Thursday, September 26, 2019
Wednesday, September 18, 2019
MEKONG TIẾN GẦN ĐẾN ĐIỂM TỚI HẠN TRONG KHI SỰ CẠNH TRANH GIỮA HOA KỲ VÀ TRUNG HOA GIA TĂNG
(Mekong nears tipping point as US-China rivalry grows)
Brian Eyler and Aaron Salzberg
Asia Nikkei – August 27, 2019
Sơ lược về tác giả
Brian Eyler là tác giả của “Những
Ngày Cuối của Mekong Hùng vĩ (Last Days of the Mighty Mekong)” và giám đốc
Chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Stimson ở Washington D.C. Aaron Salzberg là giám đốc Viện Nguồn Nước
của Đại học North Carolina ở Chapel Hill và nguyên là Phối hợp viên Đặc biệt về
Nước ở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
Sông Mekong ở Lào: hạn hán phản ánh sự thiếu khả năng lớn hơn
của các quốc gia Mekong về việc chấp thuận một kế hoạch cho khu vực để quản trị
nguồn nước của họ.
[Ảnh: Getty]
Những khó khăn trước mắt khi hạn hán đang hoành hành ở các
quốc gia hạ lưu.
Sông Mekong, phát guyên từ Cao nguyên Tây Tạng và chảy gần
5.000 km qua Trung Hoa, Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam để vào
Biển Đông, đang có nguy cơ cạn nước. Năm
quốc gia ở hạ lưu phải hành động ngay bây giờ để bảo vệ quyền lợi của họ hay có
nguy cơ mất quyền kiểm soát dòng sông vào tay Trung Hoa ở thượng nguồn.
Các quốc gia ở hạ lưu đang gánh chịu một trận hạn hán nghiêm
trọng đe dọa đến việc sản xuất nông và ngư nghiệp trên toàn lưu vực. Trong 2 tháng qua, hầu hết các đoạn sông
Mekong đã ghi nhận mực nước thấp nhất trong lịch sử.
Vào giữa tháng 7, hệ thống bơm thủy nông ở đông bắc Thái Lan
không còn bơm được nước, khiến Thái Lan phải huy động quân đội. Hình ảnh di ngư bị kẹt ở Thái Lan và Lào được
phổ biến rầm rộ trên mạng xã hội, gây ra một đợt tố cáo kẻ phạm tội.
Bên lề của cuộc họp cấp cao của Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á (Association of Southeast Asian Nations (ASEAN)) ở Bangkok hôm đầu tháng
8, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo đã nói với các ngoại trưởng Mekong rằng hạn
hán có “liên quan đến quyết định đóng đập của Trung Hoa ở thượng lưu.”
Trong phần trả lời trực tiếp hiếm hoi, Bộ trưởng Ngoại giao
Dương Nghị của Trung Hoa đã giận dữ bác bỏ tuyên bố của Pompeo, nói rằng Trung
Hoa đã “tích cực xả một lượng nước lớn hơn xuống hạ lưu,” theo truyền thông
Trung Hoa.
Không có lời tuyên bố nào phản ánh những thách thức phức tạp
mà khu vực đang đối mặt, nhưng cả hai đều cho thấy sự sẵn lòng của các cường
quốc quan trọng trong việc sử dụng nước như một khí cụ chánh trị để thúc đẩy
quyền lợi của họ.
Trung Hoa không gây hạn hán, mặc dù lượng nước từ đập Cảnh
Hồng được giảm xuống trong tháng 6 và 7 để “bảo trì lưới điện.” Điều nầy có vẻ vô ý thức, thay vì có ác tâm.
Lượng nước xả từ đập Cảnh Hồng được giảm xuống trong tháng 6
và 7 để “bảo trì lưới điện.” [Ảnh: AP]
Trung Hoa có khả năng làm giảm áp lực ở hạ lưu bằng việc xả
nước có kế hoạch và phối hợp. Tuy nhiên,
khi cần, việc xả nước ngắn hạn không thể giúp các nước ở hạ lưu vượt qua các
đợt hạn hán lâu dài.
Nhưng đây không chỉ là vấn đề của Trung Hoa: Nó phản ánh sự
thiếu khả năng của các quốc gia Mekong trong việc chấp thuận một kế hoạch khu
vực để quản lý nguồn nước của họ. Trong
3 thập niên qua, Lào đã hoàn tất 64 đập thủy điện trong lưu vực Mekong, Việt
Nam 15, Thái Lan 9 và Cambodia 3.
Hầu hết được hoàn tất trong vòng 5 năm qua. Ảnh hưởng cộng dồn làm hạn hán thêm nghiêm
trọng vì đập làm giảm lưu lượng và ngăn cản di ngư trong việc đi tìm nơi cư trú
truyền thống, tước đoạt cá của cộng đồng địa phương và gây thiệt hại cho việc
sản xuất nông nghiệp. [Lời người dịch: Hạn hán là do thiếu mưa và cũng có ảnh
hưởng đến việc vận hành đập.]
Nếu các kế hoạch hiện nay được thực hiện, 438 đập khác (364 ở
Lào, 66 ở Cambodia và 8 ở Trung Hoa) sẽ chặt khúc lưu vực thêm nữa. Trong khi số nước phụ trội được xả từ Trung
Hoa có thể làm giảm ảnh hưởng của hạn hán ở hạ lưu, nó không thể hoàn toàn bù
trừ sự thiếu hụt của mưa mùa và ảnh hưởng của các hạ tầng cơ sở khác. Sự kết hợp của những áp lực nầy sẽ bóp nghẹt
Mekong.
Không thiếu những đề nghị cho sự can thiệp từ bên ngoài. Cơ chế Hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong
Cooperation (LMC)) của Trung Hoa – một khung tài trợ để giúp cho 5 quốc gia hạ
lưu Mekong – đang đề nghị một số dự án hạ tầng cơ sở và tầm nhìn cho Mekong để
giảm thiểu thiệt hại của lũ lụt và hạn hán.
Nhưng mặc dù cứu trợ hạn hán luôn được hoan nghênh, một kế
hoạch đầy tham vọng do Trung Hoa cầm đầu để giảm lũ lụt có thể khiến khu vực
phá sản kinh tế.
Một nghiên cứu trong năm 2017 của Ủy hội Sông Mekong (Mekong
River Commission (MRC)) ước tính rằng lũ hàng năm đem lại từ 8 đến 10 tỉ USD
lợi tức trong khi gây thiệt hại chỉ có 70 triệu USD. Nói cách khác, lưu lượng hàng năm của Mekong
là thiết yếu để giúp cho sông sinh tồn như hiện nay.
Để cho Trung Hoa chịu trách nhiệm ở Mekong cũng có nghĩa đẩy
MRC đi chỗ khác – một cơ chế mà Thái Lan, Cambodia, Lào và Việt Nam đã cộng tác
trong hơn 20 năm để hỗ trợ việc phát triển khu vực.
Báo hiệu cho một quyết tâm hành động mới, những mạnh thường
quân quan trọng như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và Liên hiệp Âu Châu đang gia tăng hỗ
trợ cho khu vực hàng trăm triệu USD về kỹ thuật có thể đem lại hàng tỉ đầu tư
tư nhân.
Sáng kiến Dữ kiện Nước Mekong (Mekong Water Data Initiative)
mới đây, là một phần của Sáng kiến Hạ lưu Mekong (Lower Mekong Initative (LMI)
do Hoa Kỳ cầm đầu, một khuôn khổ cho việc hỗ trợ kỹ thuật và phát triển, là một
bước quan trọng để bảo đảm rằng tất cả các quốc gia Mekong đều có thể nhận được
dữ kiện thời tiết thủy văn cập nhật để cải thiện việc tiên đoán và đối phó với
lũ lụt và hạn hán và thiết lập kế hoạch khu vực.
Tại phiên họp của ASEAN, Hoa Kỳ cũng công bố tài trợ 29,5
triệu USD để khởi động Đối tác Năng lượng Mekong Nhật Bản-Hoa Kỳ (Japan-United
States Mekong Power Partnership), một trong nhiều đối tác Mekong mới giữa Hoa
Kỳ, Nhật Bản và Úc nhắm vào điện năng đa dạng và thân thiện với môi trường của
khu vực. Nhật Bản, ít nhất, sẽ đóng góp
tương tự như Hoa Kỳ.
Các quốc gia hạ lưu Mekong nên giao ước với tất cà các đề
nghị nầy, cùng lúc bảo đảm rằng việc kiểm soát dòng sông trong tương lai sẽ
không thuộc về Trung Hoa.
Cấp bách hơn, phải áp lực Bắc Kinh cung cấp dữ kiện lưu lượng
và vận hành đập để giúp các quốc gia hạ lưu thảo kế hoạch đối phó với sự thay
đổi điều kiện thủy học. Cung cấp dữ kiện
sẽ là cách để Trung Hoa bày tỏ sự thành thật của họ.
Các quốc gia hạ lưu Mekong phải chống lại những ai muốn dùng
Mekong để chiếm ưu thế chánh trị và đặt quyền kiểm soát dòng sông vào tay
họ. Bằng cách cộng tác, các quốc gia nầy
có thể bảo đảm một tương lai an toàn cho nguồn nước trong toàn khu vực.
Brian Eyler and Aaron Salzberg
Bình Yên Đông lược dịch
DÒNG SÔNG KHÔNG QUAY ĐẦU: MEKONG ĐỐI MẶT VỚI TƯƠNG LAI U ÁM
(River of no return:
Mekong faces grim future)
Luke Hunt – Bình Yên Đông lược dịch
UCANews – August 21, 2019
Hình chụp ngày 14 tháng 4 cho thấy một du khách đi ngang đụn
cát hay “Toppathatsay” trên bờ sông Mekong đánh dấu năm mới ở Lào hay “Pi Mai”
tổ chức ở Luang Prabang. [Ảnh: Manan Vatsyayana/AFP]
Một lần nữa, sông Mekong xuống thấp đến mức kỷ lục, đe dọa
việc sản xuất hoa màu, ngư nghiệp và sinh kế của 70 triệu người giữa việc phát
triển thái quá và những báo động tàn khốc.
Nhưng hạn hán năm nay, lần thứ hai trong vòng 3 năm, có thể đánh dấu một
bước ngoặt và một tương lai đen tối.
Khoa học gia, được những người hoạt động môi trường hậu
thuẫn, đã báo động gần 2 thập niên rằng việc xây đập điên cuồng có thể giết
chết con sông dài thứ 12 trên thế giới.
Và các chuyên viên chống khủng bố cũng nói thẳng rằng điều đó có thể tạo
nên công thức gây xung đột hay sụp đổ quốc gia.
Thực tế bi thảm là các chánh trị gia tham nhũng và cực hữu
cùng với những thương gia tham lam, cộng tác với các hệ thống chánh trị để làm
câm miệng đối lập, đã bất chấp khoa học và nay đang đối mặt với thực tế họ chỉ
có thể mong biến mất khi hạn hán trở nên thường xuyên hơn.
Trên đường đi tới
Mưa ít, được biết trước với hiện tượng thời tiết El Nino, và
các đập mà giới thẩm quyền nhấn mạnh là không làm hại môi trường, đã đẩy Mekong
xuống mức thấp nhất trong 100 năm qua.
Tuy nhiên, tổng cộng 11 đập trên dòng chánh Mekong và hơn 123
đập được dự trù trên các phụ lưu, có lẽ gấp 3 lần nhiều hơn số đập hiện có.
Trong khi cụm đập ở Trung Hoa và Lào trữ nước để làm đầy hồ
chứa và sản xuất điện, thì vùng châu thổ Mekong ở hạ lưu là nơi mà người dân ăn
đấm trước tiên.
Sự di chuyển và sinh sản của cá bị đảo lộn làm giảm số lượng
cá, đồng ruộng cạn khô và nước mặn từ Biển Đông tiến sâu vào Đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL), hủy hoại các vùng cư trú nước ngọt.
Nó là tiến trình được tăng cường bởi việc acid hóa của nước
biển do nhiệt độ gia tăng chứ không phải do đánh bắt thái quá hay dùng lưới
điện trái phép. Kết quả là một số trong
850 loại cá phát triển mạnh trước đây, kể cả cá heo Irrawaddy và cá bông lau
khổng lồ, nay đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Điều đó quan trọng đối với Việt Nam, nơi mà dòng sông chiếm
50% GDP nông nghiệp và nghèo khó khiến nhiều gia đình tay làm hàm nhai.
Nhiều phúc trình sơ khởi cho thấy chúng đang trên đường đi
tới.
Nhưng những người có nguy cơ cao nhất không thể than
phiền. Ở Cambodia, một quốc gia độc
đảng, chánh phủ đã đóng cửa báo chí độc lập và đi gần với Trung Hoa, đã bơm
hàng tỉ USD vào nên kinh tế nhỏ bé của quốc gia nầy.
Việt Nam và Lào vẫn là quốc gia cộng sản độc đảng trong khi
Thái Lan và Myanmar được kiểm soát chặt chẽ bởi chánh phủ do quân đội hậu
thuẫn.
Đổ tội cho ai?
Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) và Hiệp
hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of South East Asian nations (ASEAN))
muốn tự đề bạt như một cơ cấu khu vực nhưng không có cơ cấu nào chứng tỏ có khả
năng để thúc đẩy phát triển khả chấp dọc theo sông Mekong.
Điều đó giúp cho chánh phủ của 6 quốc gia mà sông Mekong chảy
qua: Trung Hoa, Lào, Myanmar, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam, đặt quyền lợi
chánh trị của họ trên hết và cố giành cho được.
Các thủ tướng, chủ tịch và giám đốc các ngân hàng quốc tế phải chịu trách
nhiệm cho tình thế đang đe dọa trở thành tai họa trong những năm sắp đến, và
nếu đúng như thế, nó có thể là lý do để điều tra của Tòa Hình sự Quốc tế ở The
Hague (International Criminal Court (ICC)).
Đó là nơi mà Viraphonh Viravong, phụ tá bộ trưởng Hầm mỏ và
Năng lượng, và người tuyên truyền chánh cho việc xây cất đập Xayaburi trên dòng
chánh Mekong ở Lào, sẽ là một bằng chứng thú vị. Ông nhấn mạnh rằng đập đã và vẫn là một ý
kiến hay.
Luật sư quốc tế Richard Rogers nói có “khả năng” để xem xét
việc cưỡng bức dời cư dưới tình trạng như thế như là tội phạm chống nhân loại.
Tuy nhiên, công tố viên cần chứng minh rằng những vấn đề do
việc xây đập gây ra “làm hại” người dân một cách rộng rãi và có hệ thống qua
chánh sách của chánh phủ.
Liên quan đến những vấn đề nước ở miền nam Đông Dương, ông
nói: “Nếu việc dời cư tập thể là bất hợp pháp theo luật quốc tế - nó cũng có
thể hợp pháp nếu theo đúng các thủ tục – và chúng là một phần của chánh sách
của chánh phủ nên nó có tiềm năng.”
ICC hiện đang cứu xét việc xung công đất đai và cưỡng bức
người dân dời cư khỏi đất đai ở Cambodia là một tội phạm chống nhân loại.
Kinh đào Trung Hoa
Trung Hoa đang ở trên đỉnh của dây chuyền thực phẩm ban phát
mệnh lệnh tối thượng cho phần còn lại của Mekong. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo vừa cảnh báo
rằng Bắc Kinh đang kiểm soát sông Mekong bằng các đập. Lời cảnh báo đến muộn nhiều năm. Trung Hoa đã tuyên truyền ý tưởng biến toàn
thể dòng sông thành một kinh đào từ hơn một thập niên.
Sử gia Đông Nam Á và nhà ngoại giao Milton Osborne vừa nói
với tôi: “Đây là một câu chuyện dài phức tạp và rối rắm.”
Ông nói Trung Hoa đã xây 7 đập “mà không cứu xét đến các quốc
gia ở hạ lưu” và thêm rằng: “Trong chiều hướng họ muốn sông Mekong là của họ.”
Điều nầy gồm có việc tuần tiểu ở phía nam biên giới và giao
thông thủy đến Luang Prabang ở bắc Lào, cần phải phá các ghềnh thác cuối cùng ở
trong vùng. Và đó không chỉ là dòng
chánh được uốn nắn và trau chuốt để phục vụ cho quyền lợi được bảo đảm.
Chỉ 10 năm trước đây, người ta có thể đi hết chiều dài của
sông Nam U, một phụ lưu của Mekong ở Lào.
Nay, Osborne cho biết, không còn đi được vì 7 đập đã được xây trên Nam
U, và nói thêm, “việc xây đập đã thoát sự chú ý của quốc tế.”
Ông nói 2 trong 9 cửa sông ở ĐBSCL, nơi các nhánh sông chảy
ra Biển Đông, đã bị đóng và, nhìn xa hơn , ông nói: “Có những gợi ý cho rằng
ĐBSCL sẽ biến mất vào cuối thế kỷ.”
Những lời cảnh báo như thế đã leo thang kể từ trận hạn hán
2016, mà theo truyền thuyết dân gian, người ta có thể đi qua sông vì mực nước của
nó xuống đến mức thấp nhất trong lịch sử.
Nhưng cái nguy cơ to lớn và gần gũi hơn là sự sụp đổ của dây
chuyền thực phẩm dẫn đến nạn đói, buộc hàng triệu người phải bỏ xứ và hủy hoại
uy quyền của những người có trách nhiệm.
Họ đã được thông báo bởi các khoa học gia và chuyên viên môi trường.
Osborne hỏi vặn: “Câu hỏi hiên nay là có thể làm gì để tránh
gây thêm khó khăn cho tương lai của Mekong?”
Luke Hunt – Bình Yên Đông lược dịch
Tuesday, September 17, 2019
Thursday, September 12, 2019
Cua đồng Campuchia "lên ngôi": Cần thì "alô", nhắn tin zalo hay FB cho người bán
Thứ Tư, ngày 11/09/2019, 19:00
Chị Lâm Thị Nàng Kha (33 tuổi, ngụ TP. Long Xuyên) bán cua đồng
mấy năm nay cho biết, hiện giờ đang vào mùa, cua bắt đầu nhiều hơn trước. Nhưng
cua không phải của đồng quê mình, mà là... cua ngoại, bắt từ đồng ruộng
Campuchia.
“Nguồn hàng tôi chia lại từ mối lái, được bao nhiêu bán hết bấy
nhiêu trong ngày. Hôm nào cua ít thì 20-30kg, cua nhiều cả trăm ký, nhưng khách
mua nườm nượp, không đủ bán. Cua đồng ở xứ mình tuy còn, nhưng ít lắm, càng lại
nhỏ hơn” - chị Kha vừa chia sẻ, vừa luôn tay lựa cua cân cho khách.
Chúng tôi trêu chị: bán cua đồng, nhưng vẫn áp dụng công nghệ
thông tin hiện đại. Không cần ngồi mỏi mòn ngoài chợ như xưa, gia đình chị chỉ
lo mua cua về, khi nào khách cần mua thì “alô”, nhắn tin facebook, zalo... cho
chị.
Đến trưa, chiều, cả nhà lại vác bao cua ra ngồi trên đường
Nguyễn Trãi, xoay qua xoay lại khách đã mua hết sạch. Giá trị của con cua đồng
lên theo thời giá thị trường, từ vài ngàn đồng lên hơn 100.000 đồng/kg. Khách
chỉ muốn ăn càng cua, được 300.000 đồng/kg. Rẻ như cua xay cũng phải 70.000 đồng/kg.
Theo mức giá này, cua đồng trở thành món ăn xa xỉ với người thu nhập thấp.
Mỗi khi mùa nước tràn đồng, sản vật cho con người phong phú hẳn.
Mà chưa kể, miền Tây lại mang danh hào sảng, bình dân, phóng khoáng, hết lòng đãi
khách phương xa những gì quê mình có. Theo thời gian, biến đổi khí hậu và bàn
tay thô bạo của con người tác động, con nước khi về, khi không, khi muộn, khi sớm,
khi bình yên, khi khó chịu. Sản vật cũng vì thế mà hiếm dần, hiếm dần. Mỗi lần
sực nhớ món quê, người ta lại neo lời thở dài trên miệng: “Nhớ hồi xưa...”.
Cua đồng là một loại sản vật khiến người ta nhớ thương như thế.
Món ăn này quen thuộc, dân dã đến mức ai cũng biết. Hoặc ít ra, cũng từng biết
qua câu hát nổi tiếng “Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng - Về sông ăn cá, về đồng
ăn cua”. Nhà tôi không ở trong đồng, mà nằm lọt thỏm trong phố thị ồn ào. Nhưng
cả chục năm về trước, cua đồng nhiều đến mức, ở góc chợ nào cũng thấy chúng. Từ
quê ra phố thị, cua đồng được bán với giá vài ngàn đồng/kg, rẻ đến tội. Những
hôm nhà túng thiếu, cá thịt dù rẻ vẫn không đủ tiền mua, mẹ tôi lại buồn bã mua
mớ cua về, phần thì luộc, phần giã nát nấu canh rau đay, ăn cho qua bữa nghèo.
Ăn cua luộc thì phải chịu khó ngồi tỉ mẩn lột từng miếng vỏ dính vào thịt. Còn
phần cua giã tay, nhưng nát như xay máy bây giờ, mẹ tôi phải lọc thật kỹ mới có
phần thịt cua nổi lên trên tô canh. Anh em tôi còn nhỏ, chỉ cố tìm chút vị ngọt
của thịt cua nằm lẫn trong đám vỏ xảm xì, đâu biết nỗi đắng cay trong lòng người
lớn.
Bẵng đi nhiều năm, cua đồng lại “lên ngôi”, trở thành thứ đặc
sản miền quê muốn ăn cũng không dễ tìm.
Nhưng cua đồng được ưa chuộng cũng là điều dễ hiểu. Chất thịt
ngọt tanh lành tính của cua đồng không giống với vị ngọt tanh của cua biển.
Chút ít thịt cua đồng chẳng bõ bèn gì so với miệng ăn của con người, nhưng lại
chất chứa mùi ruộng đồng, mùi ký ức xưa cũ. “Hồi nhỏ, tôi hay theo bạn bè xem
người lớn đặt lọp cua, hứng chí lại rủ nhau đi tìm hang cua, thách đố nhau xem
ai bắt được nhiều cua hơn. Bị cua kẹp là chuyện bình thường, không đứa nào sợ.
Cua đem luộc, ăn chẳng có bao nhiêu thịt, nhưng thích lắm, vì tự tay mình bắt
được. Cứ vui chơi như vậy mà lớn lên. Mỗi khi gặp cua đồng bày bán ngoài chợ,
tôi lại nhớ quê, nhớ chuyện cũ, nhất định phải ghé vào mua một ít đem về” - anh
Trần Văn Hưng (47 tuổi, ngụ xã Khánh Hòa, Châu Phú) chia sẻ.
Có lẽ về sau, cua đồng vẫn sẽ giữ được vị thế đặc sản “hương
đồng gió nội” của mình. Bởi chúng đã đi vào ẩm thực truyền thống của người miền
Tây, với những nồi canh cua rau mát lành, tô bún riêu cua thơm phức, dĩa càng
cua rang muối... Thậm chí, khi cua đồng ngày càng khan hiếm, người ta lại càng
nhận ra giá trị của chúng, biết trân trọng công sức của người vất vả săn cua, đặc
biệt là biết giữ gìn môi trường tự nhiên để cua phát triển. Nếu không, đến con
cháu đời sau, tụi nhỏ lại ngơ ngác hỏi người lớn: “Cua đồng là gì?”
Theo Viện Dinh dưỡng quốc gia, cua đồng là nguồn chất đạm
quý. Về giá trị dinh dưỡng, trong 100g cua đồng (bỏ mai và yếm) có 74,4g nước,
12,3g protid, 3,3g lipid, 2g glucid, cung cấp được 89g calo. Lượng vitamin và
muối khoáng, đặc biệt là canxi trong cua đồng rất cao: trong 100g cua có tới
5.040mg canxi, 430mg photpho, 4,7mg sắt, các loại vitamin B1, B2, PP… Theo Đông
y, cua đồng có vị mặn, mùi tanh, tính lạnh, có tác dụng tán huyết, bổ gân cốt,
khớp xương, chữa phong nhiệt.
Theo Khánh Hưng (Báo An
Giang)
Monday, September 9, 2019
VƯỢT QUA THAY ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐÔNG NAM Á BẰNG KỸ THUẬT CỔ ĐIỂN VÀ HIỆN ĐẠI
(Surviving Climate
Change in Southeast Asia
Will Require New and Ancient Technologies)
Will Require New and Ancient Technologies)
Jennifer Rigby – Bình Yên Đông lược dịch
Newsweek – June 28, 2016
Số đập tăng vọt trong lưu vực Mekong, như đập nầy ở Thái Lan,
được dự đoán là sẽ thay đổi lưu lượng sông trong những năm sắp đến,
có khả năng
làm nhiều vùng trở nên khó sống.
[Ảnh: Jack Kurtz/Zuma]
Keo Yeun gật đầu với 2 thanh sắt rồi với vũng nước đục ngầu
gần đó. Vừa nhún vai vừa nói: “Nó không
phải là phép thần thông. Tôi đang làm
thí nghiệm về nước để sống còn.”
Keo sống trong một làng nhỏ ở gần khu đền Angkor Wat cổ kính
của Cambodia, và cái ông đang làm cũng không kém phần tôn kính: tìm mạch nước
hay tiên đoán về nước để giúp gia đình ông vượt qua đợt hạn hán khốc liệt nhất
trong nhiều thập niên ở Đông Nam Á (ĐNA).
Ông bước qua mảnh đất khô với 2 thanh sắt được buộc một cách
lỏng lẻo ở 1 đầu đặt ở gần ngực, chờ cho đầu kia bắt đầu di chuyển ra xa, báo
hiệu (ông hy vọng) sự hiện diện của độ ẩm.
Khi điều nầy xảy ra ở đâu, ông đào xuống đất ở đó. Nếu tìm được nước – và Keo cho biết ông
thường tìm được – ông sẽ dùng để trồng hoa màu.
Ông nói, 2 tuần trước, một tổ chức phi chánh phủ Nam Hàn huấn luyện cho
ông phương pháp nầy. Tuy nhiên, không có
cơ sở khoa học cho việc tìm mạch nước và hầu hết chuyên viên nói đây không phải
là giải pháp cho khủng hoảng nước ở Á Châu.
Jeremy Bird, tổng giám đốc của Viện Quản trị Nguồn nước Quốc tế
(International Water management Institute (IWMI)) nói: “Cô tôi thường toát mồ
hôi vì nó, nhưng tôi không biết đào 5 cái giếng có tốt hơn hay không. Bạn sẽ tìm được nước ở nhiều nơi, nhưng cái
chánh là nó dùng được bao lâu, và không thầy bói nào có thể biết.”
Tình hình rất khốc liệt: Hạn hán 2015-2016 ảnh hưởng gần
100.000 gia đình ở nông thôn Cambodia, cùng với hàng triệu người ở các quốc gia
lân bang, kể cả Việt Nam. Một hiện tượng
El Niño mạnh bất thường, gây thiệt hại toàn cầu, là nguyên nhân của thời tiết
cực đoan trong năm qua, nhưng các khoa học gia khí hậu nói rằng vùng Mekong
(gồm có một phần của Trung Hoa, Cambodia, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Lào)
đối mặt với một tương lai bấp bênh: mùa khô, mưa mùa, lũ lụt, giông tố và nước
biển dâng dữ dội hơn. Virginia Burkett,
khoa học gia trưởng về thay đổi khí hậu và sử dụng đất của Cơ quan Khảo sát Địa
chất Hoa Kỳ (U.S. Geological Survey) nói: “Đó là một trong những vùng có tình
trạng hiểm nghèo nhất trên hành tinh.”
Hơn thế, sông Mekong hùng vĩ và môi trường của nó đang đối
mặt với những thách thức vượt ra ngoài thay đổi khí hậu. Dòng sông đã chứng kiến sự bùng nổ của việc
xây đập, bắt đầu ở thượng lưu Trung Hoa, và nay, dọc theo chiều dài của nó, khi
các quốc gia cào bới để khai thác điện năng.
Ảnh hưởng của các đập chưa được biết rõ.
Maureen Harris, giám đốc ĐNA của nhóm bảo vệ sông International Rivers,
nói: “Rất khó để biết làm thế nào và đến mức độ nào châu thổ sông Mekong vẫn
còn có thể cư trú hay màu mỡ trong tương lai, nhưng với tốc độ hiện nay của
thay đổi khí hậu và phát triển thủy điện, nó sẽ thay đổi không thể nhận
ra.” Những thay đổi nầy sẽ ảnh hưởng đến
lưu lượng và lượng cá – sông cạn hơn khiến cá khó sống hơn, và có những lo ngại
rằng các đập sẽ ngăn chận các đường di chuyển của cá, đe dọa sự sống còn của
một số loại cá. Điều nầy có thể gây khó
khăn cho 60 triệu người sinh sống trong vùng và phụ thuộc vào sông Mekong để có
nước, thực phẩm và sinh kế.
Những gì cần phải làm vẫn chưa được rõ, một phần vì các
chuyên viên chưa có tin tức căn bản nhất về tình hình. Yasmin Siddiqi, chuyên viên thủy lợi của Ngân
hàng Phát triển Á Châu ở trong vùng, nói: “Chúng tôi đã làm một vài việc, và
kết quả sơ khởi cho thấy ¾ vùng nầy sẽ đối mặt với tình trạng thiếu nước, ngoại
trừ khi chúng ta quản lý nguồn nước tốt hơn.
Một trong những bước đầu tiên là khởi sự đo đạc số lượng nước được ai sử
dụng thật sự. Điều nầy thật sự là một hố
đen đối với chúng tôi.”
Ngân hàng đã tài trợ một dự án dùng vệ tinh để theo dõi việc
sử dụng nước ở các quốc gia tiên phong, gồm có Việt Nam và Cambodia. Ở cấp vĩ mô, dự án sẽ đo đạc lượng nước trên
toàn quốc. Nhưng Siddiqi cho biết, những
lôi cuốn hào hứng nhất thường ở địa phương.
Cô nói: “Ngày trước, chúng ta không biết 1 m3 nước có thể
trồng được bao nhiêu lúa. Nay, với kỹ
thuật vệ tinh, chúng tôi có thể bắt đầu cứu xét các thửa ruộng của nông dân và
toàn thể hệ thống dẫn thủy để xem nông dân nào trồng được nhiều nhất với 1 đơn
vị nước. Sau đó chúng tôi tìm hiểu sự
khác biệt mà nông dân đó đã làm và dùng làm mẫu cho các nông dân khác.” Ảnh hưởng rất to lớn: Trên khắp Á Châu,
khoảng 80% nước được sử dụng cho nông nghiệp, thường là không có hiệu quả.
Theo dõi bằng vệ tinh là một khoa học hiện đại, nhưng nhiều
kỹ thuật khác đang được khuyến khích ở trong vùng để cải thiện việc dùng nước
liên quan đến những bước ngoặt mới về phương pháp rất cổ điển như tìm mạch
nước. Thí dụ, đào giếng để giữ nước trong
mùa lụt có thể làm giảm ảnh hưởng của lụt và để dành nước cho mùa khô. Và có nhiếu cách đơn giản để dùng nước có
hiệu quả quanh năm bằng cách cứu xét tất cả các khía cạnh của chu kỳ nước, kể
cả chất thải của con người – chính xác là nước tiểu. Pay Drechsel, trưởng nhóm phục hồi tài nguyên
của IWMI, nói: “Nước thải rất giàu chất dinh dưỡng và có thể dùng để sản xuất
thực phẩm cho cá.” Drechsel đang tham
gia vào một số dự án giảm thiểu khí hậu xoay quanh việc tái chế nước tiểu con
người. Ông nói, thích thú nhất là thiết
lập một hệ thống dùng bèo, một trong những loại cây lớn nhanh nhất trên thế
giới và ưa thích nước tiểu. Nó nổi trên
mặt nước và biến đổi chất dinh dưỡng trong nước tiểu, như nitrogen và potassium,
thành chất đạm. Điều nầy sẽ làm sạch nước,
và bèo lớn mạnh thành thức ăn cho cá và thú vật khác.
Cá có thể là chìa khóa trong việc giúp khu vực thích ứng với
hạn hán. Cơ quan Phát triển Quốc tế của
Hoa Kỳ (U.S. Agency for International development (USAID)), cộng tác với
WorldFish, đã chi 2 triệu USD ở Cambodia để giúp các cộng đồng đa dạng hóa từ
trồng lúa đến bắt cá trong các cánh đồng ngập nước trong mùa mưa. Điều nầy không có gì mới lạ, nhưng kỹ thuật
tân tiến được sử dụng để cải thiện “các ao cá cộng đồng” – các vũng nước được
cộng đồng bảo vệ để cung cấp nơi cư trú cho cá trong đồng ruộng ngay cả trong
mùa khô – đã đẩy số lượng cá lên 30% trong 2 năm. Việc cải thiện đó đủ để nông dân có thể sống
còn nếu lũ lụt gây thiệt hại mùa màng của họ.
Ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam (ĐBSCL), lúa vẫn là
vua, và đó là nơi mà những phát minh có thể mang lại cái mà ông Bird của IWMI
gọi là đổi đời (game changer). Mãi cho
đến nay, ĐBSCL có điều kiện hoàn hảo, kết hợp mùa khô dài và ấm với mùa mưa đủ
nước cho lúa mà không làm ngập. Môi
trường tuyệt vời nầy đã giúp Việt Nam trở thành 1 trong 3 quốc gia xuất cảng
gạo hàng đầu trên thế giới, Nhưng mức
thu hoạch nay bị đe dọa bởi hạn hán, lũ lụt và hiện tượng xâm nhập nước mặn,
khi nước biển tràn vào vùng châu thổ phì nhiêu do mực nước biển dâng kết hợp
với lưu lượng thấp của sông.
Để đối phó, các nhà nghiên cứu đã phát triển các giống lúa
chống lại những đe dọa nầy và đang cộng tác với nông dân để trồng. Reiner Wassmann, trưởng khối thay đổi khí hậu
của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (International Rice Research Institute
(IRRI)) nói: “Đây là một sự chuyển đổi kiểu mẫu. Chúng tôi đã phát triển các giống lúa có thể
chịu ngập hoàn toàn trong nước từ 2 đến 3 tuần.” Mặt khác, nhóm cũng phát triển các giống lúa
có thể chịu hạn và mặn. Ông Wassmann cho
biết: “Chúng tôi không đưa ra các giống mới mà nông dân không quen dùng vì kém
khẩu vị. Chúng tôi lấy các giống phổ
biến ở nơi nào đó rồi, qua việc lai giống, thêm vào 1 điểm rất đặc biệt.” Dĩ nhiên, bây giờ là 2016, và có một áp dụng
cho nó: Áp dụng điện thoại cầm tay cho Quản trị viên Vụ Lúa, cung cấp những đề
nghị cho nông dân chẳng hạn như phân bón, và các nhà nghiên cứu đang dự trù
thêm phần báo động độ mặn.
Và cuối cùng, có lẽ là một phát triển không ngờ của thế kỷ 21
có thể có ảnh hưởng to lớn đến tương lai của khu vực Mekong: bình quyền cho phụ
nữ. Siddiqi nói: “Chúng ta theo đuổi kỹ
thuật [và] phát minh, nhưng bao gồm phụ nữ là thiết yếu.” 40% nông dân ở Á Châu là phụ nữ, nhưng chánh
phủ và các cơ quan địa phương thường không công nhận vị thế của họ, kết quả là
những nông dân nữ nầy phải tranh đấu để được huấn luyện hay mua phân bón. Nếu phụ nữ được tham gia thích hợp trong các
chương trình nầy, sản lượng thực phẩm hàng năm trong vùng có thể tăng lên 30%,
Cơ quan Lương Nông Liên Hiệp Quốc (U.N. Food and Agriculture Organization
(FAO)) ước tính như thế.
Do đó, nếu tất cả thật sự chung tay đối phó với tương lai bấp
bênh của Mekong, một số bàn tay đó nhất thiết phải thuộc về nữ nông dân, giống
như Thong Throm, sinh sống gần đền Angkor Wat ở Cambodia. Được hỗ trợ bởi Kế hoạch Quốc tế (Plan
International), một NGO [Non-Governmental Organization (Tổ chức Phi Chánh phủ)]
chú trọng đến việc giảm nghèo cho trẻ em.
Throm đang thử một số kỹ thuật mới giúp cho hoa màu trong mùa khô. Các kỹ thuật nầy gồm có trồng rau cải trong
các bao, tương tự như các bao được dùng ở Bắc Mỹ và Âu Châu. Kế hoạch Quốc tế đã phân phối chúng đến 200
làng để giúp nông dân trồng rau cải dùng ít nước.
“Chồng tôi là nơi trông cậy, nhưng tôi là trưởng nhóm,” Throm
nói một cách quả quyết trong khi chỉ cho tôi xem nông trại. Bà nói phụ nữ như bà phải đi đầu trong việc
sử dụng kỹ thuật mới vì họ gần gũi với việc nuôi dưỡng gia đình hơn đàn
ông. Nhưng bà biết bà phải là một người đi
đầu. Throm nói: “ Tôi phải dạy những
người mẹ và vợ khác trưởng thành như tôi, vì tôi lo ngại rằng mọi chuyện càng
ngày càng trở nên tồi tệ hơn.”
Jennifer Rigby – Bình Yên Đông lược dịch
.
CỦNG CỐ ĐỐI TÁC HOA KỲ-MEKONG
(Strengthening the
U.S.-Mekong Partnership)
Office of the Spokesperson - Bình Yên Đông lược dịch
U.S. Department of State – August 2, 2019
Phiên họp Ngoại trưởng LMI Thường
niên Lần thứ 10 [Ảnh: Bộ Ngoại giao]
Mekong quan trọng đối
với Mỹ
Khu vực Mekong – Cambodia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam
– có tầm quan trọng chiến lược đối với Hoa Kỳ.
Vùng nầy là trọng tâm của Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ, và
được kết hợp trong sự giao dịch với ASEAN [Association of SouthEast Asian
Nations (Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á)].
Hoa Kỳ nhắm mục tiêu tôn trọng chủ quyền, minh bạch, quản trị tốt, ASEAN
trung lập, và một trật tự dựa trên luật lệ cùng với các đối tác Mekong của
chúng ta. Sự ràng buộc của Mỹ với khu
vực Mekong rất sâu đậm:
- Trong
10 năm qua, các cơ quan Hoa Kỳ đã cung cấp hơn 3,5 tỉ USD viện trợ cho các
quốc gia Mekong.
- Đầu
tư trực tiếp của Hoa Kỳ ở trong vùng đạt mức 17 tỉ USD trong năm 2017,
tăng từ 10 tỉ USD trong thập niên trước.
Mậu dịch 2 chiều ở mức 109 tỉ USD trong năm 2018.
- Xuất
cảng của Hoa Kỳ đến các quốc gia Mekong đã tạo nên trên 1,4 triệu công
việc ở Mỹ từ năm 1999 trong các ngành kỹ nghệ như điện tử, nông sản, và
máy móc.
- Trên
33.000 sinh viên từ vùng nầy đã ghi danh vào các trường cao đẳng và đại
học trong năm 2018. Hơn 72.000
người trẻ của khu vực là thành viên của Sáng kiến Lãnh đạo Trẻ Đông Nam Á
do Hoa Kỳ chủ xướng và chánh thức ra mắt ở Manila vào tháng 12 năm 2013.
- Thái Lan là đồng minh lâu đời nhất của Mỹ ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, kéo dài 2 thế kỷ. Quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam càng ngày càng quan trọng hơn về mặt chiến lược.
Sáng kiến Hạ lưu
Mekong: Một Thập niên Xây đấp Nhân lực
Kể từ lúc thành lập vào năm 2009, Ngoại trưởng Hoa Kỳ đã họp
thường niên với 5 đối tác trong các quốc gia Mekong qua Sáng kiến Hạ lưu Mekong
(Lower Mekong Initiative (LMI)). Trong
thập niên qua, những chương trình của LMI đã giúp cho các quốc gia Mekong giải
quyết tốt hơn những thách thức xuyên biên giới về an ninh nguồn nước, thủy điện
tinh khôn, thảo kế hoạch năng lượng và hạ tầng cơ cở, và giáo dục STEM [Sciene,
Technology, Engineering and Mathematics (Khoa học, Kỹ thuật, Kiến tạo và Toán
học)]. Các dự án LMI đã cải thiện rõ
ràng cuộc sống của người dân trong vùng bằng cách:
- Giúp
cho 340.000 người có nước sạch để uống và 27.000 được cải thiện vệ sinh;
- Huấn
luyện 1.000 giáo viên (của 80.000 học sinh) trong chương trình STEM;
- Đối
tác với Singapore để huấn luyện 1.200 viên chức của các quốc gia Mekong về
vấn đề luật lệ liên quan đến sự nối kết và phát triển khả chấp, qua Chương
trình Huấn luyện Quốc gia Thứ ba;
- Nâng
cao tiêu chuẩn tiếng Anh cho 3.800 viên chức, giáo sư và học sinh;
- Trợ
giúp hàng trăm nữ chủ nhân qua 3 trung tâm thương mại;
- Khuyến khích khả năng của khu vực trong việc đối phó và phục hồi từ tình trạng khẩn cấp qua việc Thực tập và Trao đổi trong việc Đối phó Nhanh với Tai họa ở Thái Bình Dương, do Công binh Hoa Kỳ tổ chức.
Các chương trình LMI khác gồm có:
- Sáng kiến Dữ kiện Nguồn nước
Mekong, đang
phát triển như một diễn đàn tiên tiến và an toàn để củng cố vai trò của Ủy
hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) trong việc chia sẻ dữ kiện
để cải thiện việc tiên đoán lũ lụt và hạn hán;
- Đối tác hạ tầng Cơ sở Khả chấp, hỗ trợ kỹ thuật và khoa học
cho hạ tầng cơ sở thân thiện với môi trường, năng lượng sạch, và việc sử
dụng nước và đất;
- Chương trình Huấn luyện Hạ tầng
Cơ sở có Phẩm chất LMI, nhằm cải thiện khả năng của các cơ quan công quyền để thiết kế các
dự án theo tiêu chuẩn quốc tế;
- Chương trình Khoa học gia Trẻ LMI, tìm kiếm các giải pháp sáng tạo cho các bệnh tật truyền nhiễm qua côn trùng.
Những thách thức mới
Khu vực Mekong đang đối mặt với những thách thức mới, bao gồm
sự lệ thuộc vào nợ nần; việc xây đập liên miên để kiểm soát lưu lượng sông ở hạ
lưu; các kế hoạch phá ghềnh đá và nạo vét lòng sông; tuần duyên ngoài lãnh thổ;
và sự thúc đẩy của một số người muốn nhào nắn luật lệ mới để quản trị dòng sông
theo cách phá hoại các tổ chức hiện hữu.
Hoa Kỳ cam kết cộng tác với các quốc gia Mekong trong việc đối phó với
những thử thách nầy.
Hoa Kỳ cũng nỗ lực với “Thân hữu Hạ lưu Mekong (Friends of
the Lower Mekong)” để cải thiện sự phối hợp tài trợ với Ngân hàng Phát triển Á
Châu, Úc Châu, Liên hiệp Âu Châu, Nhật Bản, New Zealand, Nam Hàn và Ngân hàng
Thế giới. Cùng với các quốc gia LMI,
chúng tôi phối hợp các chương trình dựa trên giá trị, nguyên tắc và tầm nhìn
chung cho khu vực.
Bành trướng sự giao kết
của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ tiếp tục khuyến khích hạ tầng cơ sở, năng lượng, và
kinh tế số qua các chương trình được Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa
Kỳ đề ra. Hôm nay, Ngoại trưởng Pompeo
loan báo rằng Hoa Kỳ, cùng với Quốc hội, dự trù cung cấp khoảng 45 triệu USD để
bành trướng sự giao kết của chúng ta trong khu vực Mekong có tầm quan trọng
chiến lược. Những việc nầy gồm có:
- Đối
tác Nhật Bản-Hoa Kỳ về Điện lực Mekong: 29,5 triệu USD để khuyến khích và
phát triển hạ tầng cơ sở năng lượng khả chấp cho khu vực Mekong dựa trên
nguyên tắc.
- Dành
thêm 14 triệu USD cho việc chống lại tội phạm xuyên quốc gia và buôn lậu
ma túy, người, và thú hoang.
- Đối
tác với chuyên viên của Ngân hàng Thế giới, Úc, Pháp và Nhật Bản để duyệt
xét sự an toàn của 55 đập ở Lào.
- Hỗ
trợ các dự án năng lượng và hạ tầng cơ sở cho các cầu nhập cảng khí hóa
lỏng tiên tiến và các dự án nhà máy điện khí đốt, và sản xuất điện gió và
mặt trời.
- Đối
tác với Nam Hàn để áp dụng kỹ thuật vệ tinh trong việc đánh giá khuynh
hướng lũ lụt và hạn hán.
- Hỗ trợ Hợp tác Kinh tế Chiến lược Ayeyawady-Chao Praya-Mekong (Ayeyawady-Chao Praya-Mekong Economic Cooperation Strategy (ACMECS)) như là một đối tác phát triển, và bảo đảm rằng chương trình LMI sẽ phù hợp với mục tiêu của ACMECS.
Chúng tôi momg rằng những năm sắp đến sẽ là những năm của đối
tác và hợp tác để bảo đảm hòa bình, an ninh và thịnh vượng cho khu vực.
Office of the Spokesperson - Bình Yên Đông lược dịch
.
Đồng bằng sông Cửu Long đang chìm với tốc độ nhanh nhất thế giới
Ảnh:
Giáo dục thời đại
Tin
Vietnam.- Báo Tuổi Trẻ ngày 5 tháng 9 năm 2019 loan tin, nhóm các nhà nghiên cứu
của đại học Utrecht ở Hà Lan được dẫn đầu bởi nhà địa chất Philip Minderhoud vừa
công bố những thông tin liên quan đến khu vực đồng bằng sông Cửu Long ở Việt
Nam.
Theo
đó, sau khi nghiên cứu, và đo đạc thực địa, các nhà khoa học Hà Lan đã phát hiện
đồng bằng sông Cửu Long thực tế chỉ còn cao hơn mực nước biển trung bình là
0,8m, chứ không phải là 2,6m như các dữ liệu vệ tinh bình thường thông báo. Với
tốc độ chìm như hiện tại, các nhà khoa học này tính toán, chỉ trong vòng 57 năm
tới, độ cao của khu vực đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngang bằng với trung bình mực
nước biển. Đồng nghĩa với việc, có khoảng 12 triệu người dân đang sinh sống ở
khu vực trên sẽ chịu ảnh hưởng bởi nước biển dâng tăng gấp đôi so với dự báo
trước đây. Và họ sẽ phải di cư trong những năm tới.
Ông
Torbjorn E.Tornqvist, nhà địa chất thuộc đại học Tulane của Mỹ nói rằng, ông hy
vọng phát hiện mới trên sẽ đánh động với mọi người rằng, những dữ liệu mà mọi
người đang có trong tay không đúng với tầm mức của nguy cơ.
Nguyên
nhân được chỉ ra là, các vùng châu thổ được hình thành từ lớp phù sa mềm tích tụ
qua hàng ngàn năm, dễ nén, và dễ chìm. Tình trạng sụt lún có thể diễn ra nhanh
hơn vì trên thượng nguồn các con sông đổ về nơi đây đã bị chặn dòng, khiến phù
sa, hoặc nước ngầm, khí đốt bị rút khỏi lòng đất. Ngoài ra, việc xây dựng hạ tầng
đô thị, đường đi cũng làm giảm lượng nước thấm xuống lòng đất.
Các
nhà khoa học kết luận rằng, đồng bằng sông Cửu Long đang chìm với tốc độ
5cm/năm, đây là tốc độ chìm thuộc hàng nhanh nhất thế giới.
An Nhiên
Source:
Saturday, September 7, 2019
Vắng lũ khiến dân ĐBSCL lao đao!
Ruộng
lúa gần một con kênh khô hạn ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam.
Ảnh
minh họa chụp trước đây.
Theo
dự báo của Tổng cục Khí tượng thủy văn, các tỉnh ĐBSCL có nguy cơ cao xảy ra
tình trạng hạn hán, thiếu nước trong mùa khô năm 2019 – 2020.
Do
mùa mưa năm 2019 đến trễ, cộng với thời tiết nắng nóng kéo dài, nên nhiều tỉnh ở
ĐBSCL bị khô hạn vào những tháng đầu năm 2019. Thêm vào đó, từ đầu tháng 6 năm
2019 đến nay, tổng lượng mưa trên lưu vực sông Mê Kông ở mức thấp hơn trung
bình nhiều năm từ 30 - 70%, dẫn đến tổng lượng dòng chảy các trạm trên dòng
chính sông Mê Kông thiếu hụt từ 35 - 45% so với trung bình nhiều năm. Tổng cục
Khí tượng thủy văn dự báo, ĐBSCL sẽ không có lũ vào năm nay, hay lũ rất ít, mực
nước xuống thấp…
Để
tìm hiểu tình hình thực tế, hôm 5/9 RFA liên lạc ông Nguyễn Văn Nguyên, một người
trồng lúa ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, và được ông cho biết như sau:
“Năm
nay giờ này mà lũ chưa có về, hơi muộn, cho nên năm nay là thấp hơn mọi năm hết
trơn… Năm rồi lũ cũng có cao, nhưng trung bình thôi, còn mấy năm trước đó thì
cũng cạn… Ở đây nếu mình thu hoạch lúa vụ 3 xong là mình cần nước lũ về nhiều…
Và nếu nước lũ về nhiều thì những người sống nhờ nghề cá mắm cũng đỡ được vài
tháng… Còn nếu mình thu hoạch xong mà lũ về thì cánh đồng có phù sa, nữa mình xạ
vụ Đông Xuân thì tốt, nó trúng lúa…”
Với
người trồng lúa, mặc dù lũ về sẽ giúp vụ Đông Xuân vào năm tới đạt hiệu quả
cao, nhưng nếu lũ về quá cao, quá sớm, cũng có thể có nhiều rủi ro. Như năm
2018, tại ĐBSCL, lũ đạt mức trên báo động 2 sau 07 năm không có lũ lớn, nhiều
nơi vỡ đê bao, làm thiệt hại hơn 1.845 ha lúa, hơn 177 ha hoa màu…
Ông
Nguyễn Văn Nguyên cho biết, hiện vẫn chưa thu hoạch lúa vụ 3 của mình, nhưng
ông không tỏ vẻ lo lắng lắm với lý do được cho biết:
“Nếu
chưa thu hoạch lúa mà lũ về, với điều kiện không mưa, thì cũng không đến nỗi
hung… vì bờ bao khép kín rồi, bờ bao cao lắm, nước không tràn vô lúa được. Chỉ
mình mần lúa rồi mình xả bọng thì nước mới vô.”
Để
tìm hiểu thêm, hôm 5/9 RFA liên lạc anh Trí, một người nuôi cá tra ở huyện Tri
Tôn, tỉnh An Giang và được anh cho biết tại địa phương anh ở, nước có dâng,
nhưng là do mưa:
“Mấy
hôm nay lũ về nhưng do mưa, nước lớn thì nhiều, còn nước ròng thì xuống cũng xa
lắm, nên bây giờ cũng chưa biết, lệ thuộc mưa nhiều, như mấy ngày nay mưa nhiều
thì nước nhiều… nhưng so với năm rồi thì thấp hơn cả thước.”
Anh
Trí cho biết, dân miền Tây là sống chung với lũ, năm nào tới lũ, bà con nông
dân cũng mừng, nhất là dân nghèo sống nhờ chài lưới thì sẽ có nguồn thủy sản rất
lớn… Anh nói tiếp:
“Nhưng
năm nay kể như không có lũ thì cá không có, thì bà con nông dân, những người sống
nhờ chài lưới, cũng khó khăn lắm đó. Lũ thì thường theo thông lệ, tháng 5, mùng
5 tháng 5 âm lịch là nước đổ, nước đổ một thời gian thì cá sẽ đẻ, giờ không có
lũ thì cá đâu mất tiêu hết trơn, không có đẻ… Năm nay kể như không có cá… như mọi
năm thì mùa này cá linh nhóc hết trơn. Năm ngoái lũ cao lắm, năm nay lũ thấp,
lý do theo nhận định là Trung Quốc chận ba cái đập ở bển nên xuống dưới này
không có lũ… mấy nước cuối nguồn như Việt Nam, Campuchia kể như không có lũ.
Như báo An Giang đăng, năm nay biển hồ ở Campuchia không có cá luôn.”
Nạn
hạn hán và xâm nhập mặn được cho là nặng nhất trong vòng 100 năm qua,
ảnh
minh họa chụp trước đây. AFP PHOTO
Vài
năm gần đây, người dân ĐBSCL không còn được ‘sống chung với lũ’ mỗi năm nữa.
Không chỉ những người dân sống bằng nghề đáy cá hay nuôi trồng thủy sản ở
ĐBSCL, mà hầu như người dân miền tây nào cũng đều đợi mùa lũ về. Lũ không về,
không chỉ làm thất thu nguồn lợi thủy sản, giảm thu nhập của nông dân mà còn có
thể gây ra nhiều hậu quả khác. Mặc dù, đối với các nơi khác lũ là thiên tai,
nhưng đối với vùng ĐBSCL, hiện tượng ‘mất lũ’ đã dần trở thành một thiên tai…
Để
tìm hiểu thêm về nguyên nhân ‘mất lũ’, hôm 5/9 RFA đã liên lạc Thạc sĩ Nguyễn Hữu
Thiện, một nhà nghiên cứu độc lập về Đồng bằng sông Cửu Long, và được ông cho
biết như sau:
“Nguyên
nhân thứ nhất là do hiện tượng El Nino, làm mưa ít từ đầu năm cho đến đầu tháng
8, làm lượng mưa ở phía bắc Lào và đông bắc Thái Lan cực ít. Nguyên nhân thứ
hai là do thủy điện, có ba tình huống: những năm lũ thì lũ chồng lũ, những năm
bình thường thì ít ảnh hưởng đến mình, còn những năm khô hạn như năm nay thì gặp
đúng điều kiện, thủy điện sẽ tích nước, làm chậm đường đi và thời gian của nước.
Thật ra thì thủy điện không làm mất nước nhưng nó làm đảo lộn dòng chảy, chứ tổng
lượng nước thì vẫn như nhau.”
Mặc
dù hiện nay tình trạng El Nino đã chấm dứt, nhưng theo Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện,
vì nước mưa ít từ đầu năm đến giờ làm cho mực nước quá thấp, nên vẫn còn ảnh hưởng.
Theo ông, đến đầu tháng 9 rồi, nhưng nước ở Đồng bằng sông Cửu Long chưa thấy
lên, chưa thấy tràn đồng, như vậy là cực thấp.
Thạc
sĩ Nguyễn Hữu Thiện cho biết thêm về hệ lụy của việc lũ không về:
“Lũ
không về thì những người sống dựa vào lũ như những người sống bằng nghề đánh bắt
cá, người nuôi thủy sản trên đồng chuẩn bị thả con giống nhưng nước không lên
thì coi như bị khó khăn. Không có lũ thì phù sa không về, rồi chuột đồng sinh
sôi phá hại mùa màng, vì khi nước không tràn đồng thì chuột bên Campuchia tràn
qua, nhưng lại là nguồn thu cho người bắt chuột bán vì là chuột sạch. Nhưng cái
nguy hại nhất là nếu mực nước tiếp tục thấp như thế này, thì mùa khô năm sau
lúc tháng 3, dòng sông sẽ yếu, nước biển đẩy vô, gây xâm nhập mặn, như vậy có
nơi sẽ ảnh hưởng đến nước sản xuất và sinh hoạt cho vùng ven biển.”
Liệu
việc ‘mất lũ’ năm nay có gây thiệt hại cho năm 2020 như hồi năm 2015-2016? Khi
đó, do mùa mưa năm 2015 đến muộn và kết thúc sớm, dòng chảy thượng nguồn sông
Mê Kông bị thiếu hụt, mực nước thấp nhất trong vòng 90 năm, nên qua năm 2016,
xâm nhập mặn đã xuất hiện sớm hơn so với cùng kỳ hàng năm gần 2 tháng, ảnh hưởng
đến sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân.
Liên
quan vấn đề này, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện nhận định:
“Nhưng
mà được cái năm nay khá hơn năm 2016 là về nhận thức, mặc dù năm 2015 lũ thấp
nhưng người ta ít chú ý đến việc qua Tết sẽ bị mặn. Từ kinh nghiệm 2015-2016, đến
nay 2019-2020 thì mọi người đã biết hết rồi, cho nên chuyện mặn qua Tết có thể
giải quyết được. Tức là người ven biển có thể trữ nước cho sinh hoạt, còn sản
xuất thì người ta cũng biết nếu gay gắt như vậy thì người ta sẽ tránh né, chuyển
lịch thời vụ, thì cũng sẽ tránh được thiệt hại.”
Không
chỉ khô hạn đe dọa nhiễm mặn tại ĐBSCL, tình trạng sụt lún tại vùng đất này
cũng sẽ khiến diện tích đất nhiễm mặn tăng nhanh.
Hôm
28/8/2019, nhóm nghiên cứu của Đại học Utrecht, Hà Lan, do nhà địa chất Philip
Minderhoud đã công bố dữ liệu mới nhất về tốc độ chìm của vùng ĐBSCL. Sau quá
trình nghiên cứu và đo đạc trên thực địa, học giả Minderhoud và các cộng sự
phát hiện khu vực hạ nguồn sông Mekong - tức ĐBSCL, thực tế chỉ còn cao hơn mực
nước biển trung bình 0,8m, theo nhóm này là chênh lệch gần 2m so với các dữ liệu
vệ tinh thường được trích dẫn là 2,6m.
Theo
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, việc đồng bằng sụt lún nhanh là điều đáng sợ, đáng lo
là đúng rồi, tuy nhiên ông nói tiếp:
“Tôi
chưa đọc kỹ, nên chưa tiện để bình luận nhiều. Nhưng tôi rất lấy làm lạ, là ông
ấy nói mức 2.6m, hồi trước tới giờ tôi chưa từng nghe đồng bằng ở cao trình
2.6m bao giờ. Trước giờ mình vẫn nghe là trung bình từ 0.8 đến 1.2m là chuyện
bình thường từ xưa đến giờ, thì chúng ta đang lún nhanh là đúng, còn nếu có người
nói 1.5m là do cộng luôn cao trình ở núi ở An Giang rồi cộng trung bình… 2.6m
thì tôi rất ngạc nhiên, tôi đang tìm hiểu nên chưa tiện bình luận.”
Còn
Tiến sĩ Đặng Kim Sơn thì cho rằng Chính phủ Việt Nam cần phải tìm mọi cách ngăn
chặn sụt lún ở vùng đồng bằng, vì không chỉ giúp ổn định việc canh tác, trồng
lúa và trái cây mà còn ổn định đời sống của người nông dân và các vấn đề về cơ
sở hạ tầng khác.
SOURCE:
https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/the-mekong-delta-has-no-floods-this-year-09052019171519.html
Wednesday, September 4, 2019
HUYỀN THOẠI VÀ THỰC TẾ VỀ ĐẬP VÀ HẠN HÁN
(Myth and realities
about dams and droughts)
Asit K. Biswas và Cecilia Tortajada – Bình Yên Đông lược dịch
China Daily – June 26, 2017
Đập Hạ Sesan 2 ở Cambodia [Ảnh: AFP]
Có nhiều điều đã được nói đến về việc xây dựng các đập thủy
điện trên thượng nguồn của sông Mekong, đặc biệt là sông Lancang [tên gọi sông
Mekong] ở Trung Hoa, và vai trò của chúng đối với tình trạng hạn hán ở đồng
bằng sông Cửu Long ở Việt Nam (ĐBSCL).
Nhiều nhà hoạt động môi trường và xã hội cáo buộc các đập của Trung Hoa
đã làm giảm lưu lượng của sông, gây thiệt hại nghiêm trọng cho việc canh tác
lúa và giúp cho nước mặn xâm nhập vào ĐBSCL.
Hãy để chúng tôi xem xét sự kiện và tính hợp lý của các cáo
buộc nầy một cách khách quan.
Quả thật hạn hán đã giáng một đòn chí tử vào nông nghiệp, lâm
nghiệp và kỹ nghệ thủy sản ở ĐBSCL trong năm qua. Dữ kiện chánh thức cho thấy mức tăng trưởng
của các thành phần nầy chỉ đạt 1,36%, mức thấp nhất kể từ năm 2011. Hạn hán cũng có ảnh hưởng kinh tế, xã hội và
môi trường quan trọng vì nó ảnh hưởng đến việc sản xuất và xuất cảng lúa, cà
phê và tôm.
Có nhiều lý do khiến Việt Nam đang đối mặt với tình trạng
thiếu nước nghiêm trọng. Trước hết là
thay đổi khí hậu. Theo Ngân hàng Thế
giới, Việt Nam là một trong số 5 quốc gia chịu ảnh hưởng của thay đổi nặng nề
nhất. Năm ngoái, hạn hán do hiện tượng
El Nino gây ra đã giảm sản lượng cà phê robusta ở cao nguyên và lúa ở
ĐBSCL. Việt Nam là nước sản xuất cà phê
robusta lớn nhất và nước xuất cảng lúa đứng hàng thứ ba trên thế giới.
Việt Nam không thể làm gì được để giảm chu kỳ hạn hán do hiện
tượng El Nino. Nhưng, dĩ nhiên, quốc gia
nầy có thể áp dụng các biện pháp để tiết kiệm nước dùng cho nông nghiệp. Các biện pháp nầy bao gồm việc thay đổi lối
canh tác, luân canh, cải tiến quản trị và kỹ thuật để giảm nhu cầu nước mà
không ảnh hưởng đến lợi tức của nông dân.
Đối với việc xây dựng các đập thủy điện của Trung Hoa mà một
số người cáo buộc là nguyên nhân của tình trạng thiếu nước ở ĐBSCL, chúng ta
phải công nhận rằng nhu cầu nước và điện của các quốc gia duyên hà – Trung Hoa,
Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam – đang gia tăng đều đặn. Và vì cần nhiều điện cho kỹ nghệ hóa, 6 quốc
gia nầy xem sông Mekong và phụ lưu của nó như những nguồn năng lượng quan
trọng.
Đập Mạn Loan cao 132 m, đập đầu tiên do Trung Hoa xây trên
sông Lancang, đi vào hoạt động vào năm 1995 và sản xuất gần 1.750 MW. Từ đó, 11 đập thủy điện đã được xây trên hệ
thống sông Mekong, 6 đập ở Trung Hoa, và một số khác sẽ được xây để đáp ứng nhu
cầu điện năng của Á Châu.
Nhưng các đập thủy điện có gây thêm hạn hán cho Việt Nam hay
không? Trước hết, các đập như thế không
tiêu thụ nước. Sau khi chạy máy phát
điện, nước sẽ được trả trở lại sông. Vì
các đập trữ nước lũ trong mùa mưa và xả ra sông quanh năm, chúng gia tăng lưu
lượng của sông trong mùa khô. Điều nầy
có thể nói, nếu đập chỉ được dùng để sản xuất điện trên dòng chánh Mekong và
các phụ lưu ở Trung Hoa, Lào và Thái Lan, chúng không làm giảm lưu lượng của
sông ở ĐBSCL trong mùa khô.
Cơ cấu quản trị lưu vực sông Mekong chưa hoàn hảo. Vào năm 1957, Cao ủy Kinh tế Á Châu và Viển
Đông của Liên Hiệp Quốc (UN Economic Commission for Asia and the Far East
(ECAFE)) thành lập một Ủy ban Phối hợp Điều tra Hạ Lưu vực Mekong (Committee
for Coordination of Investigations of the Lower Mekong Basin) như là một cơ cấu
tự trị, thường được gọi là Ủy ban Quốc tế Mekong (Mekong Committee (MC)), với 4
quốc gia thành viên [Thái Lan, Lào, Cambodia và Nam Việt Nam]. Sáu mươi năm sau ECAFE trở thành Cao ủy Kinh
tế Xã hội Á Châu và Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc (UN Economic and Social
Commission for Asia and the Pacific (ESCAP)), và Ủy ban Quốc tế Mekong đổi
thành Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)). Trung Hoa và Myanmar không phải là thành viên
của các tổ chức nầy. MRC, cùng với MC,
đã chi tiêu hàng trăm triệu USD trong 6 thập niên qua nhưng chưa thực hiện được
một dự án khu vực quan trọng nào. Kết
quả là tiềm năng của sông Mekong vẫn chưa được khai thác trong các quốc gia
duyên hà.
Nói cách khác, hiệu quả của MC và MRC rất khiêm nhường. Trong điều kiện đó, nhu cầu cấp thiết là kiến
tạo một cơ chế quản trị có hiệu quả, trong đó, tất cả các quốc gia duyên hà có
thể cùng nhau phát triển khu vực Mekong để cải thiện đời sống và sinh kế của
gười dân ở trong vùng. Nhưng không có
dấu hiện nào cho thấy điều nầy sẽ xảy ra trong tương lai trước mắt. Thay vào đó, dũng khí chánh trị để hợp tác
dường như đang lu mờ, ít nhất qua sự hỗ trợ của MRC. Vì vậy, các quốc gia duyên hà nên khẩn thiết
soạn thảo một chương trình phát triển phối hợp và khả chấp cho khu vực Mekong
để khai thác triệt để tiềm năng của dòng sông.
Sơ lược về tác giả
Asit K. Biswas là giáo sư thỉnh giảng đặc biệt của Trường
Chánh sách Công cộng Lee Kuan Yew, Đại học Quốc gia Singapore. Cecilia Tortajada là học giả ở Viện Chánh
sách về Nước của Trường Chánh sách Công cộng Lee Kuan Yew và là chủ bút của tờ
International Journal of Water Resources Development.
Asit K. Biswas và
Cecilia Tortajada – Bình Yên Đông lược dịch
Subscribe to:
Posts (Atom)
















