Monday, September 3, 2018

Thêm góp ý cho Dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé



 "Việc xây cống Cái Lớn – Cái Bé trong lúc này là chưa cần thiết!" - TS Dương Văn Ni góp ý về Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé.
Nhận được góp ý tâm huyết của TS Dương Văn Ni, Khoa MT&TNTN, Đại học Cần Thơ về Dự án thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé , báo Đất Việt xin trân trọng giới thiệu bài viết của ông.
"Ngày 28/5 tại Cần Thơ, tôi được nghe nhóm chuyên gia tư vấn độc lập trình bày những tóm tắt và nhận xét dự án và đọc Báo cáo ĐTM - Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé (giai đoạn 1) của Viện Kỹ thuật Biển - năm 2017, tôi xin góp các ý sau:

1. Về cơ sở pháp lý, thì Nghị quyết 120/NQ-CP ra đời ngày 17/11/2017 là một nghị quyết rất tiến bộ về mặt sử dụng tài nguyên và môi trường như: Xem biển là một phần không tách rời của ĐBSCL, xem nguồn nước mặn là tài nguyên, và phát triển trên nguyên tắc “thuận thiên” (Mục 4. Các giải pháp tổng thể, phần b.). Trong khi đó quyết định 498/QĐ-TTg phê duyệt Chủ trương đầu tư dự án ký ngày 17/4/2017, tức là trước khi có nghị quyết 120 đúng 7 tháng. Vậy dự án Cái Lớn – Cái Bé có điều chỉnh gì theo nghị quyết 120 không?

 Tiến sĩ Dương Văn Ni



2. Về mục tiêu “kiểm soát nguồn nước mặn” thì không rõ ràng, bởi chưa chứng minh được các câu hỏi sau:

- Nguồn nước mặn nào? Nếu nhìn vào bản đồ ĐBSCL thì phía Tây-Nam sông Hậu từ Châu Đốc đến Sóc Trăng không có một nhánh sông nào từ sông Hậu chảy ra đến biển Tây. Vì vậy, đất vùng bán đảo Cà Mau không phải do phù sa sông Hậu bồi lắng trực tiếp, mà là do phù sa từ phía biển (coastal plain), như mũi Cà Mau mấy năm trước mỗi năm kéo dài ra hàng chục mét mà nước sông Hậu đâu có chảy tới đó. Đất ở đây được bồi tụ trong môi trường nước mặn, tức là trong đất có sẵn muối. Mỗi năm khi mùa khô đến thì muối trong đất bị mao dẫn lên mặt đất. Khi các trận mưa đầu mùa đến, nước mưa hòa tan các muối này và đổ vào sông rạch. Như vậy là có hai nguồn nước mặn: Nước mặn từ phía biển và nước mặn hình thành tại chỗ do muối tan ra từ trong đất. Vậy mục tiêu của dự án chỉ kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển (xây cống) liệu có đúng?

- Tại sao phải kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển? Vùng bán đảo Cà Mau, mỗi năm lượng nước mưa >2,000 mm và người dân ở đây biết cách tận dụng nước mưa rửa mặn lớp đất mặt (20-30 cm) để trồng lúa; hoặc lên liếp cao ráo rồi sau vài năm hết mặn thì có thể trồng rau màu hay cây ăn trái.
Cũng vì đất được phù sa bồi lắng trong môi trường nước mặn hoặc lợ nên trong đất hình thành vật liệu sinh phèn (pyrite-FeS2), người dân gọi là đất phèn tiềm tàng. Tức là vật liệu sinh phèn này nếu được giữ trong môi trường yếm khí thì vô hại, nhưng nếu để tiếp xúc với không khí thì chúng bị oxy hóa và sinh ra phèn làm nước và đất trở nên rất chua, cây trồng và vật nuôi không thể sống được. 

Do đó, tại các vùng đất phèn tiềm tàng này không ai dám để bị khô, người dân đã biết cách đưa nước mặn vào ruộng vừa để “ém phèn”, vừa để khai thác thủy sản tự nhiên có sẵn trong nguồn nước mặn như cá kèo, cá đối, cua, tép bạc và hiện nay là nuôi tôm sú. Kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển thì ảnh hưởng nguồn lợi thủy sản này ra sao?
Nếu không cho nước mặn vào thì cũng phải có nguồn nước khác thay thế để ém phèn. Nguồn nước ngọt từ sông Hậu thì chảy không tới nên chỉ còn nước mưa, vậy nếu hạn hán xảy ra thì lấy nguồn nước nào để ém phèn?



Một cánh đồng lúa đang trổ bông tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu bị “xèo” do mặn trong đất xì lên vì không có mưa. Người dân chấp nhận bỏ vụ lúa, sên mương để chuẩn bị đưa nước mặn vào nuôi vụ tôm sú. Ảnh: TS Dương Văn Ni
 
3. Mục tiêu “giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu và tỉnh Sóc Trăng thuộc lưu vực sông Cái Lớn - Cái Bé.


- Mâu thuẫn ở đây là gì? Trong đề cương dự án phân tích đó là mâu thuẫn mặn-ngọt. Ở đây, nơi nào gò hơn thì xẻ mương phèn trồng lúa do dễ tiêu thoát nước còn nơi nào đất trũng thấp (đất láng) thì bao vuông nuôi tôm sú, nên đất nông nghiệp xen kẻ với đất nuôi trồng thủy sản. 

Cách sử dụng nước là nếu cần bơm nước ngọt cho lúa thì người dân chọn lúc nước ròng và nếu cần bơm nước mặn cho tôm thì người ta chọn lúc nước lớn, có mâu thuẫn gì đâu?

Trong thời gian qua có xảy ra xung đột là do các hộ nuôi tôm thâm canh giữ nước mặn quanh năm, nên lúc xung quanh người ta trồng lúa thì họ vẫn giữ mặn và làm mặn xì ra ảnh hưởng đất nông nghiệp xung quanh. Nếu giữ cách canh tác truyền thống là trên cùng một thửa ruộng, mùa nắng thì lấy nước mặn vào nuôi tôm, mùa mưa xổ mặn xong trồng lúa (mô hình lúa-tôm), tức là người dân biết cách canh tác theo mặn-ngọt ngay trên cùng một thửa ruộng và cả xóm làng làm nhịp nhàng hết vụ lúa đến vụ tôm nên mấy chục năm qua đâu có mâu thuẫn gì. Bây giờ kiểm soát mặn trên sông rạch để giữ nước ngọt nhiều hơn, liệu người dân có đồng thuận? 

Lưu ý là người dân rất muốn kiểm soát mặn, nhưng cần hỏi cho rõ là họ muốn kiểm soát mặn ở đâu? Lúc nào? Trên cây trồng vật nuôi nào? Bài học về việc người dân đòi phá bỏ cống Láng Trâm (dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau) để có đủ nguồn nước mặn cho nuôi trồng thủy sản vẫn còn nguyên giá trị.

- Ảnh hưởng đến đất lúa: Vùng này trước năm 1980 chỉ canh tác một vụ lúa mùa/năm chủ yếu dựa vào nước mưa và trên đất có địa hình cao do dễ tiêu nước nên rửa phèn mặn nhanh hơn đất ở địa hình trũng thấp.
Khi phát triển những giống lúa cao sản ngắn ngày, thì các ruộng ở địa hình cao là nơi đầu tiên tăng từ một vụ lúa mùa lên hai vụ lúa cao sản trong năm, gọi là vụ một và vụ hai; vụ một khoảng tháng Bảy đến tháng Chín và vụ hai từ tháng Mười đến tháng Mười Hai, dần dà do có các cống đập giữ được nước ngọt trong mùa khô nên vài nơi làm cả vụ ba từ khoảng tháng Giêng đến tháng Tư.

Dù có nguồn nước ngọt nhưng người dân hạn chế canh tác từ khoảng tháng Năm đến tháng Sáu là để “né” nguồn nước bị ô nhiễm phèn mặn vào đầu mùa mưa. Riêng các vuông trũng thì mô hình Lúa – Tôm đã được áp dụng và còn duy trì cho đến ngày nay.
Đáng quan tâm là việc tăng vụ đó làm kéo dài thời gian canh tác cây lúa sang đầu mùa khô nên cần nước ngọt tưới bổ sung cho lúa vụ hai và vụ ba trong suốt thời gian không có mưa từ tháng Mười Một đến tháng Tư.
Do đó, nguồn nước mặn xâm nhập từ biển nếu có gây ra thiệt hại thì chỉ xảy ra trên lúa vụ hai muộn hoặc lúa vụ ba xuống giống sớm, mà diện tích này không nhiều, nên hiệu quả kinh tế của dự án cho sản xuất nông nghiệp là không rõ ràng!

4. Mục tiêu “góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang”.
Thủy sản này là nuôi trồng hay đánh bắt tự nhiên? Năng suất thủy sản nuôi trồng của khu vực này là rất thấp so với thủy sản đánh bắt tự nhiên trên sông rạch và vùng biển tiếp giáp. Trong đó có rất nhiều loài thủy sản sử dụng sông rạch như là bãi đẻ và vùng biển tiếp giáp là bãi ăn, và nhiều loài thì sử dụng ngược lại. Vì vậy lúc nước lớn là lúc nhiều loài thủy sản từ biển vào sông rạch để sinh sôi và kiếm ăn. Vậy việc đóng cống lúc này sẽ làm ảnh hưởng ra sao?

5. Mục tiêu “chủ động ứng phó với BĐKH-NBD, tạo nguồn ngọt cho vùng ven biển”.
Nếu xảy ra hạn hán kéo dài, mặn-phèn trong đất xì lên làm ảnh hưởng cây trồng thì nguồn nước ngọt giữ được (?) trong các sông rạch liệu có đủ để bơm vào đồng ruộng mà pha loảng độ mặn-phèn này không? Rồi thì rửa lượng mặn-phèn này đi đâu? 

Giả như hạn hán kiểu năm 2015-2016 thì mực nước sông Hậu thấp hơn bình thường rất nhiều, vậy nếu có xây thêm trạm bơm bổ sung từ Cần Thơ thì chưa chắc có đủ nước ngọt mà bơm, mà có bơm thì chưa chắc nước chảy được vì nếu bơm thì phải bơm lúc nước ròng từ sông Hậu để không bị mặn, nhưng phía biển Tây coi chừng lại là nước lớn vì có hai chế độ triều khác nhau. Những tình huống này trong đề cương của dự án chưa đưa ra được giải pháp, chứ chưa nói là đánh giá giải pháp đó có khả thi hay không?

6. Mục tiêu “tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn”.
Có lẽ đây là mục tiêu mà từ các giải pháp đến tính khả thi đều rất kém thuyết phục nhất. Sự di chuyển nước của vùng bán đảo Cà Mau là nhờ hai chế độ triều khác nhau giữa biển Đông (bán nhật triều) và biển Tây (nhật triều) và mực nước trên sông Hậu, mà chúng tạo ra lực hút - đẩy rất nhịp nhàng, làm cho nước di chuyển trong toàn vùng và di chuyển theo hướng từ Đông sang Tây (1).
Hệ thống cống đập trên quốc lộ 1 (dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau), vận hành theo cách đóng cống lúc nước lớn và mở cống lúc nước ròng trong mùa khô, đã làm mất sức đẩy nước từ biển Đông sang biển Tây rất nhiều, nên tạo ra những vùng nước không chảy (giáp nước). Do các khu vực đông dân cư, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản…của nơi đây chưa có hệ thống xử lý nước thải, nên đã gây ra ô nhiễm nguồn nước trầm trọng. Bây giờ thêm cống Cái Lớn – Cái Bé cũng vận hành như trên thì sẽ mất luôn sức đẩy của nước từ phía biển Tây, vậy tình trạng ô nhiễm nguồn nước nơi đây sẽ ra sao?
Tốc độ lún sụt hiện nay của khu vực Cà Mau nhanh hơn nơi dự kiến xây cống Cái Lớn – Cái Bé, tức là trong tương lai rất gần thì vùng Cà Mau sẽ thấp hơn, vậy làm sao cho nước chảy từ chỗ thấp lên chỗ cao mà gọi là tiêu úng? Rồi có phải xây thêm trạm bơm không?

7. Vùng Tây Nam sông Hậu đã có ba dự án thủy lợi “khủng” là: Thoát lũ ra biển Tây, Ô Môn – Xà No và Ngọt hóa bán đảo Cà Mau. Vậy thì dự án Cái Lớn – Cái Bé này sẽ có những tác động tích cực và tiêu cực nào đối với các dự án nói trên?

8. Đề nghị Bộ NN-PTNT, cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì dự án, công bố tất cả các tài liệu liên quan về dự án lên cổng thông tin điện tử cho mọi người được tham gia đóng góp ý kiến.

9. Với quá nhiều điểm chưa rõ ràng, chưa chứng minh được về mặt khoa học và với số tiền hơn 3,300 tỷ đồng của giai đoạn 1 (giai đoạn 2 khoảng 5,000 tỷ đồng). Số tiền này chính phủ phải đi vay và người dân phải đóng góp để trả nợ, nên tôi xin kết luận là: Việc kiểm soát mặn khu vực này là cần thiết, nhưng nên làm bằng cách chọn giống chịu mặn + kỹ thuật canh tác + quản lý đồng ruộng phù hợp cho từng tiểu vùng sinh thái, việc xây cống Cái Lớn – Cái Bé trong lúc này là chưa cần thiết!

 Chú thích:
(1)  Nguồn: Accelerating Poverty Elimination through Sustainable Resource Management in Coastal Lands Protected from Salinity Intrusion: A Case Study in Vietnam, IRRI ref: DPPC2000-02.

TS Dương Văn Ni

Source:


.
 

No comments:

Post a Comment