Friday, October 27, 2023

HẠN HÁN KHÍ TƯỢNG VÀ THỦY HỌC TRONG LƯU VỰC SÔNG LANCANG-MEKONG: LỀ LỐI KHÔNG GIAN-THỜI GIAN VÀ LAN TRUYỀN

(Meteorological and Hydrological Droughts in the Lancang-Mekong River Basin: Spatiotemporal Patters and Propagation)

 

Xuan Luo, Xian Luo, Wenting Ming, Lin Wang, Xin Xiao, Jianan Xu, Yue Liu and Yungang Li – Bình Yên Đông lược dịch

Atmospheric Research – 5 July 3023

 

Sông Mekong khô cạn vì hạn hán. [Ảnh: Firstpost]

 

1. Phần giới thiệu

Hạn hán là khí hậu cực đoan phát triển chậm, lan rộng và kéo dài, ảnh hưởng sâu đậm đến việc phát triển nông nghiệp, kinh tế xã hội, và môi trường sinh thái (Mishra and Singh, 2010; Zhang et al., 2022c).  Hạn hán thường được chia làm 4 loại: hạn hán khí tượng (meteorological drough (MD)), hạn hán nông nghiệp (agricultural drought (AD)), hạn hán thủy học (hydrological drought (HD)), và hạn hán xã hội-kinh tế (social-economic drought (SED)) (Wilhite and Glantz, 1985).  Những loại hạn hán khác nhau được công nhận tác động qua lại lẫn nhau (Van Loon and Van Lanen, 2012; Guo et al., 2020).  MD được gây ra vì thiếu mưa và thường biến thành HD hay AD qua chu kỳ thủy học, khiến không có đủ nguồn nước để dùng cho môi trường (Ma et al., 2019; Zhou et al., 2021a).  Trong số những loại hạn hán nầy, HD, được ám chỉ như thiếu hụt nước mặt và nước ngầm (Mishra and Singh, 2010; Van Loon, 2015), là loại hạn hán gay gắt nhất vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thủy nông, kỹ nghệ, và việc cung cấp nước (Zhu et al., 2016; Bhardwa et al., 2020).  Hiểu được những đặc tính  không gian-thời gian của MDs và HDs, gồm có những cơ chế lan truyền của chúng, vô cùng quan trọng cho việc quản lý nguồn nước.

Một vài nguyên cứu đã giới thiệu nhiều chỉ số hạn hán khác nhau để theo dõi sự xảy ra và lan truyền của hạn hán.  Thí dụ, chỉ số mưa tiêu chuẩn hóa (standardized precipitation index (SPI)) (McKee et al., 1993) và chỉ số mưa bốc thoát hơi tiêu chuẩn hóa (standardized precipitation evapotranspiration (SPEI)) (Vicente-Serrano et al., 2010) là 2 chỉ số MD đại diện, có thể được dùng để nghiên cứu hạn hán cho nhiều qui mô thời gian khác nhau.  Theo đường lối tính toán của SPI, chỉ số chảy tràn tiêu chuẩn hóa (standardized runoff indes (SRI)) (Shukla and Wood, 2008) và chỉ số dòng chảy tiêu chuẩn hóa (standardized streamflow index (SSI)) (Vincente-Serrano et al., 2012) được dùng rộng rãi để theo dõi HD.

Một số nghiên cứu đã điều tra những đặc tính lan truyền từ MD đến HD trong những thập niên qua, gồm có mức lan truyền, thời gian từ lúc bắt đầu đến lúc chấm dứt (lag time), và thời gian đáp ứng (response time) (Zhang et al., 2021c).  Các mô hình thống kê thường không thể thiếu để nghiên cứu sự lan truyền của hạn hán.  Thí dụ, lý thuyết chạy (run theory) (Ho et al., 2021; Wu et al., 2021b), phân tích liên hệ (correlation analysis) (Barker et al., 2016), và các phương pháp đáp ứng không thẳng hàng (nonlinear response) (Wu et al., 2017a), phân tích sóng lăn tăn (wavelet analysis) (Huang et al., 2017. và mô hình Copula and Baysesian (Sattar and Kim, 2018).  Ngoài các mô hình thống kê, các phương pháp mô phỏng thủy học rất hữu ích để đánh giá sự lan truyền của hạn hán (Ma et al., 2019; Wang et al., 2019b; Wu et al., 2019; Zhang et al., 2022c).  Nói chung, những nghiên cứu nầy hầu hết dựa trên quan sát thước nước; tuy nhiên, dữ kiện quan s thường không có sẵn ở những nơi hiếm dữ kiện.  Do đó, dữ kiện tái phân tích toàn cầu có thể dùng để thay thế trong việc phân tích lan truyền của hạn hán (Ding et al., 2021).

Khi MD tiến đến HD qua chu kỳ thủy học trên mặt đất, các yếu tố thời tiết và đặc tính của lưu vực cùng có trách nhiệm cho mối liên hệ nầy (Van Loon, 2015; Van Loon and Laaha, 2015).  Vai trò của những yếu tố quyết định tùy thuộc nặng nề vào kích thước của qui mô không gian.  Trên toàn cầu, HD có thể liên quan nhiều đến điều kiện khí hậu hơn các đặc tính của lưu vực (Van Loon and Laaha, 2015).  Tuy nhiên, ở qui mô khu vực, nơi khí hậu tương đối đồng nhất, các đặc tính của lưu vực có ảnh hưởng đáng chú ý đến sự lan truyền của HD (Barker et al., 2016; Valiya Veettil and Mishra, 2020; Konapala and Mishra, 2020; Wu et al., 2021a).  Trong các lưu vực bị xáo trộn, những hoạt động của con người như làm đầy các hồ chứa nước, chuyển nước, dẫn tưới đất, và thay đổi cách sử dụng đất đã chúng minh là những yếu tố quan trọng và không thể bỏ qua trong việc xác định sự lan truyền của HD (Wu et al, 2018a; Wang et al., 2019b; Ma et al., 2019; Wu et al., 2019; Yang et al., 2020).

Sông Lancang-Mekong (LMR) được biết như một Thủy lộ Vàng nối liền Trung Hoa và Đông Nam Á (ĐNA), và lưu vực của nó là nơi cư trú của 65 triệu người (Sabo et al., 2017).  Khoảng 60% của dân số Mekong dựa vào nông nghiệp để sống còn, và hạn hán tái diễn đe dọa an ninh nước và lương thực trong lưu vực nầy.  Lưu vưc sông Lancang-Mekong (LMRB) đã trải qua nhiều trận hạn hán nghiêm trọng và kéo dài trong 20 năm qua (Tran et al., 2019; Loc et al., 2021; Kang et al., 2021).  Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng thay đổi khí hậu sẽ gia tăng tần suất và tính nghiêm trọng của hạn hán trong LMRB trong tương lai (Dong et al., 2022; Kang et al., 2022; Li et al., 2021a; Thilakarathne and Sridhar, 2017); tuy nhiên, sự lan truyền của hạn hán từ MD đến HD vẫn chưa rõ.  Trong  nghiên cứu nầy, chúng tôi thực hiện một đánh gia qui mô tiểu khu vực của sự lan truyền hạn hán trong LMRB và mối liên hệ của nó với khí hậu và những đặc tính của khu vực.  Mục đích là (1) xác định và phân tích những đặc tính không gian-thời gian của MDs và HDs, (2) xác định thời gian lan truyền hạn hán (DPT) từ MD đến HD, và (3) thăm dò các yếu tố tiềm tàng ảnh hưởng đến DPTs.  Kết quả có thể đưa đến một nhận thức tốt hơn về cơ chế lan truyền hạn hán và làm dễ dàng hơn việc quản lý nguồn nước của LMRB.

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Monday, October 23, 2023

NGÂN SÁCH KHAI THÁC CÁT ĐƯỢC ĐO ĐẠC CÓ HỆ THỐNG MỚI CHO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TIẾT LỘ CHIỀU HƯỚNG GIA TĂNG VÀ ƯỚC TÍNH KHỐI LƯỢNG THẤP ĐÁNG KỂ

 (New Systematically Measured Sand Mining Budget for the Mekong Delta Reveals Rising Trends and Significant Volume Underestimations)

Charles-Robin Gruel, Edward Park, Adam D. Switzer, Sonu Kumar, Huu Loc Ho, Sameh Kantoush, Doan Van Binh and Lian Feng – Bình Yên Đông lược dịch

International Journal of Applied Earth Observations and Geo Information – 2022

 


1. Phần giới thiệu

Nhu cầu cát gia tăng cho việc xây cất và đấp nền, châm ngòi bởi tăng trưởng dân số và kinh tế nhanh chóng ở Á Châu, tạo nên mức khai thác cát sông chưa từng thấy (de Leeuw et al., 2010; Dan Gravrietea, 2017; Torres et al., 2017; UNEP, 2019; Best, 2019) trong những thập niên gần đây.  Việc lấy cát từ đáy sông thường không được kiểm soát trong nhiều quốc gia Nam và Đông Nam Á (ĐNA) và khối lượng và ảnh hưởng phần lớn vẫn còn ẩn núp khi những người khai thác chìm xuống.  Tuy nhiên, cát sông là một tài nguyên có hạn và phải được quản lý thích hợp để tránh những thay đổi tai hại cho thủy học của sông có thể châm ngòi cho những biến đổi không thể đảo ngược của những hệ thống tự nhiên và sinh thái-xã hội.  Những biến đổi nầy có thể gồm có cuộc sống và làm suy thoái đáng kể các dịch vụ sinh thái (Kondolf, 1997; Kondolf et al. 2014; Loc et al., 2017; Lamb et al., 2019).

Khai thác cát có những hậu quả ngắn hạn lẫn dài hạn.  Ảnh hưởng ngắn hạn của việc khai thác cát gồm có sạt lở bờ sông, đáy sông bị cắt, và thay đổi mực nước ngầm trong khi trong dài hạn, khai thác cát có thể làm tổn thương nguồn cung cấp nước toàn đồng bằng, tăng cường sự xâm nhập của nước mặn, và làm giảm nối kết đồng lụt (Kondolf, 1997; Torres et al., 2017; Beiser, 2018; Park et al., 2020; Park et al., 2021; Loc et al., 2021).  Mặc dù có những hậu quả được biết rõ nầy, nghiên cứu về khai thác cát bị hạn chế bởi thiếu dữ kiện khu vực về những ngân sách khai thác phần lớn được thúc đẩy bởi sự vắng mặt không còn hy vọng của những hệ thống theo dõi hữu hiệu (Peduzzi, 2014).

Khai thác cát bất hợp pháp hay thiếu kiểm soát là một vấn đề toàn cầu (Koehnken and Rintoul, 2018).  Điều nầy đặc biệt đáng lo ngại ở Á Châu trong các nước như Việt Nam, Cambodia và Lào nơi thiếu rõ rệt các khuôn khổ kiểm soát và cấp giấy phép, cùng với việc theo dõi không hữu hiệu (Nguyen, 2011; Bravard et al., 2013; Koehnken and Rintoul, 2018; Koehnken et al., 2020).  Vì đều hành đại qui mô bắt đầu trong thập niên 1990s, sông Mekong ở Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi việc nạo vét đáy sông đáng kể (Bravard et al., 2013).  Khai thác cát trong Mekong phần lớn được thực hiện bằng xáng cạp cơ giới trên các xà lan để cung cấp cho 1 đoàn tàu hay xà lan.  Các hoạt động nạo vét có khuynh hướng ở trong cùng vùng chuyển nhượng cho đến khi hết cát hay giấy phép khai thác cát hết hạn (Ng and Park, 2021).

Ở Việt Nam, việc cấp giấy phép được phân quyền vào năm 2005, thay đổi từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh, gây ra một sự gia tăng lũy tiến trong số giấy phép khai thác cát được cấp ra (Schiappacasse et al., 2019).  Việc phân quyền cũng ngăn cản nghiêm trọng khả năng xác định con số chính xác và khả năng hoạt động của doanh nghiệp đang hoạt động.  Điều nầy có lẽ do hạn chế về nhân sự và khả năng kỹ thuật trong chánh quyền tỉnh, cũng như việc phối hợp hạn chế giữa các bộ liên hệ (Schiappacasse et al., 2019).  Chánh phủ Việt Nam tiên đoán nhu cầu của cát từ đáy sông vào khoảng 2,1 đến 2,3 tỉ m3 từ năm 2016 đến 2020 và những tiên đoán hiện nay nằm ở 1,5 tỉ m3 vào năm 2040 ở Đồng bằng sông ửu Long (ĐBSCL) (SIWRP, 2015; Koehnken and Rintoul, 2018; Eslami et al., 2019).  Tuy nhiên, các ước tính chính xác của việc lấy cát trong ĐBSCL vẫn không được biết và tài liệu khoa học đề nghị rằng khối lượng cát được khai thác có lẽ khác đáng kể với các số thống kê chánh thức (Jordan et al., 2019).  Kết quả là, không chỉ đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động khai thác cát từ đáy sông rất phức tạp vì qui mô rộng lớn và môi trường năng động, nó cũng làm phức tạp thêm bởi quyền kiểm soát hạn chế trong những quốc gia bị ảnh hưởng.  Vì thế, có sự cần thiết cấp bách để cứu xét những đường lối mới lạ để đánh gia việc khai thác cát từ đáy sông dựa trên khu vực.

Nhiều hệ quả tiêu cực của các hoạt động khai thác cát bất hợp pháp hay không kiểm soát ở ĐNA đã bắt đầu đi vào đàm luận môi trường.  Trong vùng ĐBSCL, những ý định đáng chú ý trong việc định lượng những ngân sách cát gồm có Bravard et al. (2013) đã khảo sát nhửng người khai thác và cung cấp một tóm lược của việc khai thác đáy sông gia tăng mạnh dọc theo Mekong; Brunier et al. (2014) phân tích một bộ dữ kiện về độ sâu ở ĐBSCL từ năm 1998 đến 2008 và làm nổi bật thêm ảnh hưởng của việc khai thác cát quá mức; Anthony et al. (2015) đi xa hơn việc khảo sát để liên kết sạt lở bờ sông ở đồng bằng với việc khai thác cát sông; và Eslami et al. (2019), phân tích sự xâm nhập của nước mặn được khuếch đại một phần bởi khai thác cát ở đáy sông mạnh mẽ.

Đối với đường lối ngân sách, Jordan et al. (2019) đo đạc khối lượng cát được lấy dọc theo một khúc sông ngắn (20 km) của sông Tiền và cung cấp những ngân sách lấy cát chi tiết trong những tỉnh khác nhau ở ĐBSCL, mặc dù những ngân sách nầy phần lớn được dựa trên những tuyên bố chánh thức.  Ở Cambodia, Hackney et al. (2020, 2021) đã chú trọng đến sự mất ổn định của bờ sông liên quan đến việc khai thác cát và đo đạc một ngân sách cát được suy ra bằng cách dùng hình ảnh của PlanetScope.  Tuy nhiên, những ý định nầy để ước tính các trị số cát được khai thác được ước tính ở địa phương (Jordan et al., 2019) chỉ phản ánh những thời gian nhất định (Brunier et al., 2014), hay dựa trên những tuyên bố chánh thức không đầy đủ hay không chính xác (Bravard et al., 2013; Eslami et al., 2019).  Thay vào đó, các ước tính phức tạp vì bản chất năng động cao của thành phần vì các xà lan có thể di chuyển hàng ngày, và các tiến trình sông tự nhiên có thể xóa dần bất cứ dấu vết của việc khai thác cát qua bồi lắng hay tái lập.

Ở đây, chúng tôi cung cấp ước tính đầu tiên của ngân sách khai thác cát cho toàn thể ĐBSCL (~700 km2 hệ thống thủy lộ) bằng cách sử dụng một phương pháp đo đạc tại chỗ mới lạ để tránh những điều không chắc chắn và thiên vị của các phương pháp hiện có và công bố các trị số.  Trước hết, chúng tôi thiết lập một xà lan cát mẫu bằng cách dùng hình ảnh có độ phân giải cao (Google Earth và PlanetScope), nơi chúng tôi xác định loại tàu riêng biệt để thiết lập một hệ thống xếp loại tàu.  Kích thước được kiểm chứng qua khảo sát tại chỗ trong 2020-2021.  Bước thứ hai liên quan đến việc phát triển một mối liên hệ định lượng giữa bản đồ cường độ của tàu được thúc đẩy bởi loạt hình ảnh radar theo thời gian Sentinel-1 và một bản đồ khác biệt chiều sâu (từ 2014-2017) cùng với khúc sông được khai thác mạnh mẽ trong sông Tiền (bao trùm 15% của ĐBSCL).  Trong bước cuối cùng, mối liên hệ toán học được áp dụng cho toàn thể ~700 km2 của ĐBSCL (Vùng chọn lọc trong nghiên cứu nầy) để thiết lập một ngân sách khai thác cát hàng năm và tính mức cắt đáy sông từ năm 2015 đến 2020.  Những ngân sách mới của chúng tôi được so sánh với các ước tính địa dư và lịch sử trước đây từ nhiều tài liệu được công bố khác nhau.

 XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Sunday, October 22, 2023

SỤT GIẢM LÂU DÀI CỦA PHÙ SA GÂY RA SỰ THU HẸP ĐANG DIỄN RA CỦA SIÊU ĐỒNG BẰNG MEKONG, VIỆT NAM

(Long-term Sediemnt Decline Cause Ongoing Shrinkage of the Mekong Megadelta, Vietnam)

Toru Tamura, Van Lap Nguyen, Thi Kim Oanh Ta, Mark D. Bateman, Marcello Gugliotta, Edward J. Anthony, Rei Nakashima and Yoshiki Saito – Bình Yên Đông lược dịch

Scientific Reports – 2020

 

Sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long. [Ảnh: VNExpress]

 

Đất thấp ven biển của các đồng bằng sông, cùng với khí hậu ẩm ướt của chúng, có đặc tính năng suất cao hỗ trợ cho những dân số lớn.  Chúng cũng dễ bị tổn thương cao với khí hậu và thay đổi của mực nước biển cũng như ảnh hưởng của hoạt động của con người [1-3].  Đồng bằng sông Cửu Long ở miền nam Việt Nam (ĐBSCL) là đồng bằng lớn thứ 3rd trên thế giới và có nguồn phù sa lớn lâu dài trong lưu vực rộng lớn của nó chịu ảnh hưởng của gió mùa Á Châu.  Tuy nhiên, những xáo trộn lưu vực do con người gây ra gần đây chẳng hạn như việc xây cất đập thủy điện [4,5] và khai thác cát sông [6-9], có thể cùng với sụt giảm lưu lượng do thay đổi khí hậu gây ra [10], được xem như là nguyên nhân của sự sụt giảm nghiêm trọng trong lượng phù sa đến bờ biển, kết hợp với những lo ngại về sụt lún tồi tệ do bơm nước ngầm tăng tốc [11] và vì thế đưa đến việc sạt lở bờ biển gia tăng với hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao từ năm 1993 đến 2013 cho thấy một mức gia tăng đáng kể trong 10 năm qua [12].  Phân tích lâu dài bao gồm 1973-2015 cũng xác nhận sạt lở bờ biển tăng tốc trong vài thập niên vừa qua, nhất là sau 2005, để đáp ứng với khả năng gia tăng của các đập thủy điện trong lưu vực Mekong [13] và việc khai thác cát mạnh mẽ trong các lòng lạch ở đồng bằng [6-9].

Mặc dù đặc tính được hoàn chỉnh của những thay đổi bờ biển gần đây của đồng bằng làm nổi bật ảnh hưởng của các hoạt động kỹ nghệ bên trong lưu vực Mekong sau thập niên 1990s, câu hỏi vẫn hiện hữu.  Sự gia tăng của sạt lở bờ biển sau thập niên 1990s phần lớn gây lo ngại cho vùng cửa sông có nhiều cát ở đồng bằng.  Bờ biển bùn dọc theo bán đảo Cà Mau, tạo nên phần lớn của ĐBSCL nhô ra Biển Đông (hay Nam Hải), đã bị sạt lở từ thập niên 1970s [13,14], với các bản đồ ịch sử cho thấy sạt lở có thể bắt đầu trước năm 1940 [15].  Sự thu hẹp đang diễn ra của ĐBSCL, do đó, không thể được quy trực tiếp cho các hoạt động kỹ nghệ gần đây trong lưu vực Mekong.  Chúng tôi cho rằng một triển vọng lâu dài bằng cách dùng tài liệu phù sa thì không thể tránh để hiểu những nguyên nhân căn bản của sự thu hẹp của ĐBSCL.

Những thay đổi bờ biển lâu dài của ĐBSCL chỉ được giới hạn trong vùng cửa sông [16] và thiếu dữ kiện thích hợp trong vùng tây nam của đồng bằng nhô ra, khiến cho những nghiên cứu trước đây phải đưa ra những giả thiết về tăng trưởng/sạt lở của đồng bằng trong vùng nầy [17,18].  Ở đây, chúng tôi tái lập toàn thể bờ Biển Đông của ĐBSCL bằng cách sưu tập phù sa mới được thu thập và tài liệu hình dạng đất với dữ kiện hiện nay.  Việc tái lập cho thấy những biến đổi thời gian và không gian của thay đổi bờ biển và làm nổi bật một nối kết chặt chẽ giữa sự khởi đầu của sạt lở trường kỳ và việc phát triển hệ thống kinh thủy nông ở đồng bằng, được kết hợp với sự trì hoãn của việc bồi lắng bùn nhanh chóng lâu dài.

Vùng nghiên cứu

ĐBSCL đã di chuyển trong 8.000 năm qua để đáp ứng với việc giảm tốc của mực nước biển sau băng hà [19,20] và là đại diện của đồng bằng hỗn hợp năng lượng [21,22].  Hiện nay, các tiến trình sóng thủy triều dợn thống trị bờ biển [22,23], nơi các nhánh sông có đặc tính của việc biến đổi từ thượng lưu đến hạ lưu từ các tiến trình sông đến cửa sông với thủy triều chiếm ưu thế [24-26].  Trái ngược giữa gió mùa đông và mùa hè định nghĩa một chu kỳ bồi lắng phù sa hàng năm ở bờ biển [23,27,28].  Gió mùa hè tây nam có đặc tính của gió và chế độ sóng yếu nhưng mang độ ẩm gây ra ngập lụt sông và nguồn cung cấp phù sa sông, trong khi gió mùa đông đông bắc thì khô hơn với nguồn phù sa sông hạn chế nhưng có gió và chế độ sóng mạnh hơn.  Hậu quả là, dọc theo chiều NE-SW của bờ Biển Đông, một tỉ lệ phù sa đáng kể bồi lắng và được trữ gần các cửa sông trong mùa hè được tái động trong mùa đông và được vận chuyển theo hướng tây nam bởi dòng nước dọc theo bờ biển do sóng tạo nên.  Điều nầy được trợ giúp bởi dòng nước thủy triều [12,22,29] vả cũng có việc chia tách phù sa rõ rệt.  Phù sa có nhiều cát hơn chiếm ưu thế từ các cửa sông đến khoảng 30 km trôi giạt (về hướng tây) của cửa sông Bassac [Hậu], cửa sông ở phía tây cuối cùng, trong khi trôi giạt xa bờ hơn phần lớn là bùn [30] (Hình 1B).  Sự tách chia nầy cũng được ghi nhận trong hình dạng đất đồng bằng còn sót lại như những cồn cát ở bãi biển chỉ xảy ra trong vùng cửa sông [16], trong khi bán đảo Cà Mau hoàn toàn là một đồng bằng bùn.

 


Hình 1 (a) Vị trí của ĐBSCL. Lưu vực của sông Mekong và Hồng được tô màu.  Bản đồ được lấy từ tài liệu tham khảo [19] và được tạo ra bởi phần mềm Adobe Illustrator 2020. (B) Bản đồ kết hợp hình thái của ĐBSCL [45] và chiều sâu tương đối với mực nước biển trung bình và lớp dưới mặt dất của vùng bờ biển [21,30].  Một mặt cắt (X-X’) được định nghĩa nối 6 lổ khoan mới được thu thập để tạo thành Hình 2.  Tuổi OSL NE và SW của sông Bassac từ dữ kiện hiện có [16] và mới được báo cáo trong bài viết nầy, theo thứ tự.  Các đoạn bờ biển được ấn định theo phân tích không gian trước đây [13] trong khi Seg 1 được chia ở đây thành Seg 1a và 1b bởi cửa sông Bassac.  Bản đồ được đơn giản hóa từ tài liệu tham khảo [45] và được tạo nên bởi phần mềm Adobe Illustrator 2020. (C) Biến đổi nhiệt độ của mức trung bình của thay đổi bờ biển từ 1973 đến 2015 cho các đoạn bờ biển [13].

 


Hình 2 Một mặt cắt được xác định bởi các lổ khoan dọc theo trục X-X’ trong Hình 1.  Đường cùng thời gian 2,3, 1,4, và 0,6 ngàn năm (ka) được định nghĩa theo phép nội suy thẳng của tuổi radiocarbon thu thập từ những bồi lắng Holocene bên trên nền Pleistocene.  Chiều sâu của lổ khoan tương đối với cao độ của mật đất ở mỗi lổ.

 

Bốn đoạn bờ biển (Segs 1-4) trong đồng bằng được ấn định từ việc phân tích không gian từ 1973 đến 2015 [13] (Hình 1B và 1C).  Seg 1, xảy ra ở vùng cửa sông từ cuối NE của bờ biển đến 30 km SW của Bạc Liêu, cho thấy sự di chuyển trong hầu hết thời gian với sụt giảm bồi lắng và chuyển sang sạt lở từ năm 2000 đến 2015.  Seg 2, kéo dài từ cuối SW của Seg 1 đến mũi của bán đảo Cà Mau, đã thụt lùi liên tục ở mức >20 m/năm.  Seg 3, một bờ biển phức tạp từ mũi Cà Mau đến cửa Sông Đốc, cho thấy nhiều biến đổi lớn liên quan đến sự sụt giảm từ từ trong mức bồi lắng ròng.  Seg 4, giữa Sông Đốc và Rạch giá, cho thấy bồi lắng ít nhất trong 2 đoạn cho đến đầu năm 1990 khi sạt lở bắt đầu xảy ra.  Ở đây, bờ biển của Seg 1 được chia thành Seg 1a và 1b ở cửa sông Bassac (Hình 1B).

Kết quả

Các lổ khoan, mô tả đầy đủ được trình bày trong Tin tức Bổ sung, xác định một mặt cắt qua đồng bằng (X-X’ trong Hình 1B).  Ba lổ cho thấy phù sa nền biển Pleistocene ở dưới đồng bằng hiện đại ở chiều sâu 17-34 m (Hình 2).  Một lổ (CM3) ghi được bồi lắng phù sa đước ở trên nền nầy trong lúc nước biển dâng sau băng hà khoảng 10 ka (10 ngàn năm trước đây).  Tất cả các lổ khoan khác là cát và bùn đồng bằng với vỏ của động vật thân mềm biển và những mức độ khác nhau của phù sa bồi lắng bị nhiễu loạn sinh vật.  Đáng chú ý, bề mặt mịn của phù sa do vận chuyển dọc theo bờ được tìm thấy trong lổ khoan ST3 cho thấy những thay đổi nhịp nhàng của cát mịn và rất mịn và bùn, cũng như trong các lổ khoan trôi xuống CM2-6 cho thấy bùn lớn lao xen vào giữa những lớp bùn thô và cát rất mịn mỏng.  Điều nầy phù hợp với sự tách rời trôi giạt được xác định dọc theo bờ biển và mặt trước của đồng bằng (Hình 1B).

Đo thời gian bằng radiocarbon và OSL [optically stimulated luminescence (dùng để đo tuổi của vật liệu cỗ)] cung cấp khuôn khổ theo thứ tự thời gian của sự kiện (Hình 1B và 2).  Lổ khoan ST3 có đặc tính của sự tích lũy liên tục từ 4,4 đến 1,4 ka.  Các lổ khoan CM2-6 trẻ hơn trong việc tiến ra biển và trôi giạt, phù hợp với sự di chuyển về phía tây nam của đồng bằng.  Các lổ khoan CM2 và CM4 đại diện cho sự tích lũy phù sa từ 4,5 đến 3,0 ka, một giai đoạn ban đầu của sự di chuyển của ĐBSCL, trong khi tất cả các lổ khoan ghi nhận ít tích lũy cho khoảng 2,3-1,4 ka.  Việc di chuyển nhanh chóng đoạn xảy ra sau 1,4 ka trong các lổ khoan CM2-6.  Phần trên của các lổ khoan CM2, 3, 5, và 6 thì trẻ hơn 0,6 ka, tiết lộ rằng bờ biển nằm ngay về phía đất liền của CM2 và CM5 ở 0,6 ka.  Những cồn cát bãi biển gần Sóc Trăng có tuổi từ 1,4-2,8 ka, đại diện cho sự di chuyển bờ biển cát trong khi bồi lắng ngoài biển xảy ra ở vị trí ST3 (Hình 1B).  Việc tiến ra biển của Sóc Trăng ngoài 20 km bãi bùn, một cụm cồn cát bãi biển khác có tuổi < 0,6 ka.  Hai nhóm cồn cát bãi biển cho thấy 2 giai đoạn của việc di chuyển bờ biển chậm ở 2,8-1,4 ka và sau 0,6 ka, giữa đó xảy ra việc di chuyển nhanh chóng ở 1,4-0,6 ka.  Tuổi OSL của phù sa giữa thủy triều trong bãi bùn giữa thành phố Cà Mau và Vị Thanh thay đổi từ 0,9 đến 2,7 ka và trở thành trôi giạt và tiến ra biển trẻ hơn, phù hợp với sự di chuyển của bờ biển.

Kết hợp những dữ kiện hiện có và mới nầy cho phép, lần đầu tiên, tái lập đường cùng thời gian và vị trí của bờ biển ở 0,6, 1,4, và 2,3 ka cùng với toàn thể bờ Biển Đông của ĐBSCL (Hình 3A).  Từ đó, chúng tôi tính mức bồi lắng cho Seg 1 và 2 (Hình 3B).  Mức bồi lắng tổng quát của Seg 1 phù hợp trong 2,3 ka vừa qua, thay đổi từ +2 đến +4 km2/năm (ngoại trừ 1973-77 và sau thập niên 1990s).  Ngược lại, Seg 2 cho thấy một gia tăng lớn lao trong bồi lắng sau 1,4 ka, cùng giai đoạn với sự gia tăng trong Seg 2 đã trải qua một sự bồi lắng đến + 4 km2/năm để hình thành toàn thể bán đảo Cà Mau.  Một phân tích bản đồ [15] cho thấy rằng trong thời gian từ 1885 đến 1940, khúc phía đông dài 60 km của Seg 2 chuyển sang sạt lở với mức độ mất bờ biển trung bình là -1,5 km2/năm.  Điều nầy đã tiến hóa thành sạt lở liên tục của toàn Seg 2 ở mức từ -2 đến -3 km2/năm [13].  Ngân sách tổng cộng của diện tích đồng bằng Segs 1 và 2 thì dương nhẹ từ thập niên 1970s đến thập niên 1990s trước khi việc di chuyển bờ biển giảm trong Seg 1 khiến cho đồng bằng bị thu hẹp ròng.  Hai kết quả quan trọng của việc trên thì phù hợp với sạt lở liên tục trong Seg 2 chịu trách nhiệm cho hầu hết bờ biển bị sạt lở về mặt diện tích, và rằng một mức tụt giảm của c. 6-7 km2/năm trong ngân sách phù sa đã xảy ra vào lúc nào đó trước thập niên 1970s tương đối với ngân sách trung bình cho 600 năm qua.


Hình 3 (A) Bờ biển trong quá khứ được tái lập của bờ Biển Đông của ĐBSCL ở 2,3, 1,4, và 0,6 ka dựa trên sự kết hợp tuổi radiocarbon của các lổ khoan và tuổi OSL của các cồn cát bãi biển và bùn giữa thủy triều.  ST: Sóc TBL: Bạc Liêu, CM: Cà Mau, TV: Trà Vinh, BT: Bến Tre, MT: Mỹ Tho.  Chiều hướng của thay đổi bờ biển gần đây được cho thấy.  Bản đồ được đơn giản hóa từ Hình 1B và được tạo nên bằng phần mềm Adobe Illustrator 2020. (B) Ước tính của thay đổi diện tích lâu dài cho khúc bờ biển được định nghĩa trong Hình 3A sau 2.300 năm trước cùng với mức ngắn hạn trong những thập niên gần đây [13,15].  Seg 2’ đại diện cho ½ phía đông của Seg 2 dài 60 km.  Múc độ được cho thấy ở AD 1913, 1953, 150, 1000 và 1700 đại diện cho các thời gian AD 1885-1940, AD 1940-1965, 1,4-2,3 ka, 0,6-1,4 ka, và sau 0,6 ka, theo thứ tự.  Vùng tô màu xám cho thấy thời gian khi hệ thống kinh đào được xây rộng rãi cho thủy nông ở ĐBSCL dưới thời triều Nguyễn và thuộc địa Pháp [41]. (C) Những thay đổi của diên tích canh tác, dân số, và tổng số chiều dài của kinh đào ở ĐBSCL trong 200 năm qua sau khi việc sưu tập dữ kiện hiện có [43].

Thảo luận

Bờ biển SW của ĐBSCL cạnh Biển Đông trải qua những thay đổi lớn lao với mức độ và lề lối của sự di chuyển trong 2,5 ka vừa qua, cuối cùng đạt đến chiều hướng sạt lở liên tục trong thế kỷ 20th.  Gia tăng trong nguồn cung cấp phù sa sau 1,4 ka đến Seg 1b và 2 có thể phản ánh một sự gia tăng trong lượng phù sa bùn tổng cộng và việc tăng cường việc vận chuyển dọc theo bờ biển.  Điều nầy cùng lúc với nguồn cung cấp phù sa được nâng cao đến các sông của Trung Hoa do thay đổi cách sử dụng đất ở Trung Hoa [31].  Những thay đổi cách sử dụng đất nầy có vẻ đã tăng tốc sự di chuyển của sông Hồng sau 1-2 ka [32], và điều nầy có lẽ cũng xảy ra trong lưu vực Mekong láng giềng (Hình 1A).  Sự tăng tốc rõ rệt của nguồn phù sa sau 0,6 ka cũng có thể được thuận lợi bởi dân số Trung Hoa di dân đến Yunnan (Vân Nam) liên hệ với nhà Minh được thiết lập vào cuối thế kỷ 14th.  Thay đổi khí hậu, như được biểu lộ gần đây [10], có thể chiếm một phần những thay đổi của lượng phù sa.  Những tài liệu đại diện ở Nam Trung Hoa [33] và Tibet (Tây Tạng) [34] cho thấy độ ẩm khu vực gia tăng sau 1,5-2 ka.  Thay đổi trong lề lối bồi lắng trong ĐBSCL ở 0,6 ka, từ di chuyển đồng nhất của Seg 1b và 2 đến di chuyển có chọn lọc của Seg 2, cho thấy phù sa bỏ qua Seg 1b.  Việc bỏ qua nầy có thể do tính dữ dội của gió mùa mùa đông thúc đẩy vận chuyển dọc theo bờ biển.  Tính dữ dội như thế được báo cáo vào khởi đầu của Little Ice Age ở Đông và Đông Nam Á [35].

Việc xây cất đập gần đây, khai hác cát sông và sụt giảm đước ở địa phương [36] không thể giải thích thỏa đáng cho sạt lở bờ biển phía đông của bán đảo Cà Mau và cho các đặc tính sạt lở liên hệ được xác định trong đồng bằng nằm dưới nước gần đó [30].  Dữ kiện của chúng tôi cho thấy rằng sụt giảm đáng kể trong nguồn cung cấp phù sa và bảo đảm sạt lở có lẽ bắt đầu từ 1885 đến 1940.  Chúng tôi ghi nhận rằng mức thụt lùi trung bình trong thời gian nầy có vẻ giống (c. 20 m/năm) với mức sau thập niên 1970s [15].  Ngược với mức thụt lùi của bờ biển cát hiện đại, chúng tôi đề nghị rằng nguyên nhân của sạt lở lần nầy là do sự cô lập phù sa trong đồng lụt do thay đổi lớn lao do con người gây ra ở đó.  Lưu lượng lũ và ngập lụt trong đồng lụt đã được điều chỉnh đáng kể bởi việc xây cất một hệ thống kinh đào và đê dày đặc [37-40].  Điều nầy được khuyến khích trong thời thuộc địa từ năm 1885 cho thủy vận và thủy nông nông nghiệp [41,42].  Hậ thống kinh đào đã giúp làm tăng lớn lao diện tích canh tác lúa ở đồng bằng đạt đến 24.000 km2 vào năm 1930 [43] (Hình 3C).  Nước lũ được khuyến khich qua hệ thống kinh đào để tràn vào đồng lúa để bồi lắng phù sa mầu mỡ [37,44].  Việc bồi lắng phù sa nầy, được gia tăng bởi phù sa bồi lắng trong các kinh, ngân chận và tích trữ phù sa bùn trong đồng lụt thay vì được vận chuyển đến bờ biển [40,41].  Mức bồi lắng phù sa trung bình ở đồng bằng 6,86 kg/m2 (6 mm/năm) được tính toán từ việc theo dõi tại chỗ một diện tích đồng bằng khoảng 115 km2 gồm có một hệ thống kinh đào dày đặc [39].  Nước thường ứ đọng trong những đồng lúa nầy khuyến khích bồ lắng hoàn toàn chất dinh dưỡng màu mỡ vì thế có ít phù sa đi xuống các địa phương ở hạ lưu [40], và, bằng suy luận, bờ biển.  Nếu mức độ nầy được áp dụng cho toàn thể diện tích trồng lúa vào năm 1930, điều nầy sẽ đưa đến một sự sụt giảm lớn lao trong nguồn cung cấp bùn cho bờ biển.  Mặc dù sự xuất hiện của hệ thống kinh đào ảnh hưởng đến nguồn cung cấp bùn cho bờ biển, phù sa ở đáy sông vận chuyển cát các nhánh sông ở đồng bằng vẫn không bị thay đổi.  Như là một kết quả, bờ biển cát tương ứng với Seg 1 tiếp tục di chuyển cho đến thập niên 1990s trong khi bờ biển bùn trong Seg 2 bị sạt lở nhanh chóng.  Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng ngay cả Seg 1 cũng cho thấy nhiều dấu hiệu của sự di chuyển chậm lại từ năm 2013 [12].  Sau cùng, sự trì hoãn của bồi lắng lâu dài cũng có vẻ tạo điều kiện thuận lợi cho sạt lở bờ biển.  Sự di chuyển rất nhanh của bán đảo Cà Mau sau 0,6 ka nâng cao sự phơi bày với sóng và dòng nước theo bờ được thúc đẩy bởi gió mùa mùa đông, và điều nầy đưa đến tính dễ tổn thương gia tăng với sạt lở.  Sạt lở nầy [29] có thể tồi tệ thêm bởi sụt lún đất đáng chú ý liên quan đến việc khai thác nước ngầm gia tăng lớn lao sau thập niên 1990s [11] và bởi thay đổi đang diễn ra của mực nước biển.  Phạm vi của việc khai thác cát và hậu quả đào sâu các nhánh sông trong ĐBSCL [6] ảnh hưởng việc tái phân phối là một vấn đề khác cho công việc trong tương lai.  Đào sâu lòng lạch có thể có ảnh hưởng phản hồi đối với sự xâm nhập của nước mặn và việc tái phân phối của bùn ở phần trên cửa sông trong mùa khô có khả năng làm giảm số bùn được vận chuyển dọc theo bờ biển phía đông đến bán đảo Cà Mau [12].  Hệ quả của nghiên cứu của chúng tôi là ngay nếu nguồn cung cấp phù sa được phục hồi lại mức trước thập niên 1990s, điều nầy không đủ để ngăn chận thêm sạt lở thêm bờ biển bùn ở ĐBSCL.

Những phương pháp

Để kềm chế tài liệu bồi lắng đồng bằng lâu dài và những thay đổi bờ biển, chúng tôi thu thập 6 lổ khoan phù sa, 66 tuổi từ radiocarbon, và 13 và 7 tuổi OSL cho cồn cát bãi biển và phù sa bùn đồng bằng, theo thứ tự.  Các lổ khoan phù sa thu thập được ở vị trí ST3 và CM2-6 (Hình 1B, Bảng S1) chỉ có ½ và được mô tà để xác định hình dáng của phù sa và thu thập vỏ động vật thân mềm và các mảnh cây cối để định tuổi bằng radiocarbon.  Các mẫu phù sa để định tuổi bằng OSL được thu thập bằng lưỡi khoan tay ở độ sâu từ 0,87-2,05 m, ngoại trừ 1 mẫu được lấy ở độ sâu 2,6-2,65 m trong lổ khoan CM4.  Mức của các mẫu khoan tay tương ứng với phần trên của bãi biển đến mức cồn cát basal ở các vị trí cồn cát bãi biển và mức giữa thủy triều của bãi bùn, và vì thế được xem như đại diện cho bối lắng bờ biển.  Sụt lún cộng dồn của các vị trí lấy mẫu được mô phỏng là < 0,3 m [11] và vì vậy không đáng kể.  Chi tiết của việc phân tích định tuổi bằng radiocarbon và OSL được cung cấp trong tin tức bổ sung.  Tuổi OSL và điều chỉnh tuổi radiocarbon được trình bày tương đối với AD 2015.

Tin tức bổ sung

Tin tức bổ sung cho bài viết nầy có thể tìm thấy trên mạng ở https://doi.org/10.1038/s41598-020-64630-z.

Tài liệu tham khảo

1.         Syvitski, J. P. & Saito, Y. Morphodynamics of deltas under the infuence of humans. Glob. Planet. Change 57, 261–282 (2007).

2.         Giosan, L., Syvitski, J., Constantinescu, S. & Day, J. Climate change: protect the world’s deltas. Nature 516, 31–33 (2014).

3.         Best, J. Anthropogenic stresses on the world’s big rivers. Nat. Geosci. 12, 7–21 (2019).

4.         Walling, D. E. Te changing sediment load of the Mekong River. AMBIO 37, 150–158 (2008).

5.         Kummu, M., Lu, X. X., Wang, J. J. & Varis, O. Basin-wide sediment trapping efciency of emerging reservoirs along the Mekong. Geomorphology 119, 181–197 (2010).

6.         Brunier, G., Anthony, E. J., Goichot, M., Provansal, M. & Dussouillez, P. Recent morphological changes in the Mekong and Bassac river channels, Mekong delta: The marked impact of river-bed mining and implications for delta destabilisation. Geomorphology 224, 177–191 (2014).

7.         Bravard, J.-P., Goichot, M. & Galliot, S. Geography of sand and gravel mining in the Lower Mekong River. First survey and impact assessment. EchoGéo 26, 13659, https://doi.org/10.4000/echogeo.13659 (2013).  

8.         Jordan, C. et al. Sand mining in the Mekong Delta revisited - current scales of local sediment defcits. Sci. Rep. 9, 17823, https://doi.org/10.1038/s41598-019-53804-z (2019).

9.         Hackney, C. et al. River bank instability is induced by unsustainable sand mining in the lower Mekong River. Nat. Sustain. 3, 217–225, https://doi.org/10.1038/s41893-019-0455-3 (2020).

10.       Darby, S. E. et al. Fluvial sediment supply to a mega-delta reduced by shifing tropical-cyclone activity. Nature 539, 276–279 (2016).

11.       Minderhoud, P. S. J. et al. Impacts of 25 years of groundwater extraction on subsidence in the Mekong delta, Vietnam. Environ. Res. Lett. 12, 064006, https://doi.org/10.1088/1748-9326/aa7146 (2017).

12.       Anthony, E. J. et al. Linking rapid erosion of the Mekong River delta to human activities. Sci. Rep. 5, 14745, https://doi.org/10.1038/srep14745 (2015).

13.       Li, X., Liu, J. P., Saito, Y. & Nguyen, V. L. Recent evolution of the Mekong Delta and the impacts of dams. Earth-Sci. Rev. 175, 1–17 (2017).

14.       Besset, M., Anthony, E. J., Brunier, G. & Dussouillez, P. Shoreline change of the Mekong River delta along the southern part of the South China Sea coast using satellite image analysis (1973–2014). Géomorphologie: Relief, Processus, Environnement 22, 137–146 (2016).

15.       Nguyen, V.L., Ta, T.K.O., Tateishi, M. & Kobayashi, I. Coastal variation and saltwater intrusion on the coastal lowlands of the Mekong River Delta, Southern Vietnam. In: Land-Sea Link in Asia in Proceedings of an international workshop on sediment transport and storage in coastal sea-ocean system (ed. Saito, Y., Ikehara, K. & Katayama, H.) 212–217 (1999).

16.       Tamura, T. et al. Origin and evolution of interdistributary delta plains; insights from Mekong River delta. Geology 40, 303–306 (2012).

17.       Liu, J. P., DeMaster, D. J., Nittrouer, C. A., Eidam, E. F. & Nguyen, T. T. A seismic study of the Mekong subaqueous delta: Proximal versus distal sediment accumulation. Cont. Shelf Res. 147, 197–212 (2017).

18.       Zoccarato, C., Minderhoud, P. S. & Teatini, P. Te role of sedimentation and natural compaction in a prograding delta: insights from the mega Mekong delta, Vietnam. Sci. Rep. 8, 11437, https://doi.org/10.1038/s41598-018-29734-7 (2018).

19.       Tamura, T. et al. Initiation of the Mekong River delta at 8 ka: Evidence from the sedimentary succession in the Cambodian lowland. Quat. Sci. Rev. 28, 327–344 (2009).

20.       Tjallingii, R., Stattegger, K., Stocchi, P., Saito, Y. & Wetzel, A. Rapid fooding of the southern Vietnam shelf during the early to mid‐ Holocene. Jour. Quat. Sci. 29, 581–588 (2014).

21.       Ta, T. K. O., Nguyen, V. L., Tateishi, M., Kobayashi, I. & Saito, Y. Holocene delta evolution and depositional models of the Mekong River delta, southern Vietnam in River Deltas—Concepts, Models, and Examples (ed. Giosan, L. & Bhattacharya, J. P.) 453–466 (SEPM, 2005).

22.       Anthony, E. J. et al. Morphodynamics of an eroding beach and foredune in the Mekong River delta: implications for deltaic shoreline change. Cont. Shelf Res. 147, 155–164 (2017).

23.       Tamura, T. et al. Monsoon-infuenced variations in morphology and sediment of a mesotidal beach on the Mekong River delta coast. Geomorphology 116, 11–23 (2010).

24.       Nowacki, D. J., Ogston, A. S., Nittrouer, C. A., Fricke, A. T. & Van, P. D. T. Sediment dynamics in the lower M ekong R iver: Transition from tidal river to estuary. Jour. Geophys. Res. Oceans 120, 6363–6383 (2015).

25.       Gugliotta, M. et al. Process regime, salinity, morphological, and sedimentary trends along the fuvial to marine transition zone of the mixed-energy Mekong river Delta, Vietnam. Cont. Shelf Res. 147, 7–26 (2017).

26.       McLachlan, R. L., Ogston, A. S. & Allison, M. A. Implications of tidally-varying bed stress and intermittent estuarine stratifcation on fne-sediment dynamics through the Mekong’s tidal river to estuarine reach. Cont. Shelf Res. 147, 27–37 (2017).

27.       Xue, Z., Liu, J. P., DeMaster, D., Van Nguyen, L. & Ta, T. K. O. Late Holocene evolution of the Mekong subaqueous delta, southern Vietnam. Mar. Geol. 269, 46–60 (2010).

28.       Xue, Z., He, R., Liu, J. P. & Warner, J. C. Modeling transport and deposition of the Mekong River sediment. Cont. Shelf Res. 37, 66–78 (2012).

29.       Marchesiello, P. et al. Erosion of the coastal Mekong delta: assessing natural against man induced processes. Cont. Shelf Res. 181, 72–89 (2019).

30.       Unverricht, D. et al. Modern sedimentation and morphology of the subaqueous Mekong Delta, Southern Vietnam. Glob. Planet. Change 110, 223–235 (2013).

31.       Wang, H. et al. Recent changes of sediment fux to the western Pacifc Ocean from major rivers in East and Southeast Asia. Earth-Sci. Rev. 108, 80–100 (2011).

32.       Tanabe, S. et al. Holocene evolution of the Song Hong (Red River) delta system, northern Vietnam. Sed. Geol. 187, 29–61 (2006).

33.       Dykoski, C. A. et al. A high-resolution, absolute-dated Holocene and deglacial Asian monsoon record from Dongge Cave, China. Earth Planet. Sci. Lett. 233, 71–86 (2005).

34.       Bird, B. W. et al. Late-Holocene Indian summer monsoon variability revealed from a 3300-year-long lake sediment record from Nir’pa Co, southeastern Tibet. The Holocene 27, 541–552 (2017).

35.       Tamura, T. et al. Luminescence dating of beach ridges for characterizing multi-decadal to centennial deltaic shoreline changes during Late Holocene, Mekong River delta. Mar. Geol. 326, 140–153 (2012).

36.       Besset, M. et al. Mangroves and shoreline erosion in the Mekong River delta, Viet Nam. Estuar. Coast. Shelf Sci. 226, 106263, https://doi.org/10.1016/j.ecss.2019.106263 (2019).

37.       Hung, N. N. et al. Floodplain hydrology of the Mekong Delta Vietnam. Hydrol. Process. 26, 674–686 (2011).

38.       Hung, N. N. et al. Sedimentation in the foodplains of the Mekong Delta, Vietnam. Part I: suspended sediment dynamics. Hydrol. Process. 28, 3132–3144 (2013).

39.       Hung, N. N. et al. Sedimentation in the foodplains of the Mekong Delta, Vietnam. Part II: deposition and erosion. Hydrol. Process. 28, 3145–3160 (2013).

40.       Kuenzer, C. et al. Flood mapping and food dynamics of the Mekong delta: ENVISAT-ASAR-WSM based time series analyses. Remote Sens. 5, 687–715 (2013).

41.       Biggs, D. Canals in the Mekong Delta: a historical overview from 200 C.E. to the present. Water Encyclopedia 4, 748–752 (2005).

42.       SIWRP. The project for Climate Change Adaptation for Sustainable Agriculture and Rural Development in the Coastal Mekong Delta in Vietnam – Final Report (Japan International Cooperation Agency, 2013).

43.       Nguyen, H. H., Dargusch, P., Moss, P. & Tran, D. B. A review of the drivers of 200 years of wetland degradation in the Mekong Delta of Vietnam. Reg. Environ. Change 16, 2303–2315 (2016).

44.       Tran, D. D. & Weger, J. Barriers to implementing irrigation and drainage policies in an Giang Province, Mekong Delta, Vietnam. Irrigation and Drainage 67, 81–95 (2018).

45.       Nguyen, V. L., Ta, T. K. O. & Tateishi, M. Late Holocene depositional environments and coastal evolution of the Mekong River Delta, southern Vietnam. Jour. Asian Earth Sci. 18, 427–439 (2000).

Saturday, October 21, 2023

Từ đế chế Phù Nam – Khmer tới con kênh lịch sử Funan Techo của vương quốc Cam Bốt

 



Từ đế chế Phù Nam – Khmer tới con kênh lịch sử Funan Techo của vương quốc Cam Bốt 

Ngô Thế Vinh

https://docs.google.com/document/d/1tDKk0VmRN_HohdHZHGhseTTC4KOS1eXAy52jLG93Vnc/edit?pli=1

 

Đại Vận Hà Phù Nam của Vương Quốc Cam Bốt – Âm mưu thâm độc của Bắc Kinh

Phạm Phan Long, P.E.

Tác giả: Kỹ sư Phạm Phan Long là Chủ tịch Hội Sinh Thái Việt (Viet Ecology Foundation).

16-10-2023

https://docs.google.com/document/d/1ev0ggWunpnCXwZnfpUBM5vBzUUNYJ4bqBuLIiOp2sV4/edit?pli=1

 


Kênh đào Đế Chế Phù Nam của Campuchia: Nỗi Chết Của Đồng Bằng sông Cửu Long 

Lê Hoành Sơn

https://mekong-cuulong.blogspot.com/2023/10/kenh-ao-e-che-phu-nam-cua-campuchia-noi.html

.

Sunday, October 15, 2023

TẠI SAO KHỦNG HOẢNG HẠN HÁN KHÔNG THÚC ĐẨY HỢP TÁC KHU VỰC TRONG LƯU VỰC MEKONG?

(Why Isn’t the Drought Crisis Driving Regional Cooperation in the Mekong Basin?)

Brian Eyler – Bình Yên Đông lược dịch

Journal of Greater Mekong Studies – February 2020



Khí hậu của khu vực sông Mekong được đánh dấu bởi một mùa khô cực đoan, thường kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4, và một mùa mưa thật ẩm ướt từ tháng 5 đến tháng 10.  Trong mùa mưa hàng năm, một nhịp nước to lớn tràn qua lưu vực, bổ sung nó với đời sống.  Nó làm ngập các bờ sông của dòng chánh và các phụ lưu, bồi lắng phù sa rất cần thiết để hỗ trợ cho việc sản xuất nông nghiệp trong mùa khô của các cộng đồng ở ven sông ở Thái Lan và Lào.  Xa hơn về phía hạ lưu, nước chảy qua các đồng lụt rộng lớn ở Cambodia và Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam (ĐBSCL), tạo nên điều kiện phì nhiêu cho việc sản xuất lúa và các sản phẩm nông nghiệp khác cũng như cung cấp cá để bắt.

Nhưng năm 2019 là một trong số những năm khô nhất trong lịch sử và đánh dấu một bước ngoặc trong hệ sinh thái hùng vĩ của Mekong.  Báo cáo từ các trạm theo dõi, các cộng đồng địa phương và truyền thông tất cả đều chỉ đến một cuộc khủng hoảng hạn hán trên qui mô chưa từng thấy có lẽ sẽ kéo dài đến tháng 6 năm 2020.  Các quốc gia hạ lưu Mekong Lào, Việt Nam, Cambodia và Thái Lan tính cho đến nay đã thất bại để tổ chức và phát động một đáp ứng khu vực hữu hiệu và được phối hợp cho khủng hoảng.  Hơn nữa, những khủng hoảng tương tự được mong đợi trong tương lai vì sự tấn công nhanh chóng của thay đổi khí hậu.

Những điều kiện hạn hán bắt đầu xuất hiện trong tháng 5 và 6 năm 2019 khi mưa mùa hàng năm không đến do hiện tượng thời tiết El Nino.  Đến tháng 7, các cộng đồng dọc theo Mekong đã đăng nhiều hình ảnh trên mạng xã hội cho thấy đáy sông khô cạn trên biên giới Thái-Lào và nhiều đàn di ngư chết vì bị mắc kẹt trong các vũng nước cô lập vì mực nước sông xuống thấp.  Các trạm bơm thường chuyển nươc từ dòng chánh Mekong đến lưu vực Mun-Chi, một phụ lưu vực của Mekong ở Thái Lan, không thể hoạt động được nữa vì mực nước sông xuống quá thấp.

 

Sông Mekong ở Nong Khai, Thái Lan khô cạn trong năm 2019. [Ảnh: cvdvn]

 

Cũng trong tháng 7, các tổ chức xã hội dân sự cáo buộc rằng cả đập Jinghong (Cảnh Hồng), đập của Trung Hoa nằm dưới cùng trên Mekong, và đập Xayaburi mới vừa hoàn tất ở Lào đã thực hiện nhiều thử nghiệm trong tháng 6 khiến cho mực nước trong sông tụt xuống thình lình.  Các nhà điều hành của cả 2 đập đều chối việc cáo buộc.  Mặc dù thế, dữ kiện từ trang mạng của Ủy hội Sông Mekong (MRC) và hình ảnh vệ tinh cộng tác với các cáo buộc của các nhóm xã hội dân sự rằng các đập quả thật làm cho điều kiện hạn hán thêm tồi tệ bằng cách thay đổi chế độ chảy.

 

Đập Xayaburi trên sông Mekong ở Lào. [Ảnh: theaseanpost]

 

Trung Hoa điều hành 11 đập trên khúc sông ở thượng lưu Mekong, trong khi Lào có 64 [1].  Những đập nầy đã góp phấn tập thể vào điều kiện hạn hán trên sông, mặc dù không biết đến mức độ nào vì thiếu nghiên cứu.  Tất cả cá đập dọc theo Mekong thay đổi dòng chảy tự nhiên của hệ thống sông – một số nhiều hơn số khác – và tất cả các đập ngăn chận phù sa và đường di chuyển của cá.

Vào đầu tháng 8, hầu hết chánh sách và thảo luận của truyền thông chú trọng đến những nơi bị ảnh hưởng dọc theo biên giới Thái-Lào, với ít ỏi chú ý đến những ảnh hưởng ở hạ lưu đối với hồ Tonle Sap ở Cambodia và ĐBSCL.  Mỗi năm, nhịp mưa mùa làm cho sông tháo nước của Tonle Sap, hồ lớn nhất ở Đông Nam Á (ĐNA), đảo ngược dòng chảy.  “Kỳ diệu của Mekong” nầy đưa 70 lần số nước trở lại hồ so với khối lượng trong mùa khô và làm cho đồng lụt của hồ nới rộng gấp 5 lần.  Dòng chảy đảo ngược vận chuyển một khối lượng không được biết của phù sa, trứng cá, ấu trùng và cá con vào đáy hồ và đồng lụt và tạo nên sự bùng nổ của đời sống.  Khoa học ở phía sau sự trộn lẫn tự nhiên tạo nên tính hào phóng của Tonle Sap rất phức tạp, nhưng các ngư dân ở ven bớ hồ sống trong những nhà sàn cao đến 10 m từ mặt đất làm việc theo kinh nghiệm đơn giản: ngập lụt càng cao và càng dài, số cá bắt được hàng năm của họ càng lớn [2].

Khi mưa mùa rút xuống, sông lại tháo nước từ Tonle Sap trở lại dòng chánh Mekong và cá rời khỏi hồ.  Một số đi đến cửa sông và được thu hoach ở Việt Nam, nhưng hầu hết đi về phía thượng lưu để trở lại nơi sinh sản của chúng.  Một số di chuyển hàng ngàn km, và những ngư dân đánh cá dọc theo sông Mekong lợi dụng việc di chuyển tập thể nầy.  Ở Cambodia, có đến 500.000 tấn cá được bắt, khiến cho nó là sự bắt cá lớn nhất duy nhất trên thế giới cho một hồ nước ngọt.  Cá bắt được cung cấp cho người Cambodia 60-70% chất đạm ăn vào.  Nói chung, có 2,6 triệu tấn cá được bắt hàng năm trên khắp  lưu vực Mekong, cũng là một kỷ lục thế giới cho một hệ thống sông.  Sự nới rộng và thu hẹp của hồ Tonle Sap là cái làm cho Mekong hùng vĩ và khác biệt với tất cả các hệ thống sông khác trên thế giới.

Việc đảo ngược của sông Tonle Sap thường xảy ra trong tháng 6 hay đầu tháng 7.  Nhưng trong năm 2019 điều nầy đến trễ vào cuối tháng 8, trễ khoảng 2 tháng, được châm ngòi bởi một trận bão quan trọng đã đổ trên 40 cm nước mưa ở hạ Lào và đông bắc Thái Lan, gây ngập lụt nghiêm trọng cho những nơi đó.  Khi nước lũ ở thượng lưu rút xuống vào tháng 10, mực nước trong dòng chánh Mekong tụt xuống và làm cho sông Tonle Sap trở lại dòng chảy bình thường của nó.  Việc nới rộng của Tonle Sap kéo dài chỉ có 6 tuần so với thời gian bình thường là 5 tháng.

Các phương tiện truyền thông quốc tế tường trình về những điều kiện hạn hán tổng quát trong suốt mùa hè, nhưng chỉ có vài chú ý đến mối đe dọa rằng việc thiếu ngập lụt gây ra cho Tonle Sap.  Rồi vào cuối tháng 9, một bài báo trên New Yok Times báo cáo về mực nước thấp của hồ [3].  Vào đầu tháng 11, một bài trên trang mạng của National Public Radio (Đài Phát thanh Quốc gia) của Mỹ báo cáo rằng số cá đánh được theo bờ hồ vào lúc nầy trong năm giảm 90% [4].  Mặc dù có những dấu hiệu báo động, lưu ý chánh thức duy nhất về khủng hoảng tiềm tàng đến từ Tin Ponlok, tổng thư ký của Hội đồng Phát triển Khả chấp Quốc gia Cambodia.  Ông công khai thừa nhận thay đổi khí hậu sẽ làm chậm việc tăng trưởng của Cambodia trong những thập niên sắp tới và làm hoãn việc chuyển sang tình trạng thu nhập trên trung bình của quốc gia [5].

Cho đến khi mức được mong đợi trở lại trong tháng 5 năm 2020, tất cả dữ kiện và bằng chứng rời rạc trong Mekong đề nghị một cuộc khủng hoảng lương thực và nước sắp xảy ra.  Nếu không có xả nước từ thượng lưu, mực nước sông từ Tam giác Vàng đến ĐBSCL có lẽ sẽ thấp chưa từng có, và kỷ lục thấp của số cá bắt được có lẽ sẽ theo sau.  Các vùng nông nghiệp ở ĐBSCL cách bờ biển hàng trăm km sẽ bị thủy triều nước mặn gia tăng xâm nhập 2 lần một ngày.  Vậy mà – không ai gióng chuông báo động.

Các bên liên hệ khu vực cần hành động để huy động các giải pháp ữu hiệu ở cấp xuyên biên giới để giảm nhẹ hay làm nhẹ bớt các điều kiện hiện nay và trong tương lai.  Không có năm trước nào giống như năm nay, nhưng các chuyên viên thay đổi khí hậu tiên đoán những năm trong tương lai sẽ tương tự như vậy.  Chắc chắn, ảnh hưởng thời tiết El Nino xảy ra bất chấp thay đổi khí hậu.  Nhưng lề lối thời tiết El Nino và khởi đầu chậm của ảnh hưởng thay đổi khí hậu có điểm tương đồng: cả 2 đều có thể tiên đoán trước.  Như là kết quả, hành động sớm, nhất là ở cấp khu vực trong Mekong, có thể làm giảm rủi ro và tính dễ bị tổn thương.  Các đối tác phát triển then chốt chẳng hạn như Hoa Kỳ và Australia có kỹ thuật tiên đoán để vẽ bản đồ ảnh hưởng của El Nino 6 đến 8 tháng trước khi chúng bắt đầu.  Nếu các quốc gia Mekong thiếu vốn và khả năng nhân sự để đầu tư trong các hệ thống tiên đoán thời tiết, thì bình thường hóa việc hợp tác với các đối tác phát triển trong mục đích nầy sẽ cải thiện lớn lao việc đáp ứng và giảm rủi ro liên quan đến những tháng hạn hán trước khi ảnh hưởng bắt đầu tấn công.

Những bài học từ 2019 phải được dùng để làm nổi bật một “bình thường mới” của lề lối mưa trong lưu vực.  Mặc dù ảnh hưởng El Nino không nhất thiết liên quan đến ảnh hưởng ban đầu của thay đổi khí hậu, lề lối mưa mùa bất thường trong năm nay phản chiếu cách trong đó thay đổi được tiên đoán sẽ ảnh hưởng lề lối của mưa mùa ở Mekong trong tương lai.

Các nhà khoa học Trung Hoa từ lâu đã tiên đoán rằng một khí hậu ấm lên sẽ trì hoãn mùa mưa hàng năm đến 1 tháng, và cũng sẽ chấm dứt sớm hơn 1 tháng.  Trong những ảnh hưởng đa dạng được gây ra, sông Mekong sẽ có mực nước thấp hơn trong thời gian dài hơn trong suốt năm.  Giông tố mưa mùa mạnh mẽ cũng gây nên lũ lụt nhanh hơn và sâu hơn cho nhiều nơi ẩm ướt hơn của Mekong (đông bắc Lào và cao nguyên miến Trung được chia sẻ bởi Lào, Cambodia và Việt Nam).  Vì thế, các quốc gia Mekong riêng rẽ và các tổ chức khu vực nên nghiên cứu lề lối khí hậu 2019 như một cái mốc cho cái sẽ đến.  Vào giai đoạn nầy, ảnh hưởng của thay đổi khí hậu có vẻ không thể tránh khỏi.  Các nỗ lực cứu trợ phải chú trọng đến việc làm giảm tính dễ bị tổn thương và rủi ro, trong khi thích ứng với một bình thường mới.

Ở mức độ nào đó, khu vực đã đáp ứng.  Vào tháng 11 năm 2019, Hội đồng Bộ trưởng của MRC đồng ý một kế hoạch quản lý hạn hán mới cho 2020-2025.  Nó dành 13 triêu USD cho 5 lãnh vực được đánh giá như “hoạt động kém”: theo dõi chỉ số hạn hán; tiên đoán hạn hán và cảnh báo sớm; xây dựng khả năng trong việc quy hoạch và đánh giá hạn hán; các biện pháp giảm nhẹ; và các hệ thống chia sẻ tin tức [6].

Số tiền nầy không đủ để huy động việc đáp ứng hữu hiệu trong 1 năm cho 1 quốc gia trong khu vực chứ chưa nói đến đáp ứng trong 5 năm cho 4 quốc gia bị ảnh hưởng trong lưu vực Mekong.  Các đối tác phát triển sẽ khôn ngoan để chuyển tài nguyên đến những lãnh vực hoạt động nầy.  Quan trọng hơn, các quốc gia Mekong cần những nỗ lực phối hợp tốt hơn giữa họ và ít lệ thuộc hơn vào các đối tác phát triển, kể cả Trung Hoa, nếu họ muốn thực hiện việc thích ứng và sức chịu đựng gia tăng đối với rủi ro khí hậu.  Hơn nữa, khu vực cần cứu xét các tình trạng khẩn cấp chẳng hạn như hạn hán toàn lưu vực bằng cách thiết lập các cơ chế đáp ứng khẩn cấp tự động.  Tôi có 3 đề nghị trong lãnh vực nầy:

 

1.                  Các quốc gia Mekong phải nhanh chóng kết hợp các nguồn sản xuất điện thay thế chẳng hạn như mặt trời, gió và sinh khối vào hỗn hợp điện quốc gia; kết hợp các giải pháp năng lượng hữu hiệu để giảm nhu cầu; và đặt và diều hành khôn ngoan các đập được xem là cần thiết trong lương lai.  Duy trì một hệ thống sông Mekong được nối liền và chảy là một hành động khu vực hiệu quả nhất và có hiệu quả kinh tế nhiều nhất để thích ứng với thay đổi khí hậu.  Các đập được đặt không đúng chỗ đang làm giảm sự nối kết và khả năng sản xuất của đồng lụt của sông.  Các đập và thay đổi khí hậu được kết hợp tạo nên rủi ro gia tăng, nhất là cho 30 triệu người sống trong các cộng đồng ven sông dễ bị tổn thương, chẳng hạn như các làng đánh cá Tonle Sap, và những nơi định cư ở ĐBSCL.  Năng lượng tái tạo không phải thủy điện nay đang đứng vững thương mại trong khu vực Mekong với tất cả các quốc gia, ngoại trừ Lào, nhanh chóng mang những kỹ thuật nầy vào hỗn hơp điện của họ.  Vì Lào tiếp tục xây thêm đập, họ có thể đi sau khu vực và toàn cầu trong việc chuyển sang tái tạo không phải thủy điện.  Điều nầy có thể khóa cả Lào và khu vực vào một tương lai môi trường và thương mại rủi ro hơn.  Với mực nước giảm xuống trong tương lai trong hệ thống Mekong, các đập sẽ hoạt động ở mức hiệu năng thấp hơn dự kiến và ảnh hưởng đến thu nhập và hoàn trả đầu tư.  Sự cần thiết của các đập trong tương lai có thể được giảm nếu các nhà tiêu thụ điện chánh, chẳng hạn như Thái Lan và Việt Nam, kết hợp các chiến lược giảm nhu cầu điện.  Việc làm giảm nhu cầu có thể được thực hiện dễ dàng bằng cách thiết lập các chiến lược phát triển đô thị không ngoan và phân tán các hệ thống điện (lưới điện thông minh), trong khi giảm khoảng dự trữ điện cao không cần thiết.  Đối với đập phải được xây vì không có giải pháp thay thế, những đập nầy phải được đặt ở những nơi làm giảm ảnh hưởng tai hại.  Điều nầy bao gồm việc tránh xây đập trên các phụ lưu chưa ngăn đập của Mekong và các đập mới trên dòng chánh, và giữ cho các đập càng xa càng tốt vùng thủy sản Tonle Sap.

 

2.                  Thương lượng các thỏa thuận chia sẻ nước xuyên biên giới liên quan đến hạn hán để sử dụng trong lúc khẩn cấp.  Trong lúc han hán, khúc sông của Trung Hoa cung cấp 40-50% tổng số dòng chảy ở hạ lưu.  Hiện nay, hầu hết tiềm năng thủy điện của 11 đập do Trung Hoa điều hành bị lãng phí vì sự nối kết lưới điện kém ở Trung Hoa, đề nghị rằng 47 tỉ m3 nước được chứa có thể được dùng cho các mục đích khác.  MRC nên công bố các đường đỏ khu vực cho tính có sẵn của nước và rồi theo đuổi các thỏa thuận chia sẻ nước liên quan đến hạn hán với Trung Hoa.  Trong Hoa đã hành động trên căn bản khi cần (ad hoc) để cứu hạn trong năm 2016 và 2019.  Tuy nhiên việc xả nước được giữ vững giúp cho hệ thống sông trở lại bình thường đến một mức độ nào đó sẽ làm nhiều hơn để làm giảm rủi ro ở hạ lưu vực.  Nếu Trung Hoa không đống ý với các đường lối chia sẻ nước như thế, thì đó là phận sự của các quốc gia hạ lưu Mekong để sử dụng nước họ phải cung cấp cứu hạn.  66 đập của Lào, một hỗn hợp của các đập dòng chảy và trữ nước, có thể được dùng để cung cấp nước được phối hợp và xả phù sa để mang lợi cho các cộng đồng ở hạ lưu.  Điều tương tự cũng đúng cho đập Hạ Sesan 2 ở Cambodia, 16 đập Mekong của Việt Nam trên cao nguyên miền Trung, và 9 đập của Thái Lan trong các tỉnh đông bắc.  Việc phối hợp như thế đòi hỏi một thỏa thuận chia sẻ nước khu vực có thể được thương lượng qua các cơ chế của MRC.  Quan trọng hơn, một số thỏa thuận mua điện sẽ cần được thay đổi hay tạm ngưng cho đến khi tình trạng khẩn cấp giảm xuống.

 

3.                  MRC nên tuyên bố Tonle Sap như một phần của dòng chánh Mekong.  Mặc dù nó đóng một vai trò quan trọng trong tính khả chấp của Mekong và chịu trách nhiệm cho hầu hết 2,6 triệu tấn cá nước ngọt bắt được hàng năm, hệ sinh thái Tonle Sap ít nhận được sự chú ý so với những nơi khác của lưu vực.  Một vài người sống trong các quốc gia Mekong ở ngoài Cambodia biết hay hiểu những đóng góp quan trọng của nó đối với sức khỏe của toàn thể hệ thống sông.  Để làm tăng việc ưu tiên hóa của Tonle Sap như là một tài nguyên quan trọng, MRC nên chánh thức công nhận cả sông và hồ Tonle Sap như một phần của dòng chánh Mekong.  Như tất cả các phần hạ lưu khác, Tonle Sap nhận tài nguyên do nước mang trong dạng phù sa và cá từ thượng lưu.  Một khác biệt đáng kể duy nhất từ ĐBSCL là nội dung của hồ Tonle Sap không chảy ra biển, ngoại trừ trong mùa khô trong lúc hồ thu hẹp lai.  Nếu việc ưu tiên hóa đó được thực hiện, thì sức khỏe của Tonle Sap sẽ được cứu xét trong tất cả các tiến trình duyệt xét kỹ thuật của MRC và các chương trình khác đòi hỏi bởi Thỏa ước Mekong 1995, chỉ bao gồm phát triển trên dòng chánh.  Điều nầy sẽ khuyến khích chánh phủ Cambodia và các đối tác phát triển cải thiện việc bảo vệ sinh thái của hồ và khuyến khích các biện pháp cứu hạn được chấp thuận bởi các quốc gia Mekong khác.  Việc ưu tiên hóa như thế có lẽ sẽ tăng cường việc bảo vệ đồng lụt của Tonle Sap và đưa đến các tiến trình bảo tồn cá hữu hiệu hơn.

Những đề nghị trên không có nghĩa là toàn diện.  Nhưng nếu được thực hiện, 4 quốc gia hạ lưu Mekong, cùng với Trung Hoa, có thể tiến đến việc đáp ứng hữu hiệu và phối hợp chặt chẽ hơn với những khủng hoảng sắp xảy ra.  Những hành động như thế cũng sẽ làm giảm sự lệ thuộc vào người cho ngoại quốc vì họ cũng cần chú trọng đến các khủng hoảng liên quan đến khí hậu của chính họ trong tương lai.  Quan trọng hơn, những hành động nầy sẽ giúp các bên liên hệ trong khu vực để điều chỉnh và thích ứng với một “bình thường mới” – trong đó các điều kiện của 2019 sẽ trở nên thường xuyên hơn trong những thập niên sắp tới.

Tài liệu tham khảo

1          Stimson Center Mekong Infrastructure Tracker, November 30, 2019

2          To better understand the complexity of the Tonle Sap’s ecosystem processes, see chapter 9 of my book, Brian Elyer, Last Days of the Mighty Mekong (London: Zed Books, 2019) pp?

3          Abby Seiff, “At a Cambodian Lake, a Climate Crisis Unfolds,” The New York Times, September 30, 2019. https://www.nytimes.com/2019/09/30/opinion/tonle-sap-cambodia-climate.html    

4          Michael Sullivan, “The Lake that Feeds the Mekong Basin Is Facing a Shortage of Fish,” National Public Radio, November 9. 2019. https://www.npr.org/sections/goatsandsoda/2019/11/09/777539946/the-lake-that-feeds-the-mekong-basin-is-facing-a-shortage-of-fish   

5          Sok Chan, “Climate change to delay Kingdom’s ascent to middle-income economy,” Khmer Times, October 7. 2019. https://www.khmertimeskh.com/648301/climate-change-to-delay-kingdoms-ascent-to-middle-income-econo     

6          Mekong River Commission, “MRC ministerial council approves a drought management strategy, other policies, boosting Mekong countries’ ability to prepare for future disaster,” November 26, 2019. http://www.mrcmekong.org/news-and-events/news/mrc-ministerial-council-approves-a-drought-management-stra