỂ GIÚP ĐIỀU HÒA DÒNG CHẢY MEKONG



(Seoul can help to regulate Mekong's flow)

Thana Boonlert – Bình Yên Đông lược dịch
Bangkok Post – October 29, 2019

Để mắt đến an ninh: Một nhân viên quan sát khu vực bên trong Trung tâm Hội nghị và Triển lãm ở Nonthaburi trong lúc chánh quyền chuẩn bị cho Thượng đỉnh ASEAN thứ 35th trong 3 ngày bắt đầu vào Thứ Bảy nầy.


Các quốc gia ASEAN (Association of Southeast Asia Nations (Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á)) được thúc giục học hỏi kinh nghiệm quản trị sông ngòi của Nam Hàn.

Vào năm 2017, Tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in (Văn Tại Dần) công bố “Chánh sách phía Nam Mới (New Southern Policy)” nhằm mục đích tăng cường quan hệ với Đông Nam Á (ĐNA) đến mức mà 4 thế lực quan trọng khác – Hoa Kỳ, Trung Hoa, Nhật Bản và Nga – đã làm.

Trong nhiệm kỳ, ông đã thăm viếng tất cả 10 quốc gia thành viên ASEAN, và tháng rồi, đã du hành 1 tuần lễ qua các nước Thái Lan, Myanmar và Lào.

Chuyến đi đã thực hiện lời hứa lúc tranh cử để liên kết với khối trước Thượng đỉnh Kỷ niệm ASEAN-ROK (Republic of Korea) lần thứ 3rd, sẽ được tổ chức ở Busan vào ngày 25-26 tháng 11 để đánh dấu 30 năm quốc gia nầy đối thoại và đối tác với ASEAN, và tiếp theo đó là lễ khai mạc Thượng đỉnh Mekong-ROK.

Ở Vientiane, ông Moon nói ông hy vọng rằng Nam Hàn (ROK) sẽ thịnh vượng cùng với các quốc gia dọc theo sông Mekong, và mong thấy “Sự Kỳ diệu trên sông Mekong” giống như “Sự Kỳ diệu trên sông Hàn” đã xảy ra ở Nam Hàn.

Trong khi Bangkok chuẩn bị đăng cai Thượng đỉnh ASEAN thứ 35th và các Thượng đỉnh Liên hệ, các chuyên viên đang khuyến khích Thái Lan, đương kim chủ tịch của ASEAN, cùng với các quốc gia dọc theo sông Mekong, nên yêu cầu Nam Hàn trợ giúp trong việc hình thành một mô hình quản trị nguồn nước khả chấp cho khu vực Mekong.

Sử dụng bừa bãi

Tô Minh Thư, phó giám đốc Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao của Viện Ngoại gia Việt Nam, nói rẳng sông Mekong đang ở bên bờ của một thảm họa môi trường – dẫn chứng bằng sự khô cạn của hồ và ruộng lúa ở Suphan Buri, Bang Pla Ma.

Cô nói, “Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) báo cáo mực nước trên sông Mekong đã xuống đến mức thấp nhất.”  Cô cũng nói rằng mực nước xuống thấp là do hạn hán vì thay đổi thời tiết và việc xây đập ở thượng nguồn.

Toán tháo gở chất nổ đi tuần để bảo vệ Trung tâm Hội nghị và Triển lãm ở Muang Thong Thani, Nonthaburi, nơi diễn ra Thượng đỉnh ASEAN thứ 35th vào ngày 2-4 tháng 11 
[Ảnh: Patipat Janthong]

Cô Tô nói: “Một số lớn dự án đập ở thượng lưu đã đưa đến tình trạng thiếu nước trên khắp hạ lưu vực Mekong.”  Hiện nay, có 19 đập – đã hoàn tất, đang xây, và/hay được dự trù - ở thượng lưu sông Mekong.  Sáu đập ở Trung Hoa đã hoạt động, trong khi Lào sẽ có 9 và Cambodia 12.  “Những đập nầy [ở thượng lưu Mekong] được thiết kế để trữ một khối lượng nước khổng lồ, điều đó giải thích tại sao mực nước xuống thấp ở hạ lưu.”

Cô Tô nói rằng qui mô của đập được dự trù trên sông Mekong – được xem là mạch sống của bán đảo Đông Dương – đe dọa môi trường và xã hội của nhiều cộng đồng dọc theo sông.  “Hàng triệu người phải tái định cư và/hay buộc phải bỏ đất của họ để xây đập.  Nông và ngư dân cùng chịu đau khổ vì mô hình quản trị nguồn nước yếu kém nầy.”

Cô cũng nói rằng các quốc gia Mekong đã thiết lập nhiều cơ chế hợp tác, nhưng chúng vẫn còn nhiều hạn chế - bắt nguồn từ xung đột quyền lợi giữa các quốc gia duyên hà.  “Thí dụ, Việt Nam nằm ở cuối nguồn Mekong nên không muốn Lào xây đập hay Thái Lan dùng quá nhiều nước mà nước nầy cần để theo đuổi chương trình phát triển của mình.”

Chuyên viên trong vấn đề an ninh khác thường cũng nói rằng các quốc gia Mekong đang kẹt giữa sự cạnh tranh chiến lược của Hoa Kỳ và Trung Hoa. “Bắc Kinh đã đổ rất nhiều tiền vào Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation (LMC) và Sáng kiến Vành đai và Con đường (Belt and Road Initiative (BRI)) – nhưng những ngân khoản nầy đến với những điều kiện mà chúng ta phải chấp nhận.”

Vì vậy, cô Tô đang thúc giục các quốc gia Mekong nên cộng tác với Seoul để soạn thảo một chiến lược quản trị nguồn nước khả chấp cho phép phát triển nông thôn và thành phần nông nghiệp của mỗi quốc gia.  “Có nhiều lãnh vực cần làm hơn – thí dụ như nghiên cứu ảnh hưởng của việc giữ cho thủy lộ Mekong luôn rộng mở cho hậu cần và vận tải.”

Cô Tô thêm rằng điều quan trọng nhất là cải thiện sự hợp tác giữa các quốc gia Mekong để khuyến khích mô hình quản trị nguồn nước khả chấp. “Việc sử dụng nguồn nước của chúng ta không được hướng dẫn bởi bất cứ luật lệ nào, và cơ chế duy nhất để điều hòa việc dùng nước sông Mekong là MRC, mà vai trò của nó chỉ giới hạn trong việc đề nghị.”

Cô đề nghị rằng Nam Hàn, một trong những đối tác trong khu vực, có thể giúp mang lại tình trạng khả chấp.  “Tôi đề nghị Diễn đàn Kinh doanh Mekong-Korea được củng cố và mở rộng để thành phần tư nhân có thể khuyến khích việc sử dụng khả chấp nước của sông.  Họ cũng có thể huấn luyện nhân sự và cung cấp học bổng.  Chúng tôi mong được học rất nhiều từ Nam Hàn và kinh nghiệm dồi dào của họ để tiến tới một mô hình khả chấp hơn.”

“Đối tác nhân từ”

Cũng thế, Kim Young-sun - cựu đại sứ Nam Hàn ở Indonesia và cựu tổng thư ký Trung tâm ASEAN-Korea - cũng bày tỏ lo ngại về tương lai của sông Mekong.

“Vấn đề thứ nhất là tìm cách hài hòa phát triển với những quan tâm môi trường để bảo đảm tính khả chấp.  Các vấn đề khác là xung đột quyền lợi giữa các quốc gia thượng và hạ lưu Mekong đối với việc sử dụng nguồn nước và sự cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng.”

Ông Kim nói Nam Hàn có thể hình thành một “đối tác nhân từ” với lục địa ĐNA.  “Seoul có vị thế tốt để trở thành một đối tác thật sự và nhân từ vì họ không có hành trang lịch sử, không có tranh chấp lãnh thổ với các quốc gia Mekong và không muốn làm bá chủ trong khu vực.”  Quỹ Hợp tác Mekong-ROK (Mekong-ROK Cooperation Fund (MRCF)) đã hỗ trợ dự án giúp tiến trình kết hợp vùng được dễ dàng và cung cấp những lợi ích hỗ tương.  “Ngân khoản đã tăng gấp đôi đến 2 triệu USD (khoảng 60,4 triệu baht) trong năm nay và sẽ gia tăng lên 3 triệu USD trong năm tới.  Viện trợ Phát triển của Nam Hàn cho các quốc gia Mekong cũng gia tăng đều đặn.”

Ông nói năm nay, MCRF đã phê duyệt 7 dự án, bao gồm chương trình rừng cộng đồng của Myanmar và các dự án nâng cao năng lực để khuyến khích kinh tế xoay vòng của Thái Lan.  Ông cũng nói rằng đối tác Mekong-Korea phải phù hợp với nghị trình hợp tác ASEAN-Korea và bổ túc cho các cơ cấu hợp tác về khả chấp khác.

Ông Kim nói: “Đó là lý do tại sao Nam Hàn quyết định trở thành một đối tác phát triển của Chiến lược Hợp tác Kinh tế Ayeyawady-Chao Phraya-Mekong (ACMECS).  Tuy nhiên, các quốc gia Mekong cần phải xây dựng kiến trúc khu vực của họ với một tiếng nói chung, và về phần ASEAN, cần phải đóng một vai trò tích cực hơn trong việc hoạch định chánh sách về Mekong.”

Thiếu quyết tâm

Ukrist Pathmanand, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Mekong, Viện Nghiên cứu Á Châu của Đại học Chulalongkorn, nói Thái Lan chưa thực hiện đầy đủ chánh sách khả chấp ở trong và chung quanh khu vực Mekong mặc dù là chủ tịch của ASEAN.

Ông nói rằng: “Việt Nam thực hiện nghiên cứu về sông Mekong vì nước nầy ở cuối nguồn.  Ngay cả Nam Hàn cũng đang xem xét việc quản trị nguồn nước sông Mekong như thế nào.  Nhưng ở Thái Lan, chỉ có vài đại học nghiên cứu ảnh hưởng môi trường của việc xây đập.  Chánh phủ không có nhiều quan tâm về Mekong.”

Ông giám đốc tiếp tục than van việc ACMECS – từng là một cơ chế hợp tác đầy hứa hẹn được uốn nắn bởi chánh phủ Thaksin Shinawatra – bị bỏ xó vì các chánh phủ khác không theo đuổi sáng kiến.  [ACMECS] biến Thái Lan từ người nhận thành người cho viện trợ – nó tạo cho Thái Lan một vai trò mới trong Phân vùng Đại Mekong (Gretaer Mekong Subregion (GMS)).”

Ông nói tiếp: “Không may, những lãnh đạo kế tiếp không có quyết tâm trong việc phát triển GMS.  Chúng ta tham dự các phiên họp như một đối tác mà không mang lại một giải đáp rõ rệt.  Chúng ta có thể lãnh đạo tốt hơn và đóng một vai trò lớn hơn.  Thí dụ, Hiệp hội Khuyến khích và Hội nghị Thái Lan (Thailand Incentive and Convention Association (TICA)) đã cấp ngân khoản cho sinh viên từ các quốc gia lân bang, nhưng phạm vi tương đối hẹp.  Chúng ta cần nỗ lực thêm.”

Ông giám đốc kêu họi Thái Lan có những sáng kiến trong khu vực Mekong bằng cách tăng cường sự liên lạc với Nam Hàn qua ACMECS và đề cao an ninh nguồn nước đối với các quốc gia láng giềng.  “Chánh phủ của chúng ta cần phải chủ động hơn đối với sông Mekong, vì dòng sông nối lục địa của chúng ta với biển.”

.