Sunday, May 22, 2022

CÁ ĐUỐI KHỔNG LỒ CÓ THỂ SỐNG TRONG CÁC HỐ SÂU CỦA MEKONG

(Massive stingrays may live in Mekong’s deep pools)

Ry Sochan – Bình Yên Đông lược dịch

The Phnom Penh Post – 11 May 2022

 

Một con cá đuối mái khổng lồ nặng 180 kg bắt được ở Stung Treng hôm 4 tháng 5.

[Ảnh: Wonders of the Mekong]

 

Các nhà khoa học Hoa Kỳ cho rằng những hố sâu chưa được thăm dò trong sông Mekong ở vùng Stung Treng có thể là nơi cư trú của cá đuối nước ngọt khổng lồ, một trong những loai cá nước ngọt lớn nhất trên thế giới.

Điều nầy đến khi ngư dân câu được một con cá đuối nặng 180 kg trong Mekong hồi tuần qua, và một toán cấp cứu đã ghi nhận và thả nó trở lại sông bình an, một sự kiện tình cờ mà các nhà khoa học nói làm nổi bật tầm quan trọng toàn cầu của vùng.

Cá đuối nước ngọt có nguy cơ tuyệt chủng, dài gần 4 m, được câu bởi một ngư dân ở cộng đồng trên một đảo nhỏ ở giữa sông Mekong hôm 5 tháng 5 trong làng Koh Preah, huyện Siem Bok.

“Việc bắt cá, cùng với dữ kiên khác được thu thập bởi thám hiểm khoa học gần đây trong vùng, cho thấy rằng vùng xa xôi – có những hố sâu đến 79 m (260 feet) và là nơi cư trú chánh yếu của những thú vât biểu tượng chẳng hạn như cá heo Irrawaddy và rùa mai mềm khổng lồ - cũng có thể là nơi cư trú của cá nước ngọt lớn nhất trên thế giới,”  một thông báo báo chí của Đại học Nevada, Reno cho biết hôm 10 tháng 5.

Theo thông báo báo chí, các cuộc phỏng vấn với ngư dân làm việc trong vùng cho biết con cá đuối nặng 180 kg được bắt gần đây bị lu mờ bởi các vụ bắt khác có kích thước gấp đôi trong vùng tương tự trong 20 năm qua.

Cá đuối nước ngọt khổng lồ ở Đông Nam Á là cá lớn nhất và hiếm nhất.  Nó là trong tâm của một cuộc thám hiểm gần đây bởi những nhà thám hiểm dưới nước nổi tiếng là một phần của dự án Wonders of the Mekong (Những Kỳ quan của Mekong) được tài trợ bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID).

Trại của đoàn thám hiểm ở gần một trong những hố sâu của Mekong và khu bảo tồn thiên nhiên được thiết kế để bảo vệ nơi sinh sản của cá.  Vùng được chấm phá bởi những đảo được bao phủ trong rừng ngập nước theo mùa và những trại đánh cá nhỏ.

“Ngư dân ở đây kể nhiều câu chuyện bắt cá đuối kỷ lục và cá khổng lồ khác,” Zeb Hogan, nhà sinh học cá của Đại học Nevada và người cầm đầu dự án của Wonders of the Mekong, nói.  “Đó thật sự là kỳ quan mà một nơi như thề nầy vẫn còn hiện hữu.”

Thành viên của nhóm Wonders of the Mekong làm việc với ngư dân địa phương để cứu con cá đuối khổng lồ, được bắt một cách tình cờ sau khi nó nuốt một con cá nhỏ đã cắn câu.

Nhóm cứu cấp có thể gỡ lưỡi câu, cân và đo nó.  Đoạn nó được thả trở lại sông bình an.  Việc thả cá thành công làm nổi bật ích lợi của hệ thống ngư dân của dự án trong việc nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học quý hiếm và bất thường của sông Mekong, thông báo báo chí nói.

Vùng nghiên cứu của Wonders of the Mekong nằm ngay hạ lưu của khu đất ngập nước Ramsar có tầm quan trọng quốc tế và nơi cư trú của hầu hết 1.000 loại cá của Mekong, gồm hầu hết các khổng lồ đang lâm nguy của Mekong – cá đuối khổng lồ, cá tra dầu và cá hô.

Cá đuối nước ngọt khổng lồ có thể dài đến 5 m để cả đuôi, rộng 2 m hay rộng hơn và nặng đến 600 kg.  Cá tra dầu Mekong và cá hố có thể dài đến 3 m và nặng 300-400 kg.

Các nhà nghiên cứu tin rằng vùng nầy vô cùng quan trọng vì là nơi cư trú của cá trong mùa khô và nơi sinh sản và nơi cư trú của nhiều loại cá khổng lồ có nguy cơ tuyệt chủng.  Nó là một vùng được công nhận là đặc biệt và được bảo vệ bởi các cộng đồng địa phương.

Hogan nói con cá đuối được cứu và nơi cư trú của nó làm nổi bật các đặc tính của hệ sinh thái ở dưới nước của Mekong: đa dạng, quan trọng toàn cầu, không được biết rõ – và đang bị đe dọa.

“Đây là những thế giới không thấy, không được đánh giá đúng và ngoài tầm mắt,” ông nói.

Đi đến thám hiểm tại chỗ, các nhà khoa học của Wonders of the Mekong thực hiện các khảo sát cộng đồng và thị trường để thu thập tin tức về đa dạng sinh học ở dưới nước và rồi hợp tác với Cơ quan Thủy sản của Cambodia, họ cũng thiết lập một hệ thống ngư dân đồng ý báo cáo bất cứ viêc đánh bắt cá khổng lồ hay có nguy cơ tuyêt chủng.

Sin Piseth, một bảo vệ sông ở làng Koh Preah, nói cá đuối được bắt sau khi nó nuốt một con cá đã cắn câu ở đầu dây được ngư dân quăng xuống nước bằng cách dùng cần câu máy thông thường.

Pheng Boeun, trưởng cộng đồng đánh cá Koh Preah, nói đây không phải là lần đầu tiên mà ngư dân câu được cá đuối khổng lồ.

Boeun nói rằng sông Mekong ở huyện Siem Bok có nhiều cá đuối như thế, nhưng hầu hết nặng 30-40 kg.  Tất cả các đuối được bắt thường được thả vì không có người mua vì người Cambodia không ăn cá đuối.

Sunday, May 15, 2022

NGÂN SÁCH KHAI THÁC CÁT ĐƯỢC ĐO ĐẠC CÓ HỆ THỐNG MỚI CHO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG CHO THẤY CHIỀU HƯỚNG GIA TĂNG VÀ KHỐI LƯỢNG ĐƯỢC ƯỚC TÍNH THẤP ĐÁNG KỂ

(New systematically measured sand mining budget for the Mekong Delta reveals rising trends and significant volume underestimations)

Charles-Robin Gruel, Edward Park, Adam D. Switzer, Sonu Kumar, Huu Loc Ho, Sameh Kantoush, Doan Van Binh and Lian Feng – Bình Yên Đông lược dịch

International Journal of Applied Earth Observationbs and Geoinformation – 21 March 2022

 

Khai thác cát sông Mekong ở Việt Nam. [Ảnh: Tuổi Trẻ]

 

1. Phần giới thiệu

Nhu cầu cát gia tăng để xây cất và cải tạo đất, châm ngòi bởi dân số gia tăng nhanh chóng và tăng trưởng kinh tế ở Á Châu, đã gây ra mức độ khai thác cát ở đáy sông chưa từng thấy (de Leeuw et al., 2010; Dan Grariletea, 2017; Torres et al., 2017; UNEP, 2019; Best, 2019) trong những thập niên gần đây.  Việc lấy cát từ đáy sông thường không được kiểm soát trong hầu hết nam và đông nam Á Châu và số lượng và ảnh hưởng phần lớn vẫn được che giấu vì hoạt động ở dưới nước.  Tuy nhiên, cát sông là một tài nguyên có giới hạn và nó phải được quản lý thích hợp để tránh những thay đổi tai hại cho thủy học của sông có thể châm ngòi cho những biến đổi không thể đảo ngược của các hệ thống sinh thái tự nhiên.  Những biến đổi nầy có thể bao gồm sinh kế và gây ra suy thoái đáng kể cho các dịch vụ hệ sinh thái địa phương (Kondolf, 1997; Kondolf et al., 2014; Loc et al., 2017; Lamb et al., 2019).

Khai thác cát có những hậu quả ngắn và dài hạn.  Ảnh hưởng ngắn hạn của việc khai thác cát gồm có sạt lở bờ sông, đục khoét đáy sông, và điều chỉnh mực nước ngầm; trong khi trong dài hạn, khai thác cát có thể làm tổn thương nguồn cung cấp nước, tăng cường xâm nhập của nước mặn, và giảm sự nối kết của đồng lụt (Kondolf, 1997; Torres et al., 2017; Beiser, 2018; Park et al., 2020; Park et al., 2021; Loc et al., 2021).  Mặc dù có những hậu quả được biết nầy, nghiên cứu khai thác cát bị giới hạn vì thiếu dữ kiện khu vực đối với ngân sách khai thác phần lớn được thúc đẩy bởi sự vắng mặt tuyệt vọng của những hệ thống theo dõi hữu hiệu (Peduzzi, 2014).

Khai thác cát trái phép hay không có kiểm soát là một vấn đề toàn cầu (Koehnken and Rintoul, 2018).  Điều nầy đặc biệt lo ngại ở Á Châu trong các quốc gia như Việt Nam, Cambodia, và Lào nơi thiếu các khuôn khổ kiểm soát và giấy phép, cùng với việc theo dõi kém hiệu quả (Nguyen, 2011; Bravard et al., 2013; Koehnken and Rintoul, 2018; Koehnken et al., 2020).  Vì các hoạt động đại qui mô bắt đầu trong thập niên 1990s, sông Mekong ở Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi việc nạo vét đáy sông đáng kể (Bravard et al., 2013).  Khai thác cát trong Mekong phần lớn được thực hiện bằng máy xúc trên xà lan đổ lên một đoàn tàu hay xà lan.  Hoạt động nạo vét có khuynh hướng nằm bên trong vùng chuyển nhượng tương tự cho đến khi hết cát hay giấy phép khai thác hết hạn (Ng and Park, 2021).

Ở Việt Nam, giấy phép được phân quyền trong năm 2005, thay đổi từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh, gây nên một sự gia tăng lũy tiến trong số giấy phép khai thác cát được cấp (Schiappacasse et al., 2019).  Việc phân quyền cũng hạn chế nghiêm trọng khả năng để xác định chính xác con số và khả năng hoạt động của doanh nghiệp đang hoạt động.  Điều nầy có lẽ do những hạn chế của nhân sự và khả năng kỹ thuật trong chánh quyền tỉnh, cũng như phối hợp hạn chế giữa các cơ quan liên hệ (Schiappacasse et al., 2019).  Chánh phủ Việt Nam tiên đoán nhu cầu cát từ đáy sông vào khoảng 2,1 đến 2,3 triệu m3 từ 2016 đến 2020 và các tiên đoán hiện nay nằm ở 1,5 triệu m3 vào năm 2040 ở ĐBSCL (SIWRP, 2015; Koehken and Rintoul, 2018; Eslami et al., 2019).  Tuy nhiên, các ước tính chính xác của việc lấy cát ở ĐBSCL vẫn không biết, và các tài liệu khoa học đề nghị rằng khối lượng cát được khai thác có lẽ khác biệt đáng kể với thống kê chánh thức (Jordan et al., 2019).  Kết quả là, không những việc đánh giá ảnh hưởng môi trường do các hoạt động khai thác cát sông phức tạp bởi môi trường năng động và bao la, nó cũng làm cho phức tạp thêm bởi quyền kiểm soát giới hạn trong các quốc gia bị ảnh hưởng.  Vì thế, có sự cần thiết cấp bách để cứu xét các đường lối mới để đánh giá dựa trên khu vực việc khai thác cát ở đáy sông.

Hậu quả tiêu cực của các hoạt động khai thác cát trái phép hay thiếu kiểm soát ở Đông Nam Á đã bắt đầu đi vào môi trường.  Ở ĐBSCL, có nhiều cố gắng đáng chú ý trong việc định lượng ngân sách khai thác gồm có Bravard et al. (2013) đã khảo sát các người khai thác và cung cấp một cái nhìn về cường độ khai thác cát sông dọc theo sông Mekong.  Brunier et al. (2014) phân tích một bộ dữ kiện chiều sâu của ĐBSCL từ năm 1998 đến 2008 và làm nổi bật thêm ảnh hưởng của việc lấy cát quá mức; Anthony et al. (2015) đi xa hơn các khảo sát để nối kết sạt lở bờ biển ở đồng bằng với việc lấy cát trong sông; và Eslami et al. (2019), phân tích sự gia tăng của xâm nhập nước mặn một phần được thúc đẩy bởi gia tăng khai thác cát sông.

Để làm ngân sách, Jordan et al. (2019) đo đạc khối lượng cát được lấy dọc theo một đoạn ngắn (20 km) của sông Tiền và cung cấp những ngân sách lấy cát chi tiết trong các tỉnh khác nhau của ĐBSCL, mặc dù ngân sách hầu hết được dựa trên các báo cáo chánh thức.  Ở Cambodia, Hackney et al. (2020, 2021) chú trọng đến sự mất ổn định bờ liên quan đến khai thác cát và đo đạc một ngân sách cát phỏng đoán bằng cách dùng hình ảnh PlanetScope.  Tuy nhiên, những cố gắng để ước tính các con số cát được lấy là ước tính ở địa phương (Jordan et al., 2019) chỉ phản ánh những thời kỳ riêng biệt (Brunier et al., 2014), hay dựa trên báo cáo chánh thức không đầy đủ hoặc không chính xác (Bravard et al., 2013; Eslami et al., 2019).  Thay vào đó, các ước tính rất phức tạp vì bản chất năng động cao của thành phần vì xà lan có thể di chuyển hàng ngày, và các tiến trình sông tự nhiên có thể xóa dần bất cứ dấu vết của khai thác cát qua bồi lắng hay thay đổi.

Ở đây, chúng tôi cung cấp ước tính đầu tiên của ngân sách khai thác cát trên toàn ĐBSCL (~700 km2 của hệ thống lòng lạch) bằng cách dùng đo đạc tại chỗ mới lạ vượt qua những bất định và thiên vị của các phương pháp hiện hữu và các trị số được công bố.  Trước hết chúng tôi đếm con số xà lan khai thác cát bằng cách dùng hình ảnh có độ phân giải cao (Googla Earth và Planet Scope), nơi chúng tôi xác định loại tàu để phân loại.  Con số được kiểm chứng tại chỗ trong năm 2020-2021.  Bước thứ hai liên quan đến việc phát triển một sự liên hệ định lượng giữa bản đồ cường độ tàu của hình ảnh radar theo thời gian của Sentinel-1 và bản đồ khác biệt chiều sâu (từ 2014 đến 2017) dọc theo một đoạn dài 100 km được khai thác mạnh mẽ trong sông Tiền (bao gồm ~15% ĐBSCL).  Trong bước cuối cùng, liên hệ toán được áp dụng cho toàn thề ~700 km2 của ĐBSCL (vùng được chọn trong nghiên cứu nầy) để kiến tạo một ngân sách khai thác cát hàng năm và tính toán mức đục khoét giữa 2015 và 2020.  Ngân sách mới của chúng tôi được so sánh một cách địa lý và lịch sử với những ước tính trước đây từ các ấn bản khác nhau.

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

LÀO TIẾN HÀNH DỰ ÁN ĐẬP SÔNG MEKONG THỨ 7TH

(Laos Pushes Forward With Seventh Mekong River Dam Project)

Sebastian Strangio – Bình Yên Đông lược dịch

The Diplomat – April 29, 2022

 

Một làng ven sông Mekong trong tỉnh Champassak, Lào. [Ảnh: Depositphotos]

Đập Phou Ngoy là một trong 9 dự án thủy điện mà chánh phủ Lào dự trù trên dòng chánh sông Mekong

Đài Á Châu Tự do (Radio Free Asia (RFA)) tường trình trong tuần nầy rằng giới chức ở Lào sắp sửa có một bước quan trọng về dự án thủy điện mới, dự án đập đại qui mô thứ 7th sẽ được xây trên dòng chánh sông Mekong.

Phúc trình trích lời một viên chức chánh phủ ẩn danh nói rằng chánh quyền hiện đang chuẩn bị hồ sơ cho đập Phou Ngoy có công suất 728 MW, và dự định sẽ đệ trình thông báo chánh thức về dự án cho Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) “vào cuối năm nay.”

Dự án trị giá 2,4 tỉ USD được phát triển bởi Charoen Energy and Water Asia (Điện Nước Á Châu Charoen (CEWA)) của Thái Lan và nếu được chấp thuận, sẽ được xây bởi 2 công ty xây cất Nam Triều Tiên: Korea Western Power (KOWEPO) và Doosan Heavy Industries & Construction.  Nếu được chấp thuận, dự án sẽ được hoàn tất trong năm 2029.

Dự án Phou Ngoy, nằm cách Pakse, thủ phủ của tỉnh Champassak, khoảng 18 km ở hạ Lào, là một trong chuỗi dự án đập lớn được dự trù trên dòng chánh Mekong, là trọng tâm của kế hoạch của Vientiane để biến quốc gia không có bờ biển thành “bình điện của Đông Nam Á.”  Theo RFA, nó là dự án thứ 7th trong 9 dự án được dự trù trên dòng chánh Mekong.  Hai đập – Don Sahong và Xayaburi – đã được hoàn tất.

Theo một phúc trình trong tháng 2 năm 2021 trong một ấn bản kỹ nghệ thủy điện, CEWA đã thực hiện một nghiên cứu khả thi sơ khởi và đánh giá ảnh hưởng môi trường cho đập Phou Ngoy, kết quả được đệ trình cho chánh phủ Lào trong tháng 2 năm 2020.  Tuy nhiên, chánh phủ chưa thông báo với MRC về dự án.

Thông báo nầy là một bước bắt buộc cho bất cứ việc phát triển sông Mekong được thực hiện bởi các thành viên của MRC, ngoài Lào còn có Việt Nam, Thái Lan và Cambodia, và sẽ bắt đầu một tiến trình kéo dài 6 tháng để “tham vấn trước” trong đó “lượng định kỹ thuật và tham vấn chánh thức” được thực hiện đối với lợi ích và rủi ro của bất cứ dự án sử dụng nước được đề nghị.

Chánh phủ Lào được nói là sẽ tiến hành với các kế hoạch thủy điện của họ, mặc dù có những lo ngại ngày càng tăng về ảnh hưởng của các siêu đập đối với sinh thái của lưu vực sông Mekong.  Vào tháng 3 năm 2020, Cambodia loan báo tạm ngưng 10 năm việc xây cất các đập mới trên Mekong.

Vào tháng 1 năm 2021, Thái Lan bác bỏ một phúc trình kỹ thuật của dự án thủy điện Sanakham.  Bộ Năng lượng Thái, nhận thấy quốc gia đã có thừa điện, nói họ có thể từ chối mua điện do đập sản xuất.  Với dự án Phou Ngoy cũng sẽ tùy thuộc vào việc mua điện của Thái, điều nầy cũng có thể trở thành một yếu tố trong tiến trình phê chuẩn.

Mặc dù các quốc gia hạ lưu Mekong dần dần trở nên ranh mãnh hơn về các dư án thủy điện tàn phá, MRC không có quyền phủ quyết chúng.  Điều nầy đưa đến chỉ trích nói rằng tiến trình tham vấn kỹ thuật tỉ mỉ của MRC không làm được nhiều để bảo đảm rằng việc phát triển sông, nhất là các đập, phục vụ cho quyền lợi của người dân trong khu vực.  Theo RFA, dự án sẽ ảnh ưởng đến 88 làng ở chung quanh.

Vào đầu năm 2021, tôi viết rằng các kế hoạch thủy điện của Lào có vẻ trở thành “cởi trói từ bất cứ lý lẽ kinh tế vững chắc, hầu như được thúc đẩy bởi quyền lợi ở trong nước bám lấy lợi ích của việc xây đập.”  Sự chấp thuận mới nhất nầy có vẻ xác nhận đánh giá đó.

CÓ THỂ CỨU ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG KHỎI CHẾT ĐUỐI?

(Can the Mekong Delta be saved from drowning?)

G.M. Kondolf, R.J.P. Smith, P.A. Carling, M. Goichot, M. Keskinen, M.E. Arias, S. Bizzi, A. Castelletti, T.A Cochrane, S.E. Darby, M. Kummu, P.S.J. Minderhoud, D. Nguyen, H.T. Nguyen, N.T. Nguyen, C. Oeuring, J. Opperman, Z. Rubin, D.C. San, S. Schmeier and T. Wild – Bình Yên Đông lược dịch

Science – 5 May 2022

 


Đồng bằng sông Cửu Long đang chết đuối.  Sự tiếp tục hiện diện của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bị đe dọa bởi các động cơ do con người gây ra.  Tiếp tục quản lý tài nguyên như thường lệ trong lưu vực sẽ làm cho mặt của đồng bằng hạ thấp 2 m so với mực nước biển, sẽ nhấn chìm hầu hết con người và các giá trị thiên nhiên trong đồng bằng.  Các biện pháp để tránh số phận nầy đã được biết, nhưng cần được thực hiện cấp bách trên khắp qui mô, thành phần và biên giới.

6 tháng 5 năm 2022 – ĐBSCL ở Việt Nam có thể bị ngập vào cuối thế kỷ nếu không thực hiện những hành động cấp bách trên khắp lưu vực sông.  Tiếp tục kinh doanh như thường lệ có thể nhấn chìm 90% một vùng kinh tế nông nghiệp lớn lao, nơi cư trú của gần 20 triệu người – với ảnh hưởng địa phương và toàn cầu to lớn.

Chỉ có hành động hài hòa của 6 quốc gia trong lưu vực Mekong và quản lý nước và phù sa tốt hơn trong ĐBSCL có thể tránh một kết quả tàn khốc như thế, một nhóm nghiên cứu liên ngành lập luận trong phần nhận định được phổ biến ngày hôm nay trong tạp chí Science.

Hầu hết 40.000 km2 của ĐBSCL thấp hơn 2 m trên mặt nước biển và vì thế dễ bị ảnh hưởng của mực nước dâng vì thay đổi khí hậu.  Trên đó, các hoạt động trong ĐBSCL chẳng hạn như bơm nước ngầm thái quá và khai thác cát không khả chấp để xây cất các thành phố nới rộng trên khắp Á Châu cũng như việc phát triển thủy điện nhanh chóng ở thượng lưu đe dọa tương lai của vựa lúa giàu có nhất ở Đông Nam Á.

“Rất khó để dò rằng một vùng đất có kích thước của Netherlands (Hòa Lan) và với 1 dân số tương đương có thể biến mất vào cuối thế kỷ,” tác giả chánh Giảng sư (GS) Matt Kondolf của Đại học California, Berkeley nói.  “Nhưng, như bất cứ đồng bằng sông khác, ĐBSCL chỉ có thể hiện hữu nếu nó nhận được đủ nguồn phù sa từ thượng lưu vực và dòng chảy để trải lượng phù sa đó trên khắp mặt đồng bằng, để bồi đấp đất ở mức bằng hay cao hơn mức nước biển dâng.”

Trong Mekong, dòng nước và phù sa càng ngày càng lâm nguy.

“Đói năng lượng tái tạo, các quốc gia trong lưu vực phát triển các đập thủy điện, ngăn chận phù sa, với ít quan tâm đến ảnh hưởng ở qui mô hệ thống.  Cái phù sa ít ỏi đến hạ lưu Mekong có thể được khai thác để đáp ứng nhu cầu của thành phần địa ốc đang phát triển nhanh chóng trong khu vực, đòi hỏi những số cát lớn để xây cất và cải tạo đất,” tóm lược bởi đồng tác giả Tiến sĩ (TS) Rafael Schmitt của Đại học Stanford.

Tàu chở hàng trên sông Hậu, Long Xuyên ở ĐBSCL.

[Ảnh: GM Kondolf November 2019]


Nhưng không phải tất cả cáo buộc có thể đổ cho những hoạt động ở thượng lưu và mực nước biển dâng vì thay đổi khí hậu.  Ở trong ĐBSCL, các đê cao được xây để kiểm soát lũ và vì thế giúp thâm canh nông nghiệp cao.  Điều nầy cũng ngăn chận phù sa mầu mỡ được bồi lắng trên đồng lúa.

Tuy nhiên, sự chết đuối của ĐBSCL không phải là chuyện đã rồi.  Có những bước có thể đi để cho phép các tiến trình tự nhiên và năng động để giúp ngăn ngừa ĐBSCL sụt lún và thu hẹp thêm nữa.

“Nhất trí giữa các nhà khoa học đối với qui mô và trọng lượng của đe dọa đối với ĐBSCL rất rõ ràng, nhưng nó có thể được chống lại bằng cách bảo đảm nước của sông vẫn đục ngầu với phù sa,” đồng tác giả Marc Goichot, Trưởng Nước ngọt Á Châu/Thái Bình Dương của WWF nói.

“Các quốc gia phải lựa chọn một đường lối phát triển tốt hơn cho sông Mekong và khu vực – một đường lối dựa trên tham vọng nhưng là những chánh sách khả thi, hỗ trợ một đường lối hệ thống rộng rãi đối với năng lượng, xây cất và nông nghiệp sẽ xây sức chịu đựng cho ĐBSCL và lợi ích cho tất cả mọi người và thiên nhiên dựa vào nó.  Kinh doanh như thường lệ sẽ là tai họa cho đồng bằng,” Goichot nói thêm.

Nhóm xác định 6 biên pháp khả thi và có tiền lệ trên toàn cầu và sẽ gia tăng đáng kể đời sống của đồng bằng.

·              Tránh ảnh hưởng cao của đập thủy điện bằng cách thay thế các dự án được dự trù bằng các nông trại gió và mặt trời, nếu có thể được, và nếu không, xây các đập mới một cách chiến lược để giảm ảnh hưởng ở hạ lưu;

·              Thiết kế và/hay sửa các đập thủy điện để giúp phù sa đi qua tốt hơn;

·              Tuần tự chấm dứt việc khai thác cát và kiểm soát chặt chẽ tất cả việc khai thác cát, trong khi giảm nhu cầu cát sông Mekong qua các vật liệu xây dựng khả chấp và tái chế;

·              Tái lượng định nông nghiệp thâm canh ở ĐBSCL cho tính khả chấp của nó;

·              Duy trì nối kết của đồng lụt ở đồng bằng bằng cách áp dụng hạ tầng cơ sở, và

·              Đầu tư vào các giải pháp tự nhiên để bảo vệ bờ biển trên qui mô lớn dọc theo bờ biển của dồng bằng.

“Mặc dù những biện pháp nầy có hiệu quả, nhất là nếu được thực hiện hòa hợp, ít bị tranh cãi trong cộng đồng khoa học, các chướng ngại quan trọng trong việc thực hiện,” TS Schmitt nói.

 

Buổi chiều trên kinh Rạch Giá-Long Xuyên, ĐBSCL.

[Ảnh: GM Kondolf November 2019]

 

Một số những biện pháp nầy sẽ xung đột với các quyền lợi của một số diễn viên, chẳng hạn như kỹ nghệ khai thác cát và phát triển thủy điện, và một số biện pháp sẽ đòi hỏi phối hợp giữa các quốc gia để cứu xét ảnh hưởng qui mô hệ thống và lợi ích của hành động cá nhân.

Các quốc gia cũng cần đồng ý rằng nuôi dưỡng ĐBSCL là một mục dích chánh sách khu vực quan trọng.  Ở Việt Nam, nơi có hầu hết đồng bằng, một số chánh sách gần đây cố gằng để chống lại một số triệu chứng của sụt lún đồng bằng, nhưng có ít hiểu biết về nguy cơ sống còn của đồng bằng, hay tham vọng để làm việc trong các giải pháp có hệ thống thực sự.

Thực hiện các biện pháp sẽ đòi hỏi sự tham gia từ chánh quyền quốc gia và các diễn viên quốc tế cũng như các diễn viên mới, gồm có thành phần tư nhân và xã hội dân sự.  Nhưng cùng nhau, có thể cứu đồng bằng khỏi chết đuối.

“Một ĐBSCL có thể nẩy nở xa hơn cuối thế kỷ - nhưng nó sẽ đòi hỏi hành động nhanh và hài hòa trong lưu vực đầy cạnh tranh, thay vì hợp tác, giữa các quốc gia duyên hà,” GS Kondolf kết luận.