Sunday, November 13, 2022

CÁC CỘNG ĐỒNG SÔNG THÁI CHỐNG LẠI CÁC DỰ ÁN RẼ NƯỚC KHỔNG LỒ

 (Thai river communities fight massive water-diversion projects)

Nicha Wachpanich – Bình Yên Đông lược dịch

The Third Pole – November 1, 2022

Khi Thái Lan tiến hành tầm nhìn ‘làm xanh’ vùng đông bắc qua các dự án thủy nông rộng lớn, The Third Pole xem xét các vấn đề mà hạ tầng cơ sở trên các phụ lưu của Mekong đã gây ra cho các cộng đồng địa phương.

 

Trong tháng 6 năm 2022, Chantra Chanthathong đi từ nhà ông ở đông bắc Thái Lan đến Bộ Nông nghiệp và Hợp tác ở Bangkok.  Cùng với khoảng 100 dân cùng làng, ông là một thành phần của nhóm yêu cầu bồi thường cho hàng ngàn người nói rằng họ chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi một loạt dự án thủy nông lớn nhỏ có ý định để “làm xanh” vùng đông bắc Thái Lan.

“Chúng tôi đang làm để làm nhẹ bớt những lo ngại của chúng tôi từ nhiều thập niên tranh đấu,” ông nói về việc chống đối.  “Tôi không biết khi nào nó sẽ chấm dứt, nhưng tôi hy vọng chúng tôi có thể mang nhịp đập của sông trở lại.”

Chanthathong sống ở Ban Don Kaeo, một làng ở đông bắc Thái Lan nằm giữa các đập Roi Et và Yasothon-Phanom Phrai trên sông Chi.  Được hoàn tất trong năm 2000, các đập là một phần của dự án thủy nông Kong-Chi-Mun (KCM), liên quan đến việc xây dựng 14 đập lớn trên sông Chi và Mun, cả 2 là phụ lưu của sông Mekong.

Ý tưởng để rẽ nước từ các sông, kể cả Mekong, để dẫn tưới đất canh tác trong vùng phía bắc khô hơn của Thái Lan đã là một mục tiêu nồng nhiệt của nhiều chánh phủ liên tiếp.  Nhưng những siêu dự án nầy từ lâu bị chỉ trích bởi các cộng đồng địa phương.

Bản đồ cho thấy 4 phụ lưu của sông Mekong ở đông bắc Thái Lan.

[Ảnh: The Third Pole]

 

Chanthathong và láng giềng của ông nói họ phải chịu ngập lụt nhà cửa thường xuyên kể từ khi xây cất các đập, và rằng chúng làm xáo trộn dòng chảy theo mùa mà họ thường dựa vào để trồng lúa.  Ông nói đáp ứng xấu từ chánh quyền quốc gia để trả lời cho những lo ngại của họ đã đẩy ông vào đường đến thủ đô.

“Chúng tôi đang có bằng chứng rằng dự án rẽ nước Mekong gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực hơn các lợi ích mà họ tuyên bố,” Sirisak Saduak, người làm việc với các cộng đồng đại diện cho một NGO địa phương trong lưu vực sông Chi.

Một đông bắc xanh

Kể từ khi dự án KCM được chấp thuận bởi nội các vào năm 1989, các dự án hạ tầng cơ sở đã mọc lên trên khắp các phụ lưu của Mekong ở đông bắc Thái Lan.  Hai đập đầu tiên, Rasi Salai và Hua Na trên sông Mun, làm ngập ruộng lúa, làng mạc và rừng đồng lụt nơi người địa phương cắt cỏ, đưa đến nhiều thập niên chống đối.

Được loan báo lúc ban đầu như một đập rẽ nước cao su nhỏ, vào lúc nó được hoàn tất trong năm 1994. Rasi Salai là một dự án thủy nông bê tông với 7 cửa xả nước cắt đứt sông Mun, phụ lưu lớn nhất của Mekong ở Thái Lan.  Về phía thượng lưu 90 km. đập Hua Na tiếp theo trong năm 1999, và nó có kích thước gấp đôi Rasi Salai.

Hai đập nầy trên căn bản thay đổi cuộc sống của hàng ngàn dân làng.  Một số mất nhiều acres ruộng lúa vì đất bị ngập và độ mặn gia tăng, vì bồi lắng đá muối lớn ở dưới đất.  Ngư dân buộc phải thích ứng với những thay đổi trong dòng nước và số cá.

 

Một ngư dân quăng lưới dưới bóng của đập Hua Na trên sông Mun ở Thái Lan,

một phần của dự án thủy nông Kong-Chi-Mun đầy tranh cãi.

[Ảnh: Luke Duggleby]

 

Thành viên của Hội đồng người Nghèo, một tổ chức trợ giúp các cộng đồng

trong việc tranh đấu chống lại ảnh hưởng của đập Rasi Salai và Hua Na,

gặp nhau hàng tháng để thảo luận các vấn đề của họ.

[Ảnh: Luke Duggleby]

 

Vì mức độ chống đối của quần chúng, các đập và dự án KCM bị bêu xấu và công việc được tạm ngưng.  Nhưng các cộng đồng bị ảnh hưởng đã tranh đấu để được bồi thường và hỗ trợ từ đó.

“Nhà nước cần trả lại quyền quản lý nước cho người dân biết rõ về môi trường của họ,” Saduak nói.  “Tất cả các vấn đề của đập được xây từ 30 năm trước chưa được giải quyết và chánh phủ vẫn tiến hành dự án rẽ nước khổng lồ mới,” ông nói thêm.

Chaiya Chantree, 50 tuổi, là xã trưởng của làng Ban Nong Orn, trên bờ sông Mun một vài km từ đập Hua Na trong tỉnh Sisaket.  Ông nhớ khi vùng còn ban sơ, đầy đời sống phong phú.

.

Chaiya Chantree (trên) ngồi trên sông Mun cách đập Hua Na vài km,

trong khi Ling (dưới) đứng trên đập Rasi Salai. 

Cả 2 là một phần của phong trào kêu gọi bồi thường cho ảnh hưởng do các đập gây ra. 

[Ảnh: Luke Duggleby]

 

Ngày nay, Chantree sống trong một môi trường không thể đoán trước.  Mỗi năm, ông và hàng trăm người địa phương chống đối quyết định của chánh quyền địa phương khi mở cửa xả của đập Hua Na.  Trong lúc mưa mùa, cửa xả của đập được đóng để ngăn chận ngập lụt ở thành phố Ubon Ratchathani kế cận nhưng điều nầy làm ngập ruộng lúa của Chantree.  Ông nói bồi thường của chánh phủ không để bù đắp mất mát của cư dân.

“Nhiều cộng đồng trong lưu vực Mekong xem chúng tôi như một nghiên cứu trường hợp.  Họ thắc mắc: ‘Làm sao anh sống với đập?’”  Chantree nói.  “Nếu chúng tôi tái định cư, chúng tôi phải bắt đầu từ số 0, vì thế câu trả lời của tôi là chúng tôi phải thích ứng để sống ở đây với đập.”

Những lo ngại của Loei và KCM

Vào năm 2012, một đánh giá ảnh hưởng môi trường (EIA) được thực hiện cho một siêu dự án thủy nông mới ở đông bắc Thái Lan, liên quan đến các dự án hạ tầng cơ sở trong các lưu vực sông khác nhau gồm có Chi và Mun.  Với dự án nầy, chánh phủ giới thiệu một dự án có tên là Mekong-Loei-Chi-Mun (KLCM)”, thêm lưu vực sông Loei, một phụ lưu khác của Mekong và ranh giới thiên nhiên giữa Thái Lan và Lào.

Trong giai đoạn đầu, siêu dự án được tái xét KLCM dự tính mang 1,9 tỉ m3 nước một năm từ Mekong qua sông Loei để dẫn tưới đông bắc Thái Lan – đảo ngược chiều chảy tự nhiên.  Cửa sông Loei, nơi nó gặp Mekong, sẽ được mở rộng trong dự án.  Nước sẽ đi qua 17 kinh đào và đường hầm đến đập Ubol Ratana trong tỉnh Khon Kaen.  Dự án được dự trù tốn trên 1.930 tỉ baht (khoảng 51 tỉ USD) và mất 20 năm để hoàn tất.

Hợp lưu của sông Loei và Mekong,

sẽ được nới rộng đáng kể trong siêu dự án mới KLCM.

[Ảnh: Luke Duggleby]

Các dự án rẽ nước trên sông Loei không giới hạn trong tầm nhìn của KLCM. Jiraporn Suwanampai, người làm việc trong đồn điền cao su gần làng của người bản xứ Ban Klang, lo ngại về “cửa xả lũ” Sri Song Rak khổng lồ đang được xây cất trên Loei, chỉ vài km từ nơi nó gặp Mekong.  Được thai nghén vào năm 2015, dự án trị giá 5 tỉ baht (132 triệu USD) gồm có 7 cửa trên sông Loei: 2 trên dòng chảy tự nhiên và 5 trên các thủy lộ được đào mới.  Các cửa sẽ quản lý dòng chảy của Loei 16 km trước khi nó chảy vào Mekong, giảm ngập lụt và tái phân phối nước trên khắp một vùng rộng lớn đất nông nghiệp, theo Bộ Thủy nông Hoàng gia.

Nhiều người ở Ban Klang chống lại đập, nói nó sẽ ảnh hưởng hệ sinh thái địa phương và có thể gây ra ngập lụt trái mùa; họ cũng lo ngại về chuyện lấy đất.  Nhưng các cộng đồng địa phương khác ủng hộ dự án và hạ tầng cơ sở mà nó mang đến.

Mặc dù ở gần với vị trí mở rộng cửa sông được đề nghị, cửa xả nước không chánh thức bao gồm trong dự án KLCM và không đòi hỏi một EIA, theo một đại diện của dự án, vì nó không đủ tiêu chuẩn trong một thông báo của Bộ Thủy lợi cho các dự án cần phải thực hiện EIA.

 

Cửa xả nước Sri Song Rak, đang được xây trên sông Loei. 

Việc xây cất sẽ hoàn tất vào năm tới.

[Ảnh: Luke Duggleby]


Một mô hình của cửa xả nước Sri Song Rak trong văn phòng ở vị trí xây cất.

[Ảnh: Luke Duggleby]

 

Một biểu ngữ chống đập được treo ở một nhà trong làng Ban Klang,

cách cửa xả nước Sri Song Rak khoảng 10 km về phía hạ lưu.

[Ảnh: Luke Duggleby]

 

Trung sĩ Prakorb Poonpol, chỉ huy xây cất dự án, tái xác nhận với The Thrid Pole rằng dự án Sri Song Rak không nằm trong KLCM.

“Các viên chức thích chia chương trình phát triển nước [cho vùng đông bắc] thành các dự án tiểu qui mô, để nó không giống như một siêu dự án, và dễ tiến hành,” Santiparp Siriwattanapaiboon, giảng sư khoa học môi trường ở Đại học Udon Thani Rajabhat, nói.

Một số người, kể cả Siriwattanapaiboon, tin rằng chánh phủ Thái đơn thuần đổi tên siêu dự án, đã thu hút sự xoi mói của quần chúng nhiều năm.  “Nó giống như ráp hình lại với nhau,” Suriwattanapaiboon nói.

Thiên nhiên và văn hóa lâm nguy

Cách cửa sông Loei 400 km là Hạ lưu sông Songkhram – con sông lớn cuối cùng chưa bị ngăn đập ở đông bắc Thái Lan.  Trong hầu hết năm, Songkhram chảy vào Mekong nơi chúng gặp nhau trong tỉnh Nakhon Phanom.  Nhưng trong mùa mưa, Mekong chảy vào Songkhram và các đồng bằng chung quanh, tạo nên rừng bị ngập đặc thù cung cấp nơi sinh sôi nẩy nở cho nhiều loại thú và cây cối ở dưới nước.  Trong năm 2019, hạ lưu vực sông Songkhram được tuyên bố là khu Ramsar, đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, công nhận tầm quan trọng môi trường, sinh thái và văn hóa của nó.

 

Ngư dân trên sông Songkhram trong tỉnh Nakhon Phanom ở Thái Lan. 

Hạ lưu Songkhram là con sông quan trọng cuối cùng chưa bị ngăn đập

ở đông bắc Thái Lan.  Kết quả là, một hệ sinh thái mong manh của đất ngập nước

và các phụ lưu vẫn có thể hỗ trợ các cộng đồng đánh cá hoạt động.

[Ảnh: Luke Duggleby]

 

Kỹ nghệ đánh cá truyền thống ở địa phương đã chống lại các kế hoạch để xây 1 đập trên sông gần 4 thập niên. Đập được đề nghị sẽ xây ở làng NaPiang, huyện Chaiburi, dưới 10 km từ nơi Songkhram gặp Mekong.  Dự án nhằm giảm nhẹ lũ lụt và hạn hán trong lưu vực sông.  Mặc dù được công nhận là khu Ramsar, dự án vẫn đang chờ đợi.

Đập Songkhram được đề nghị cũng không chánh thức bao gồm trong dự án KLCM. Nhưng về địa lý và kiến tạo, nó rất giống với của xả nước Sri Song Rak, theo Siriwattanapaiboon, gồm có 5 cửa xả nước.

Trong tháng 9 năm 2022, Thái Lan tổ chức một vòng lắng nghe quần chúng khác cho dự án KLCM.  Để đáp ứng, các cộng đồng địa phương từ các lưu vực sông khác nhau ở đông bắc đã cùng nhau thảo luận sự chống đối dự án và các tiền nhiệm lâu hàng thập niên của họ.

 

Vào tháng 5 năm 2022, Amnart Traijak, chủ tịch của Hệ thống các Cộng đồng Mekong ở đông bắc Thái Lan, đặt một vòng hoa trên sông Songkhram như một phần của lễ hội Bun Bang Fai.  Một truyền thống của các cộng đồng bản xứ Lào sống dọc theo sông Mekong, lễ hội nhắc nhở trời mang mưa.  Ở dông bắc Thái Lan, các vòng hoa thường được đề cữ mang thông điệp đến trời và chánh phủ.  “Các thần linh thân mến, chúng tôi không muốn thêm đập.  Chúng tôi hy vọng những nhà làm chánh sách sẽ lắng nghe chúng tôi dù chỉ một ít,” Traijak khấn vái. 

[Ảnh: Luke Duggleby]

 


HỢP TÁC GIỮA CÁC NHÀ SẢN XUẤT THỦY ĐIỆN CÓ THỂ LÀ CÂU TRẢ LỜI ĐỂ LÀM SỐNG LẠI MEKONG HÙNG VĨ

 (Cooperation among hydropower producers could hold the answer to reviving the mighty Mekong)

Singapore University of Technology and Design – Bình Yên Đông lược dịch

Phys.org – November 3, 2022


Toàn thể phạm vi không gian của vị trí nghiên cứu, gồm có lưu vực sông Mekong và sông Chao Praya (trái).  Đại diện không gian của hệ thống hạ tầng cơ sở hệ thống điện cho mỗi tỉnh của Thái Lan, Lào và Cambodia (phải).  Các vòng tròn, đoạn và hình vuông là các nguồn sản xuất, các đường dẫn điện cao thế và các nút nhập cảng/xuất cảng. [Ảnh: SUTD]

Các đồng lụt của Mekong là một điểm nóng đa dạng sinh học toàn cầu duy trì một trong những nền thủy sản nội địa lớn nhất trên thế giới.  Tuy nhiên, 2 thập niên phát triển thủy điện đã thay đổi lưu lượng của sông và ảnh hưởng nước có sẵn cho các đồng lụt.  Đặc biệt, nhịp lũ – lực đẩy chánh yếu của các đồng lụt lành mạnh – đang ngắn hơn và yếu hơn.

Một nhóm khoa học gia từ Đại học Kỹ thuật và Thiết kế Singapore, Đại học Nam Florida và Đại học Maryland nay đã cho thấy rằng có các cách điều trị tiềm tàng cho tình trạng – phối hợp các quyết định của các nhà sản xuất thủy điện có thể làm giảm ảnh hưởng của đập đối với nhịp lũ.

Các điều được tìm thấy của họ, có tựa đề “Các cơ hội để hạn chế những thay đổi thủy hoc qua việc tái điều hành đập trong Mekong,” được công bố trên Nature Sustainability (Tính Khả chấp Tự nhiên).

Xây dựng trên các mô hình toán có độ phân giải cao của tất cả các đập trong lưu vực Mekong, nhóm nghiên cứu cho thấy rằng các kế hoạch phối hợp sản xuất thủy điện của tất cả các đập có thể giúp duy trì mức sản xuất thủy điện hiện nay trong khi cải thiện phẩm chất của nhịp lũ.  Điều nầy có thể đưa đến việc cải thiện thu nhập thủy điện trong lúc phục hồi các thành phần then chốt của sự thay đổi thủy học.

“Giải thích ở phía sau các kết quả nầy nằm ở sự hợp tác,” Tiến sĩ (TS) Stefano Galelli, nhà điều tra chánh từ SUTD chia sẻ.  “Các quyết định xả đập và các kế hoạch sản xuất thường được thực hiện trên căn bản từng dự án.  Phối hợp những quyết định nầy từ hàng chục đập trong lưu vực cho phép khả năng trữ nước khổng lồ của Mekong được dùng cho 2 mục đích cùng lúc – cung cấp điện và dịch vụ hệ sinh thái.

Chu kỳ hàng năm của các đồng lụt nhiệt đới lành mạnh là đặc tính của nhịp lũ mạnh trong mùa mưa và thời kỳ khô kéo dài.  Cả 2 thời kỳ khô và ướt rất quan trọng để duy trì các hệ sinh thái.  Bằng cách thay đổi sự thay đổi tự nhiên nầy, các đập thủy điện có ảnh hưởng mạnh đến môi trường.

Nhóm nghiên cứu cho thấy rằng vài khía cạnh của sự thay đổi tự nhiên nầy có thể được phục hồi.  Thời gian kéo dài của nhịp lũ, thí dụ, đã trở nên ngắn hơn và yếu hơn, nhưng nó quả thật có thể làm cho nó lâu hơn.  Tương tự áp dụng cho nhiều thành phần khác của lưu lượng sông được biết là kiểm soát sự tăng trưởng của cá.

“Tất cả những điều được tìm thấy nầy rất phấn khởi – thay đổi các kế hoạch sản xuất thủy điện không đòi hỏi bất cứ can thiệp về kiến trúc nào, vì thế những kế hoạch nầy có thể được thực hiện gần như miễn phí, chừng nào các quốc gia Mekong đồng ý.  Cũng cần lưu ý rằng kết quả tốt hơn sẽ được thực hiện nếu tất cả các quốc gia, kể cả Trung Hoa, hợp tác các nỗ lực của họ,” TS Galelli nói.

“Thủy điện có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển sang phóng thích carbon thấp ở nhiều nơi trên thế giới.  Tuy nhiên, việc phát triển và điều hành các hệ thống thủy điện trong tương lai sẽ đòi hỏi gia tăng các chiến lược thích ứng để giảm thiểu ảnh hưởng sinh thái-xã hội.  Phương pháp và những điều được tìm thấy của chúng tôi sẽ nâng cao những hiểu biết như thế cho việc phát triển và điều hành khả chấp hơn của các hệ thống thủy điện toàn cầu,” TS Kamal Chowdhury, một cựu hậu tiến sĩ ở SUTD, hiện làm việc ở Trung tâm Liên ngành Khoa học Hệ thống Trái đất (Earth System Science Interdisciplinary Center (ESSIC)), Đại học Maryland.

“Nghiên cứu nầy cho thấy rằng có những cơ hội toàn thắng thật sự cho Mekong.  Không phải có được-mất giữa cái gì tốt cho môi trường và cái gì tốt để sản xuất năng lượng.  Chìa khóa của tất cả là hợp tác,” Maurico Arias. Phụ tá Giảng sư ở Đại học Nam Florida, nói.

“Khi các kế hoạch để xây dựng một lưới điện hỗn hợp – lưới điện ASEAN – được mở ra, càng ngày càng nhiều thủy điện sẽ được trao đổi giữa các quốc gia, làm cho những điều được tìm thấy nầy đặc biệt có lợi cho những quốc gia ở Đông Nam Á.  Tuy nhiên, khám phá những cách để hỗ trợ việc trao đổi nầy mà không làm hại môi trường là chìa khóa của các nỗ lực khả chấp đang diễn ra của chúng tôi,” TS Galelli nói thêm.

Sunday, November 6, 2022

THAY ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐẬP BUỘC CƯ DÂN LỚN TUỔI RỜI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Ở VIỆT NAM

 (Climate change and dams force older residents to leave Vietnam’s Mekong Delta)

Nhung Nguyen – Bình Yên Đông lược dịch

The Third Pole – October 24, 2022

 

Tư Đầy, 58 tuổi, và chồng, 63 tuổi, trong phòng nhỏ mướn ở thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.  Hai người di chuyển đến thành phố trong năm 2016, sau khi môi trường thay đổi làm cho trại nuôi cá của họ ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không còn sinh lợi.

[Ảnh: Thanh Nguyen]

 

Hạn hán, mực nước sông xuống thấp và nước mặn xâm nhập đang ăn mòn sinh kế ở ĐBSCL ở Việt Nam, buộc nhiều cư dân lớn tuổi đi đến thành phố, nơi họ đối mặt với những vấn đề đặc thù và một lưới an toàn mỏng.

Ở tuổi 63, Nguyễn Thị Ngọc có việc làm ‘công ty’ toàn thời gian đầu tiên như một bảo vệ ở thành phố Hồ Chí Minh.  Bà chưa bao giờ đến một thành phố trước đây nhận việc vào đầu năm 2021, nhưng người cựu nông dân, gốc từ ĐBSCL ở miền nam Việt Nam, thờ ơ với sự rộn ràng đô thị của thành phố lớn thứ nhì [thứ nhất] của quốc gia.

“Tôi đến đây để làm việc, kiếm một số tiền, không phải để chơi,” bà nói, ngồi bên ngoài khu nhà gần bỏ hoang mà bà bảo vệ.  “Trong 6 tháng qua, nơi duy nhất mà tôi đến là chợ.”

Khoảng 6 năm trước, Nguyễn và chồng bà bỏ trang trại của họ trong tỉnh Tiền Giang ở ĐBSCL.  Đối mặt với nước mặn xâm nhập gia tăng, họ chuyển từ trồng lúa sang trồng khóm chịu mặn hơn.  Nhưng điều nầy chưa đủ.  Năng suất giảm sau vài mùa, rồi trong năm 2016, nước trong kinh đào địa phương của họ - nối với sông Mekong – trở nên quá mặn ngay cả cây khóm cũng không thể chịu nỗi, và chúng ngưng có trái.

 

Nguyễn Thị Ngọc làm bảo vệ ở thành phố Hồ Chí Minh.  Ngọc rời nhà ở ĐBSCL sau khi những thay đổi môi trường khiến thất mùa. [Ảnh: Cuong Tran]

 

Năm đó, vùng ĐBSCL bị hạn hán, khiến cho 600.000 người không có nước ngọt.  Mưa dưới trung bình, do El Niño của năm đó, và các đập thủy điện ở thượng lưu trên Mekong giữ nước sông được xác nhận như những nguyên nhân chánh của hạn hán.  Lưu lượng giảm có nghĩa là sông ít có khả năng đẩy nước biển, cho phép nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền, làm tê liệt trung tâm nông nghiệp ven biển và làm mất mát kinh tế trực tiếp 319,5 triệu USD.

Chán nản, chồng của Nguyễn bán đất để trang trải mất mát của họ và di chuyển đến thành phố Hồ Chí Minh để nhận việc như một bảo vệ.  Năm năm sau, vào đầu năm 2021, bà đi theo.  “Tôi không muốn gieo gánh nặng cho con trai và con gái của tôi.  Cả 2 đều nghèo và có gia đình của mình,” bà nói.

Ảnh hưởng của khí hậu và đập ở ĐBSCL

Với thời tiết không có giông bão và đất đai phì nhiêu, ĐBSCL của Việt Nam được biết từ lâu như một vùng trù phú, chỉ có 17 triệu người sống trong vùng, nhưng nó nuôi sống hầu hết dân số 100 triệu, sản xuất trên ½ tất cả số lúa sản xuất của quốc gia.  Tuy nhiên, từ năm 2009, đồng bằng đã trở nên một trong vài nơi của quốc gia nơi dân số nhỏ lại.  Đất nông nghiệp suy thoái, tình trạng thiếu nước, sạt lở đất và ô nhiễm đã khiến gần 1,1 triệu – tương đương với dân số của một tỉnh – di chuyển ra khỏi vùng.

Hạn hán lịch sử năm 2016 chỉ là một phần của lề lối mới xuất hiện ở ĐBSCL.  Nhịp lũ hàng năm của nó, mà nông nghiệp và nuôi thủy sản trong vùng dựa vào, đã càng ngày càng trở nên khó đoán trước.  Trong 2 thập niên qua, El Niño và La Niña đã đu đưa đồng bằng giữa khô bất thường và ướt cực đoan, gây ra nhiều hạn hán và lũ lụt.  Và với cao độ trung bình được ước tính chỉ có 80 cm, ĐBSCL rất dễ bị tổn thương với ảnh hưởng của mực nước biển dâng, có thể gồm có ngập úng những vùng lớn, nước mặn xâm nhập nghiêm trọng hơn và sạt lở ven biển đến vùng đất thấp.

Một kinh đào cạn khô trong tỉnh Tiền Giang ở ĐBSCL trong đợt hạn hán nghiêm trọng trong tháng 5 năm 2020. [Ảnh: Thanh Nguyen]

 

Trên cả thay đổi khí hậu, các hoạt động của con người khác đã biến chuyển vùng không thể đảo ngược.  Trong 2 ½ thập niên qua, các đập đã được xây trên dòng chánh Mekong, với 11 đập ở Trung Hoa (được gọi là Lancang) và 2 đập ở Lào, với 7 đập nữa trong các giai đoạn quy hoạch khác nhau dọc theo dòng chánh.  Nhiều đập cũng được xây trên các phụ lưu của Mekong.  Điều nầy đã làm cho sông mất nước và phù sa cần thiết, thúc đẩy sạt lở nghiêm trọng, tồi tệ thêm bởi khai thác cát.  Trong lúc đó, sụt lún thúc đẩy bởi khai thác nước ngầm được dự đoán sẽ làm cho ngập lụt, nước mặn xâm nhập và sạt lở tồi tệ thêm.

“[Những vấn đề nầy] đã làm cho canh tác là một doanh nghiệp rất rủi ro,” Phùng Đức Tùng, giám đốc của Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong, một viện nghiên cứu độc lập hàng đầu ở Việt Nam, nói.

Di dân là một chiến lược để đối phó

“Những người lớn tuổi bị đẩy ra khỏi làng mạc để kiếm sống trong các thành phố là một vấn đề đáng lo ngại cần được nghiên cứu thêm,” Phùng nói.  Khảo sát quốc gia về di dân ở trong nước gần đây nhất, từ năm 2015, ghi nhận một sự gia tăng đáng kể trong tỉ lệ di dân trong nhóm tuổi 50-59 giữa năm 2004 và 2015, tăng từ 2,9% đến 5,7%.  Khảo sát Tuổi tác Việt Nam năm 2011 cho thấy gần 40% người dân trên 60 tuổi vẫn còn làm việc, phần lớn ở vùng nông thôn với ít hỗ trợ tài chánh của các hệ thống lợi ích xã hội.  Càng có ít con để nhận được hỗ trợ, càng có vẻ họ phải tiếp tục đi làm.

Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội của Việt Nam, vào cuối năm 2020, chỉ có 35% số người trên tuổi hưu trí (60 cho đàn ông và 55 cho đàn bà) được hưởng tiền hưu và bảo hiểm xã hội hàng tháng.  Số tiền được hưởng tùy theo có làm việc trong thành phần chánh thức và đóng tiền bảo hiểm quốc gia.

Di dân không phải là sự chọn lựa phổ biến truyền thống cho người lớn tuổi ở nông thôn Việt Nam, Phùng nói.  Họ thường không muốn đến thành phố, với lực lượng lao động cạnh tranh mãnh liệt và đời sống bận rộn, mà họ không sẵn sàng cho.  Nhưng khi sinh kế ở quê nhà không còn bảo đảm nhu cầu tối thiểu, và không có hỗ trợ của con cái, họ phải di chuyển, ông nói.  Đối với họ, di dân là một chiến lược đối phó.

Ở ĐBSCL, nơi công việc không canh tác rất hiếm, bất cứ cú đánh nghiêm trọng nào vào việc sản xuất nông nghiệp sẽ gây ra mất đất và mất việc, Phùng giải thích.  “Sự kiện là lưới an sinh xã hội và tiền hưu không đủ để bao gồm dân số nhất định có một phần ở đây.”

Việc chuyển nghề có thể rất khó cho di dân lớn tuổi, kể cả các nông dân lớn tuổi có thể sở hữu một ít kỷ năng có thể chuyển đổi hay mức giáo dục thấp, Phùng nói.  Người lớn tuổi di cư đến thành phố có khuynh hướng được sử dụng trong thành phần không chánh thức, như công nhân xây cất, buôn bán, dọn dẹp, giữ nhà và nhân viên an ninh.

Rắc rối ở thượng lưu

Đây là kinh nghiệm của Tư Đầy và chồng bà.  Di chuyển đến thành phố Hồ Chí Minh 6 năm trước từ tỉnh Đồng Tháp ở ĐBSCL là “phương sách cuối cùng”, người đàn bà 58 tuổi nói, người cắt cỏ và quét lá trong công viên.  Chồng bà, lớn hơn bà 5 tuổi, làm việc xây cất.

Ở nhà ở Đồng Tháp, thượng lưu của Tiền Giang, Tư Đầy và gia đình phải đối phó với các vấn đề khác từ gia đình của Nguyễn.  Trong 4 năm, trại nuôi cá của họ đã bị đe dọa liên tục từ nước sông gia tăng ô nhiễm và mưa lớn “như điên” gần đây, bà nói.

Nước sông trở nên đầy rác, nước thải ao cá và thuốc trừ sâu, bà nói, khiến rủi ro đển bơm vào trại của họ.  “Cá [sẽ] bị bệnh và chết chỉ vài ngày trước khi chúng tôi có thể bán chúng.”  Trong năm 2016, năm gia đình bà cuối cùng từ bỏ, cá chết tập thể đánh vào huyện của họ.  Chánh quyền địa phương đổ cho thay đổi khí hậu đã hạ thấp mực nước sông, gây “ảnh hưởng tai hại” cho việc nuôi thủy sản.

 

Tư Đầy và chồng bà ở bên ngoài căn phòng mướn của họ ỏ thành phố Hồ Chí Minh.

[Ảnh: Thanh Nguyen]

 

Gia đình của Đầy đổ nợ.  Hai người bán đất họ trồng lúa, nhưng điều đó chỉ trang trải một phần.  Trong khi con trai và con gái của họ ở lại để trông coi cái còn lại của trại nuôi cá, Tư Đầy và chồng đi lên thành phố Hồ Chí Minh.

Nhưng 6 năm sau, nợ vẫn kéo dài.  Đầy nói bà bị bệnh thường xuyên hơn kể từ khi di chuyển, đưa đến tiền bệnh viện tốn kém.  Chồng bà than phiền cảm thấy “nghẹt thở” trong căn phòng nhỏ hẹp mà họ mướn trong một tòa nhà mà họ nói “đầy những người nhà quê lớn tuổi như chúng tôi”.

‘Nó giống như nhìn vào tương lai’

“Trong một ý nghĩa nào đó, họ [di dân làm việc lớn tuổi] bị buộc làm lao động bị tổn thương vô cùng,” Giang Thành Long, giám đốc của Viện Quản lý và Chánh sách Công cộng nói ở Đại học Kinh tế Quốc gia ở Hà Nội.  Làm việc lao động dễ bị tai nạn và thương tích nghề nghiệp, nhưng không giống như người trẻ, họ có vẻ có bệnh tật kéo dài, tồi tệ thêm vì thiếu ăn và chỗ ở.  Vì không có bảo hiểm sức khỏe và bảo vệ thất nghiệp, “họ vướng vào chu kỳ xấu,” Giang nói.

Theo Hằng Ngô, một nhà khoa học nghiên cứu về y tế mà công việc gần đây chú trọng đến di dân từ ĐBSCL đến thành phố Hồ Chí Minh, di dân ít giảm tính dễ tổn thương liên quan đến kinh tế xã hội và áp lực khí hậu, nhưng “giống hơn việc chuyển từ một nhóm rủi ro khí hậu và tính dễ tổn thương liên quan đến sức khỏe sang cái khác.”

Hiện tượng có vẻ gia tăng trong những năm sắp tới.  Việt nam là một trong những quốc gia lão hóa nhanh nhất trên thế giới.  Với 25% dân số được tiên đoán trên 60 tuổi vào năm 2019, nó “đang già trước khi giàu”, theo Ngân hàng Thế giới.  Trong khi đó, điều kiện khiến Tư Đầy và gia đình của Nguyễn phải di cư năm 2016 chỉ là bắt đầu.  ĐBSCL từ đó đã bị hạn hán và các sự kiện nước mặn xâm nhập nghiêm trọng hơn trong năm 2020 và 2021.

Nhưng một chiến lược đáp ứng với khí hậu toàn bộ hơn có thể giúp giải quyết nhiều vấn đề đã đẩy di dân lớn tuổi ra khỏi nơi đầu tiên, Phùng và Ngô nói.  Thí dụ, các chương trình đa dạng hóa sinh kế nông nghiệp có thể hơn là chú trọng đến hoa màu có tính chịu đựng hay các kỹ thuật canh tác cho nông dân, và bắt đầu chuyển hỗ trợ đến những người không có đất và thiếu tiếp cận đến các nguồn tài chánh, Ngô giải thích.  Và nếu người dân quyết định đi đến thành phố, bà nói, các chánh sách phát triển và thích ứng khí hậu nên bao gồm những cần thiết và bảo vệ của họ để giảm không ổn định đô thị.

Đại dịch Covid-19 làm nổi bật những bảo vệ xã hội yếu kém cho di dân ở Việt Nam.  Nhiều di dân được báo cáo nhồi nhét trong các chỗ mướn đông đúc, đối mặt với gia tăng rủi ro bị truyền nhiễm.

“Mặc dù mọi người đều rủi ro, người dễ bị tổn thương như di dân bị ảnh hưởng nhiều nhất,” Ngô nói.  Có một lưới an toàn tốt hơn và bảo vệ xã hội nhiều hơn có thể giúp những nhóm nầy phục hồi từ các khủng hoảng, bà nói thêm.  “Và nếu đại dịch đánh hay thay đổi khí hậu khuếch đại, người dân có thể thích ứng tốt hơn.”

“Nó giống như nhìn vào tương lai,” Phùng nói.  “Những vấn đề  mà nhóm nầy đang đương đầu hôm nay sẽ là những vấn đề mà nhiều nhóm khác phải đương đầu trong những năm sắp tới.  Xây dựng các chánh sách bảo vệ cho họ là, quả thật, làm việc cho một tương lai tốt hơn cho tất cả chúng ta.

Ngay cả nhiều di dân rời thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2021, Tư Đầy và chồng bà quyết định ở lại để trả số nợ còn lại của họ.  “Không có gì cho chúng tôi ở nhà, không có tiền để xài, không có gạo để ăn – chúng tôi sẽ chết đói,” bà nói.  “Thêm nữa, nay ở nhà rất buồn: làng tôi đã bị bỏ hoang.  Láng giềng của chúng tôi cũng đã đi lên thành phố.”