Monday, October 24, 2022
Sunday, October 23, 2022
LƯỢNG ĐỊNH THỦY ĐIỆN BÊN TRONG CÁC HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG: VẼ MỘT CON ĐƯỜNG THIÊN NHIÊN TÍCH CỰC ĐẾN TƯƠNG LAI NĂNG LƯỢNG KHẢ CHẤP
(Evaluating Hydropower Within Energy Systems: Plotting A Nature Positive Path To A Sustainable Energy Future)
Jeff Opperman – Bình Yên Đông lược dịch
Forbes – October 11, 2022
Đánh cá bằng chày.
Hội nghị Thay đổi Khí hậu của Liên Hiệp Quốc (COP27) sắp tới, được tổ chức ở Egypt trong tháng 22, chú ý đến những con đường cần thiết để đạt được các mục tiêu khí hậu toàn cầu. Việc khử carbon nhanh chóng của các nền kinh tế là trọng tâm của ổn định khí hậu, gồm có hoàn tất các hệ thống điện zero ròng vào năm 2050. Nhưng với thế giới cũng đối mặt với khủng hoảng thiên nhiên/đa dạng sinh học và cố gắng để hoàn thành một loạt mục tiêu phát triển, những con dường nầy phải yếu tố vào ảnh hưởng của chúng đối với các cộng đồng và hệ sinh thái; ổn định khí hậu nên cố gắng để đồng nhất với việc duy trì các hệ thống hỗ trợ đời sống của Trái đất.
Vài dự đoán cho cái cần thiết để hoàn tất các hệ thống điện đồng nhất với mục tiêu khí hậu 1,5 oC làm nổi bật một khả năng thủy điện gấp đôi, chẳng hạn như những tiên đoán của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) và Cơ quan năng lượng Tái tạo Quốc tế (IRENA). Mặc dù đó là một phần nhỏ hơn những tái tạo khác, chẳng hạn như gió và PV mặt trời, được tiên đoán gia tăng trên 20 lần, một khả năng thủy điện toàn cầu gấp đôi dù sao cũng đại diện một sự bành trướng lớn lao của hạ tầng cơ sở quan trọng sẽ ảnh hưởng các sông trên thế giới – và lợi ích khác nhau mà chúng cung cấp cho xã hội và kinh tế từ thủy sản nước ngọt nuôi sống hàng triệu người đến giảm nhẹ và ổn định thực phẩm ở đồng bằng.
Chỉ còn 1/3 sông lớn trên thế giới vẫn chảy tự do – và một khả năng thủy điện gấp đôi sẽ ngăn đập khoảng ½ số nầy, trong khi sản xuất dưới 2% sản lượng tái tạo cần thiết vào năm 2050.
Gần tất cả các dự án năng lượng mới, gồm có gió và mặt trời, sẽ gây một số ảnh hưỡng tiêu cực, nhưng mất một loại hệ sinh thái quan trọng – các sông lớn chảy tự do - ở mức độ đó sẽ có được-mất quan trọng cho người dân và thiên nhiên ở mức toàn cầu. Như vậy, bành trướng thủy điện xứng đáng được quy hoạch và lấy quyết định kỹ lưỡng đặc biệt. Ở đây, tôi xem xét các vấn đề quan trọng liên quan đến việc lượng định thủy điện, gồm các vấn đề thường bị hiểu lầm.
Thủy điện nhỏ thường được giả sử thích hợp hay ảnh hưởng thấp, nhưng điều đó thường không phải là trường hợp. Thủy điện nhỏ không được định nghĩa đồng nhất (thí dụ, một số quốc gia xếp ‘thủy điện nhỏ’ như bất cứ gì đến 50 MW) nhưng nó thường được xếp loại như dự án dưới 10 MW. Vì các dự án có kích thước như thế thường được giả sử có ảnh hưởng nhỏ đối với môi trường, các dự án thủy điện nhỏ thường nhận được khích lệ hay trợ cấp và/hay lợi ích từ duyệt xét môi trường giới hạn. Tuy nhiên, sự nảy nở của các đập thủy điện nhỏ có thể gây ra ảnh hưởng cộng dồn đáng kể.
Hơn nữa, ngay với một dự án nhỏ ở một vị trí đặc biệt nghèo có thể gây ảnh hưởng tiêu cực lớn một cách ngạc nhiên.
Thủy điện dòng chảy cũng thường được trình bày như có ảnh hưởng tiêu cực hạn chế, nhưng một số đập với ảnh hưởng cao nhất trên sông là các đập dòng chảy. Các đập dòng chảy không trữ nước trong thời gian dài; số lượng nước chảy vào dự án giống như số lượng nước chảy ra khỏi dự án – ít nhất trên căn bản hàng ngày. Tuy nhiên, các dự án dòng chảy có thể trữ nước trong 1 ngày khi chúng điều hành để “đỉnh nước,” trữ nước suốt ngày và xả nước trong vài giờ có nhu cầu đạt đỉnh. Kiểu điều hành này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực cho hệ sinh thái sông ở hạ lưu. Vì các đập dòng chảy không có hồ chứa nước lớn, chúng không gây ra một số ảnh hưởng quan trọng cho người dân và sông liên quan với các hồ chứa nước lớn, gồm có dời cư đại qui mô các cộng đồng và làm xáo trộn lề lối theo mùa của dòng chảy. Nhưng những khác biệt nầy cũng thường đưa đến tổng quát hóa bao quát hơn rằng các dự án dòng chảy không có ảnh hưởng đối với sông – hay rằng thủy điện dòng chảy không cần đập. Mặc dù một số dự án dòng chảy không có một đập ngang toàn thể lòng lạch, nhiều dự án dòng chảy lớn cần một đập chia thành đoạn lòng lạch sông (xem ảnh bên dưới). Việc tổng quát hóa không thích hợp nầy trở thành vấn đề khi các người ủng hộ một dự án chỉ đến tình trạng dòng chảy của nó như viết tắt để lập luận rằng nó sẽ có ảnh hưởng tối thiểu. “Việc tổng quát hóa vội vã” đó được dùng bởi những người ủng hộ đập Xayaburi trên sông Mekong, đang có những ảnh hưởng quan trọng đối với việc di chuyển của cá và giữ lại phù sa cần thiết bởi đồng bằng ở hạ lưu.
Đập Chief Joseph, một đập thủy điện 2,6 GW trên sông Columbia được xếp loại như đập dòng chảy. [Ảnh: US Army Corps of Engineers]
XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP
GIỚI TINH HOA CAMBODIA NUỐT CHỬNG CÁC HỒ Ở PHNOM PENH, ĐỂ CHO NGƯỜI NGHÈO BỊ BỎ LẠI TRÊN HOANG ĐẢO
(Cambodia’s elites swallow up Phnom Penh’s lakes, leaving the poor marooned)
Gerald Flynn and Vutha Srey – Bình Yên Đông lược dịch
Mongabay - 7 October 2022
· Các hồ ở Phnom Penh đang được lấp nhanh chóng và chia lô như bất động sản hàng đầu cho những cá nhân giàu có và có liên lạ chánh trị.
· Những gia đình có nhiều thế hệ đánh cá và nuôi thủy sản trên hồ và đất ngập nước chung quanh đối mặt với bị đuổi nhà và mất sinh kế.
· Cùng lúc, các chuyên viên cảnh cáo rằng lấp những hồ chứa nước mưa thiên nhiên nầy gây rủi ro làm tồi tệ cường độ ngập lụt và thiệt hại trong thủ đô của Cambodia.
· Câu chuyện nầy được hỗ trợ bởi Pulitzer Center’s Rainforest Investigation Network (Hệ thống Điều tra Rừng mưa của Trung tâm Pulitzer) nơi Gerakd Flynn là một thành viên.
PHNOM PENH — Trên bờ của Boeung Tamok, hồ lớn nhất của Phnom Penh, Kong Khun 25 tuổi tránh cái nóng của cuối tháng 6 trong cái chòi tre. Mặc dù trời trong, Khun không đi ra ngoài nước để đánh cá với gia đình. Có một điểm nhỏ, anh nói.
Một đoàn xe vận tải hầu như không dứt mang cát, đá và đất diễn hành chung quanh cái còn lại của hồ như một phần cửa dự án cải tạo đất mà Khun nói đã làm tiêu hao dân số cá và lợi tức của anh.
“Các hồ chung quanh thành phố nầy gần như biến mất,” Khun nói. “Đây là hồ lớn cuối cùng của Phnom Penh, và khi nó biến mất, thành phố sẽ bị ngập đến thắt lưng và người nghèo sẽ phải làm việc xây cất hay hãng xưỡng, đó là tất cả những gì sẽ còn lại.”
Từ lâu là nguồn cá và nuôi thủy sản, cùng với cung cấp bảo vệ ngập tự nhiên và lọc nước thải, các hồ trên khắp Cambodia đang được lấp bởi các đại tư bản có thế lực và các cơ quan chánh phủ.
Khun là một trong vài người vẫn còn ở Boeung Tamok, nơi chánh phủ đã đuổi khoảng 300 gia đình ra khỏi hồ để làm nơi phát triển thương mại.
Những gia đình nầy đã dựa vào hồ để dánh cá và nuôi thủy sản từ nhiều thế hệ, nhưng NGO về quyền đất đô thị Sahmakum Teang Tnaut (STT) cảnh báo hồi tháng 4 năm 2021 rằng có đến 25 gia đình đó có nguy cơ bị đuổi cao hiện nay, trong khi 204 gia đình khác có nguy cơ bị đuổi trong tương lai.
Hồ chiếm trên 3.239 hectares (8.004 acres) khi nó được chánh thức phân ranh giới trong năm 2016. Nhưng trong 4 năm qua, nó đã được sửa ít nhất 25 lần, với trên 2.136 hectares (5.278 acres) diện tích đã được bán cho chủ tư nhân hay được tặng cho trên 12 tổ chức chánh phủ, theo STT.
Ảnh vệ tinh từ Planet Explorer cho thấy mức độ Boeung Tamok được lấp.
[Ảnh: Gerald Flynn]
Trong tháng 6 và 7, hàng trăm gia đình ở Boeung Tamok đã nộp thỉnh cầu đến các tổ chức chánh phủ trong nỗ lực để cứu nhà của họ. Mười sáu người chống đối, hầu hết là đàn bà, sau đó được triệu tập đến Tòa án Thị xã Phnom Penh vì tội khích động, Bảy trong số 16 nhận lời mời đến tòa án và các phiên tòa được tổ chức trong tháng 8, nhưng giới chức tòa án từ chối cho biết kết quả khi được liên lạc trong tháng 9.
Vitit Muntarbhorn, tường trình viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về tình hình nhân quyền ở Cambodia, đề nghị trong ý kiến gần đây rằng những người chống đối cho nhà của họ ở chung quanh hồ đã được chú ý.
“Tôi cũng thấy trước cảnh ngộ của các cộng đồng bị dời cư bởi sự cạnh tranh đất,” Muntarbhorn nói trong tháng 8 theo sau chuyến viếng thăm Cambodia gần đây nhất của ông. “Đặc biệt liên quan đến tư hữu hóa và lấp đất để biến hồ trong vùng Pnmom Penh thành đất thương mại, và chấn thương gây ra bởi sự dời chỗ và những nguy hiểm cộng thêm của ngập lụt gây ra bởi phát triển không cân xứng.”
Prak Sophea, đại diện của 250 gia đình đối mặt với duổi nhà trên hồ, tổ chức một buổi họp cộng đồng ở nhà bà nơi bà sống từ năm 2000. Bà là 1 trong số 16 thành viên cộng đồng, hầu hết là phụ nữ, được triệu tập đến Tòa án Thị xã Phnom Penh trong tháng 8 năm 2022 vì tội khích động chống đối để đáp lại việc đuổi nhà của họ. [Ảnh: Andy Bail]
XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP
CÁC TRẠI NUÔI HEO Ở VIỆT NAM LÀ ÁC MỘNG MÔI TRƯỜNG
(Vietnam’s pig farms an environmental nightmare)
Vo Kieu Bao Uyen – Bình Yên Đông lược dịch
Mekong Eye – 10 October 2022
Đàn bà ở xã Phú An đang chịu mùi hôi thối từ các hố nước thải lộ thiên của các trại nuôi heo nằm ngay trong làng của họ. [Ảnh: Vo Kieu Bao Uyen]
Trong khi quốc gia gia tăng việc sản xuất heo, môi trường, và người dân, đang trả một cái giá cao.
ĐỒNG NAI, Việt Nam – Bây giờ là tháng 3 và Nguyễn Thị Bông đã than phiền về mùi hôi của phân heo trong làng số 5 của xã Phú An từ nhiều năm nay. Bà và một nhóm đàn bà khác trong cộng đồng ở tỉnh Đồng Nai, ở miền nam Việt Nam, đã có đủ và họ muốn chánh quyền địa phương biết.
Trong năm 2014, trại nuôi heo 10.000 con và một loạt hố nước thải lộ thiên xuất hiện cạnh nhà bà trong tỉnh được biết như “thủ đô heo của Việt Nam.” Ao cá gần nhà bà chẳng bao lâu trở nên đen ngòm vì nước thải từ trại. Trong khi đàn ông và người trẻ trong làng đi học hay đi làm ở đồng ruộng xa nhà, những người đàn bà trung niên làm việc ở nhà như Bông chịu trực tiếp hầu hết ô nhiễm nầy.
Trại nuôi heo đã phủ kín không khí trong lành trong một vùng thôn quê bao quanh bởi đồi núi gần cao nguyên. Nhưng làng của Bông không chỉ là cộng đồng duy nhất bị nghẹt thở vì chất thải của heo. Có hàng trăm làng như thế ở Đồng Nai, cũng như trên khắp Việt Nam, quốc gia tiêu thụ heo đứng thứ nhì ở Á Châu sau Trung Hoa.
Dân số heo bùng nổ không đi theo với khả năng đổ bỏ chất thải gia tăng, đe dọa môi trường tự nhiên, sức khỏa và cuộc sống của người địa phương.
Cái giá của dân số hóa heo
Khi Bông còn nhỏ, heo là một biểu tượng của giàu có: bà thường phải chờ đến Tết Âm lịch để thưởng thức một vài miếng thịt. Nhưng nay mọi thứ đã thay đổi.
Sau 3 thập niên cải tổ kinh tế do chánh phủ cầm đầu được gọi là Đổi Mới, thịt heo có nhiều trong các bữa ăn Việt Nam, kể cả trong các món ăn mà công thức truyền thống chỉ có cơm và rau cải.
Theo Bộ Y tế, số lượng thịt trung bình tiêu thụ bởi người Việt Nam đã gia tăng 10 lần, từ dưới 14 g một người một ngày trong năm 1985 đến gần 140 g một người một ngày trong năm 2020. Thịt heo chiếm trên 70% thịt tiêu thụ mỗi năm với 3,8 triệu tấn.
Một nghiên cứu của Tiến sĩ Arve Hansen ở Trung Tâm Phát triển và Môi trường của Đại học Oslo (Norway) cho thấy rằng cả phát triển kinh tế và những thay đổi trong lề lối lương thực là những chất xúc tác thúc đẩy người Việt Nam ưa thích thịt.
Quan trọng đặc biệt là sự biến chuyển từ mô hình canh tác thâm canh truyền thống sang sản xuất gia súc tập trung sau khi chánh sách Đổi Mới được thi hành. Chánh sách đổi mới gia súc gia tăng con số trại nuôi heo lớn lao.
Kết quả là, nguồn cung cấp ở trong nước trở nên phong phú, góp phần vào việc bình thường hóa thịt trong đời sống hàng ngày.
“Điều nầy có những hệ quả lớn lao cho tất cả gia đình, nay có thể tiếp xúc với thịt dễ dàng hơn các thế hệ trước đây,” Hansen nói trong một cuộc phỏng vấn trên mạng.
Tổng cục Thống kê của Việt Nam cho thấy đàn heo sau 20 năm đã gấp đôi từ khoảng 16 triệu trong năm 1995 đến trên 30 triệu trong năm 2016. Do bệnh cúm heo Phi Châu và đại dịch Covid-19, con số hiện nay khoảng 28 triệu.
Theo Sở Nghiên cứu Kinh tế của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (US Department of Agriculture (USDA)), Việt Nam là quốc gia sản xuất thịt heo lớn thứ nhì ở Á Châu sau Trung Hoa và là quốc gia sản xuất thịt heo lớn thứ 6th trên thế giới. Phần lớn sản phẩm được cung cấp cho nhu cầu ở trong nước, nhưng một số ít được xuất cảng sang các thị trường chẳng hạn như Trung Hoa lục địa và Hong Kong.
“Nhưng theo sau việc đi lên của kỹ nghệ thịt, có những vấn đề khá rõ ràng ở dạng, đất, nước và ô nhiễm không khí, nhất là trong trường hợp chất thải không kiểm soát từ các trại lớn,” Hansen nói thêm.
Số lượng chất thải khổng lồ
Đánh giá của Hansen phù hợp với thực tế hiện nay. Nhiều thịt heo trên bàn ăn có nghĩa là nhiều chất thải gia súc trong môi trường chung quanh. Trong nhiều năm nay, chánh quyền đã cấm một loạt trại nuôi heo vì vi phạm việc đổ bỏ chất thải.
Báo chí ở trong nước đã tường trình liên tục rằng các trại nuôi heo đã làm nghẹt sông, suối, ngay cả đe dọa các sông lớn đang cung cấp nước cho hàng triệu người, kể cả thành phố Hồ Chí Minh, khu đô thị lớn nhất của Việt Nam.
Nghiên cứu được công bố trong năm 2017 bởi Ngân hàng Thế giới cho thấy rằng nuôi heo sản xuất tỉ lệ chất thải cao nhất, khiến cho mức ô nhiễm trong việc sản xuất gia súc cao hơn các loại khác ở Việt Nam. Trong khi đó, các trại nuôi heo vẫn tập trung phần lớn trong các vùng đông dân trên khắp Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam.
Heo góp giá trị cao nhất vào kỹ nghệ gia súc ở Việt Nam, nhưng gần ½ phân của chúng, không được xử lý, được xả trực tiếp vào môi trường, chiếm tỉ lệ cao nhất của chất thải được sản xuất bởi gia súc của quốc gia.
Không như gia súc khác, chất thải của heo không chỉ được xem như phân và nước tiểu. Nó cũng gồm có nước thải từ việc làm mát heo và chùi rửa chuồng. Khí hậu nhiệt đới của Việt Nam thường đổ mồ hôi, vì thế số nước đáng kể được thải ra từ 2 hoạt động nầy.
Theo dự án Hỗ trợ Nông nghiệp Carbon Thấp (Low Carbon Agriculture Support project (LCASP)) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nông dân thường dùng khoảng 30-40 l nước cho mỗi con heo một ngày để làm mát và tắm. Mỗi năm, kỹ nghệ heo sản xuất khoảng 300 triệu m3 nước dơ.
Con số nầy, theo một phúc trình năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chiếm khoảng 66% tổng số khối lượng nước thải được sản xuất bởi kỹ nghệ gia súc.
LCASP cứu xét việc sử dụng thái quá nước ngọt là lý do chánh của ô nhiễm trong thành phần nầy. Các trại không thể đương đầu với khối lượng nước thải khổng lồ bằng cách tưới hoa màu. Họ cũng không thể vận chuyển nó đến các vùng nông nghiệp khác để canh tác hay nuôi thủy sản vì mùi hôi của nó.
XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP
Monday, October 17, 2022
Sunday, October 16, 2022
THIẾT KẾ THỦY ĐIỆN MỚI ĐỂ NÂNG CAO HỆ SINH THÁI SÔNG MEKONG
(New hydropower design to boost Mekong River ecosystem)
Xinhua – Bình Yên Đông lược dịch
The Star – 6 October 2022
Sông Mekong ở Vientiane, Lào.
Ban quản trị của Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) đã chấp thuận một tài liệu mốc làm rõ các hướng dẫn cho các thiết kế dự án thủy điện để làm giảm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và cộng đồng dọc theo thủy lộ lớn nhất ở Đông Nam Á (ĐNA),
Noài Hướng dẫn Thiết kế Sơ khởi (Preliminary Design Guidance (PDG)) được xét lại, ủy ban hỗn hợp cũng đồng ý Hướng dẫn về Đánh giá Ảnh hưởng Môi trường Xuyên biên giới (Guideline on Transboundary Environmental Impact Assessment (TbEIA)).
Với bản chất xuyên biên giới của sông chảy qua 4 quốc gia thành viên của MRC, gồm có Cambodia, Lào, Thài Lan và Việt Nam, một TbEIA phải đo đạc làm thế nào một dự án ảnh hưởng một láng giềng, một tuyên bố của MRC được công bố ngày hôm qua nói.
Thỏa thuận cho phép TbEIA được thử nghiệm và áp dụng bởi các quốc gia và nhà phát triển với sự hỗ trợ kỹ thuật của MRC.
Nó đo đạc làm thế nào một đập thủy điện hay bất cứ dư án hạ tầng cơ sở lớn, chẳng hạn như chuyển nước thủy nông hay công trình thủy vận, ảnh hưởng các vấn đề như dòng chảy, vận chuyển phù sa, phẩm chất nước và thủy sản, có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái sông và các cộng đồng dễ bị tổn thương ở cấp xuyên quốc gia hay khu vực.
“Đây là một xuyên phá lịch sử cho sự hợp tác MRC sau nhiều năm thảo luận. Hai hướng dẫn cho thấy một cách chính xác cái phải làm trong việc tối thiểu hóa ảnh hưởng môi trường xuyên biên giới,” bản tuyên bố trích lời CEO của Văn phòng MRC Anoulak Kittihoun.
“Các thành viên sẽ thấy những hướng dẫn cò ích như thế nào, không chỉ cho chính quốc gia của họ và các cộng đồng địa phương, nhưng trong việc cộng tác với các láng giềng.”
Đối với kế hoạch thiết kế cho các dự án thủy điện, nó trải qua một tiến trình lâu dài của thảo luận và làm rõ, bao gồm 6 lãnh vực: vận chuyển phù sa và hình thái học, phẩm chất nước, đời sống ở dưới nước, cá và thủy sản, an toàn đập và thủy vận.
“PDG nầy hướng dẫn chúng ta tới các dự án có thể đứng vững về mặt kinh tế và thân thiện môi trường, bảo vệ hơn các tài nguyên của sông trong khi bảo vệ sinh kế của người dân,” Kittihoun nói.
Saturday, October 15, 2022
LO SỢ TUYỆT CHỦNG, CÁ ‘MA MEKONG’ TÁI XUẤT HIỆN
(Feared extinct, the ‘Mekong Ghost’ fish resurfaces)
Ed Browne – Bình Yên Đông lược dịch
Newsweek – September 27, 2022
Một con cá chép salmon trưởng thành khổng lồ được ghi nhận trong sông Mekong
lần đầu tiên trong 18 năm
Một loại cá chép salmon trưởng thành khổng lồ nặng 13 lbs [6 kg], một trong những chủng loại bị đe dọa nhất trên thế giới chưa thấy trong nhiều thập niên, hồi đầu năm nay được báo cáo từ một chợ cá địa phương dọc theo sông Mekong, hệ thống sông duy nhất trên Trái đất nơi chủng loại nầy sinh sống.
Là một trong những chủng loại bị đe dọa nhất trên thế giới mà các nhà khoa học đã tìm kiếm trong nhiều thập niên, đã được tái khám phá bất ngờ ở miền bắc Cambodia. Không có cá chép salmon trưởng thành khổng lồ nào được chánh thức ghi nhận kể từ năm 2004, nhưng hồi đầu năm nay một con cá nặng 13 lbs được báo cào từ một chợ cá địa phương dọc theo sông Mekong, hệ thống sông duy nhất trên Trái đất là nơi chúng sinh sống.
“Việc khám phá là một diều ngạc nhiên khác, nhưng là một con thú có nguy cơ tuyệ chủng cao, trong một vùng hỗ trợ sinh kế và an ninh lương thực cho hàng triệu người, cho thấy rõ ràng như ban ngày sự cần thiết cấp bách của các chương trình bảo tồn và lợi ích tiềm tàng của chánh phủ, các nhà khoa học và các cộng đồng địa phương cùng nhau để bảo vệ những kỳ quan của Mekong,” Zeb Hogan, một nhà sinh học cá và giảng sư nghiên cứu của Đại học Nevada, Reno, người nghiên cứu chủng loại cá Mekong trong nhiều thập niên và cầm đầu dự án nghiên cứu Wonders of the Mekong (Những Kỳ quan của Mekong), nói.
Cá chép salmon khổng lồ (Aaptosyax grypus) rất hiếm, nó không có tên Khmer, và nó được gọi là “Ma Mekong”. Được cho là lớn đến 66 lbs [30 kg], nó được liệt kê là có nguy cơ tuyệt chủng rất cao trên Danh sách Đỏ các Chủng loại bị Đe dọa của IUCN. Mặc dù con cá được tìm thấy đã chết – nguyên nhân của cái chết không được biết – việc khám phá đã nâng cao hy vọng rằng chủng loại vẫn còn sống trong Mekong.
“Sau trên 2 thập niên làm việc với chủ đề nầy, tôi rất vui sướng để xác nhận sự hiện diện của loài thú đặc thù nầy,” Chan Sokheng, một nhà sinh học của Cơ quan Quản trị Thủy sản Cambodia nói. “Nó có nghĩa vẫn còn hy vọng, ngược với may mắn, để bảo tồn con cá đáng kể toàn cầu và khác biệt một cách tiến hóa nầy cho các thế hệ tương lai.”
Việc tài trợ mới nhất là một trong một loạt khám phá sửng sốt ở dưới nước trong vùng Mekong ở Cambodia. Đầu năm nay, nhiều đàn cá trích Mekong lớn được báo cáo trong vùng, và trong tháng 6 các khoa học gia và thành viên của cộng đồng địa phương đã gắn thẻ và thả một con cá đuối nước ngọt khổng lồ nặng 661 lbs (300 kg), được công nhận là cá nước ngọt lớn nhất trên thế giới bởi Guinness World Records (Kỷ lục Thế giới Guinness).
“Năm nay là năm vô dịch của những ngạc nhiên động vật hoang dã trên Mekong, nhưng trận đấu chưa kết thúc và chiến thắng cho đa dạng sinh học vẫn rất khó đến,” Hogan nói.
Sông Mekong, chảy qua 6 quốc gia Á Châu, nó là một điểm nóng đa dạng sinh học toàn cầu và là nơi cư trú của gần 1.000 chủng loại cá khác nhau, gồm có một số cá nước ngọt lớn nhất trên thế giới. Nhưng sông và các phụ lưu của nó, đã duy trì sinh kế của hàng chục triệu người, đã bị áp lực ngày càng tăng trong những năm gần đây vì việc xây đập, đánh bắt thái quá, và thay đổi khí hậu, khiến cho các loại cá lớn hơn chịu rủi ro đặc biệt.
Siêu động vật nước ngọt (được định nghĩa là thú vật có thể lớn hơn 200 lbs [91 kg] và thuộc vào hàng bị đe dọa nhiều nhất trên thế giới, với các chủng loại ở Á Châu giảm 97% kể từ năm 1970. Một trong những chủng loại Mekong lớn nhất, cá tra dầu Mekong, ít khi thấy trong tự nhiên nữa, mặc dù sự biến mất thường trực của cá chép salmon khổng lồ là sự tuyệt chủng được xác nhận lần đầu tiên của loại cá khổng lồ trong Mekong.
Trên toàn cầu, sự tuyệt chủng của các loại cá nước ngọt đã trở nên thường xuyên hơn, một dấu hiệu các nhà khoa học nói, suy thoái tăng tốc của môi trường ở dưới nước. Trong khi đó, một số chủng loại thú vật ở trên bờ từng bị lo sợ bị mất trong những năm gần đây đã tái xuất hiện, chằng hạn như ong khổng lồ Wallace, dơi cổ trọc ăn trái Phiippines và thằn lằn khổng lồ La Palma. Những sự sống lại ngạc nhiên như thế thường là kết quả của sự hợp tác giữa cư dân địa phương và các nhà khoa học, là cái đã xảy ra trong trường hợp của cá chép salmon khổng lồ.
“Những tái khám phá gần đây dọc theo Mekong là kết quả của tầm vói đến người dân địa phương, nhiều người có kiến thức sâu rộng và dựa vào sông và những sinh vật hoang dã của nó.” Chea Seila, quản đốc dự án Wonders of the Mekong, chuyên viên sinh kế, và người ủng hộ lâu đời cho việc nghiên cứu do cộng đồng cầm đầu, nói.
Sự sống lại của cá chép salmon được xác nhận sau khi chủng loại dài 3 feet (1 m) xuất hiện ở chợ, nơi nó được công nhận như cái gì đó không bình thường bởi một người bán cá địa phương, người đã chụp ảnh con cá. Người lái buôn đoạn liên lạc với Sokheng về cái ông gọi là “trey chamlek,” một câu trong ngôn ngữ Khmer có nghĩa là “cá lạ.” Từ hình ảnh, Sokheng có thể xác định nó là cá chép salmon khổng lồ dựa trên cái miệng rất tròn, sọc màu vàng trên đầu, và dạng hình thoi của cá salmon, một dạng được cho là để thích ứng với các thác nước sâu của Mekong và thực phẩm chánh của cá.
Các nhà khoa học sẽ dùng DNA của con cá chết để phát triển những công cụ khác nhau để nghiên cứu sự phân phối của chủng loại. Họ cũng hy vọng tìm được thêm chủng loại còn sống để có thể gắn thẻ và thả trở lại sông để nghiên cứu thêm.
“Chúng tôi cần tìm và học hỏi thêm về chủng loại nầy, để biết sự phân phối của nó, lề lối di chuyển, sinh học sinh sản, nơi nó sinh đẻ, và cái có thể làm đực để cứu nó,” Sokheng nói.
Việc khám phá xảy ra trước một hội thảo công tác do Cơ quan Quản trị Thủy sản Cambodia và dự án Wonders of the Mekong tổ chức, và được tham dự bởi đại diện cộng đồng địa phương và các đối tác khác, để vẽ ra nghiên cứu và hành động bảo tồn trong tương lai cho nhiều loại cá có nguy cơ tuyệt chủng của Mekong. Những hoạt động nầy sẽ gồm có nới rộng sự tham gia của cộng đồng trong việc thu thập dữ kiện thủy sản, nghiên cứu từ xa để biết sinh thái của cá, và lấy mẫu eDNA trong nỗ lực để ghi nhận các chủng loại hiếm.
Ở VIỆT NAM, NÔNG DÂN SẴN LÒNG ĐƯƠNG ĐẦU VỚI VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT NHƯNG BỊ BỎ QUÊN
(In Vietnam, farmers show a willingness to work with the elephant in the room)
Sean Mowbray – Bình Yên Đông lược dịch
Mongabay – 30 September 2022
· Xung đột con người-đời sống hoang dã là một đe dọa đối với các chủng loại chẳng hạn như voi Á Châu và đối với sinh kế và phúc lợi của người dân sống gần với những thú vật nầy
· Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam thấy rằng người dân sống chung quanh Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai của quốc gia dược hỗ trợ rộng rãi của các biện pháp đồng hiện hữu với voi
· Một số thành viên của cộng đồng – những người có lợi tức thấp, nông dân, và những người có kinh nghiệm xung đật – cho thấy sẵn lòng nhiều hơn để hỗ trợ các biện pháp đồng hiện hữu
· Nghiên cứu phác họa các con đường có thể để nâng cao đồng hiện hữu dựa trên du lịch sinh thái dựa trên cộng đồng, ngăn ngừa và giảm nhẹ
Giải quyết xung đột con người-đời sông hoang dã là một vấn đề phức tạp và là một lo ngại nổi bật cho nhiều chủng loại khác nhau, không có loại nào nhiều hơn voi Á Châu (Elephas maximux). Người dân sống chung quanh Khu Dự trữ Sinh quyễn Đồng Nai, tuy nhiên, muốn nâng cao sự đồng hiện hữu với voi, không phải xung đột. Điều đó theo một nghên cứu mới được đăng trên tạp chí Global Ecology and Conservation (Sinh thái và Bảo tồn Toàn cầu) nhìn vào khái niệm hiểu biết của cộng đồng về cách để giải quyết xung đột con người-voi.
Các nhà nghiên cứu thực hiện các câu hỏi dựa trên sự chọn lựa với cư dân của 4 làng – Phủ Lý, Mã Đà, Thành Sơn và Tà Lài – nơi xung đột con người-voi được biết đã xảy ra. Trong tổng số, 440 gia đình được khảo sát và cung cấp các đường lối khác nhau để giải quyết vấn đề.
Ước tính số voi thiên nhiên của Việt Nam khác nhau, nhưng nó được nghĩ vào khoảng 100, phần lớn dược phân phối dọc theo biên giới với Cambodia và Lào. Việc hủy hoại nơi cư trú và xung đột con người-voi là những đe dọa chánh hiện nay đối mặt với chủng loại. Khu Dự trữ Sinh quyễn Đồng Nai rộng 969.993 hectares (2,4 triệu acres) và là nơi cư trú của khoảng 15 con voi, cũng như các chủng loại có nguy cơ tuyệt chủng khác chẳng hạn như hổ Đông Dương (Pathera tigris corbetti).
“Nói chung, người dân địa phương ưa thích chiến lược tìm cách để nuôi dưỡng sự đồng hiện hữu với voi,” các tác giả của nghiên cứu viết. Quan trọng hơn, các thành viên của cộng đồng cũng thích các giải pháp thay thế cho hệ thống quản lý hiện nay, dựa trên viêc tuàn tra và các phương pháp truyền thống để giữ cho voi tránh xa các nông trại. Voi có thể nhanh chóng trở nên quen thuộc với những can thiệp như thế, nghiên cứu ghi nhận, là giảm hiệu quả của chúng.
Ước tính chỉ có khoảng 100 voi Á Châu còn lại ở Việt Nam. Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai là 1 trong 4 vị tri` được xác định như then chốt cho sự sống còn của chúng ở quốc gia.
[Ảnh: Bernard Dupont]
Người địa phương cho thấy mức độ ủng hộ cao cho hầu hết cá giải pháp thay thế được trình bày với họ, có nghĩa là họ sẵn lòng hổ trợ các chiến lược ngăn ngừa và giảm nhẹ [xung đột con người-voi] trong [Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai] và muốn thấy sự thay đổi tình trạng hiện nay,” các tác giả viết.
Rộng lớn hơn, các thành viên của cộng đồng thích các giải pháp thay thế chẳng hạn như thiết kế một chương trình dựa trên cộng đồng – du lịch sinh thái dựa trên việc xem voi, thí dụ - để nâng cao tính đồng hiện hữu và cũng để hỗ trợ sinh kế địa phương.
Những người khác thích giải pháp chung quanh khuôn khổ ngăn ngừa và giảm nhẹ: sử dụng hàng rào điện hay “sinh học”, chẳng hạn như tổ ong; một kế hoạch bảo hiểm dựa trên cộng đồng để nông dân chống lại thiệt hại mùa màng; và quy hoạch sử dụng đất để “giảm tiếp xúc con người-voi.”
Đối với Jen Schaffer, một phụ giảng sư ở Đại học Maryland, nghiên cứu nhấn mạnh vì sao việc tham gia của những người trên tuyến đầu của xung đột voi là then chốt để thiết kế các giải pháp thích hợp và khả chấp đối với xung đột con người-đời sống hoang dã.
“Cái tôi hy vọng người khác sẽ hoàn tất nghiên cứu như thế nầy là các cộng đồng địa phương muốn được tham gia,” Schaffer, một nhà nhân loại học sinh thái không có tham gia trong nghiên cứu, nới với Mongabay trong một cuộc phỏng vấn. “Nhưng anh cũng cung cấp các chọn lựa sẽ không chỉ có lợi cho một bên của vấn đề, nó phải có lọi cho cả hai bên, con người và đời sống hoang dã.
“Nó tích cực trong cái nó cho thấy người dân thật sự ủng hộ sự đồng hiện hửu với đời sống hoang dã nầy,” Schaffer nói. “Họ quan tâm trong việc làm tiến đến một tình trạng trong đó họ có lợi từ việc có mặt của voi.”
Công viên Quốc gia Cát Tiên nằm trong Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai.
Mười lăm con voi cư trú trong khu dự trữ. [Ảnh: Alan Gill]
Các cộng đồng sống lân cận với công viên phần lớn tùy thuộc vào nông nghiệp để sinh sống. Không chỉ hầu hết thành viên của cộng đồng muốn đồng hiện hữu hơn các biện pháp khác, nhưng nhiều người cũng sẵn lòng đề dành thời gian để hỗ trợ cho các biện pháp như thế.
Đặc biệt, các nhà nghiên cứu thấy rằng các thành viên cộng đồng với giáo dục và lợi tức thấp hơn thì sẵn lòng nhất để tình nguyên thời gian của họ. Nông dân, những người quan tâm đến việc bảo tồn, và những người địa phương với kinh nghiệm xung đột con người-đời sống hoang dã cũng rất sẵn lòng để hỗ trợ và dành từ 1 đến 4 ngày mỗi tháng cho các biện pháp liên quan đến bảo tôn.
“Điều nầy ám chỉ rằng các chương trình quản lý bảo tồn hay [xung đột con người-voi] có thể thành công hơn nếu được hướng đến người dân với những đặc tính nầy,” các tác giả nghiên cứu viết.
Tarsh Thekaekara, thành viên của Liên hiệp Đồng Hiện hữu, nói sự mong muốn để hỗ trợ đồng hiện hữu nầy là một kết quả thú vị của nghiên cứu, “Vì nó không phải là cái nhìn của đa số, Hầu hết việc giảm nhẹ đe dọa con người-đời sống hoang dã là về việc tách rời không gian có hiệu quả hơn.”
Mặc dù sự sẵn lóng nầy tích cực, Thekaekara nói, không có tham gia vào việc nghiên cứu, có lo ngại rằng nó có thể không kéo dài nếu các nỗ lực thành công. Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2021, voi hoang từ Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai được thấy 90 lần và gây thiệt hại cho tài sản của 122 gia đình, theo nghiên cứu. “Mọi thử sẽ thay đổi lớn lao khi số voi gia tăng khi con số người gia tăng,” ông nói. Vì thế rất quan trọng để tái đánh giá khái niệm của các thành viên cộng đồng nếu và khi dân số của voi gia tăng, ông nói, vì cường độ của tác động qua lại có thể gia tăng.
Nghiên cứu đề nghị rằng chánh quyền địa phương nên tổ chức các sáng kiến tự nguyện dựa trên du lịch sinh thái dựa trên cộng đồng, xung đột có thể ngăn ngừa, giảm nhẹ, và quy hoạch sử dụng đất. Thử nghiệm các giải pháp nầy cũng sẽ được đòi hỏi để bảo đảm chúng có hiệu quả cho người dân và voi trên cả 2 phía của phương trình xung đột.
“Những chiến lược nầy là then chốt để con người-voi dồng hiện hữu,” các tác giả kết luận.









