Sunday, October 25, 2020

LO SỢ VÌ SÔNG THAY ĐỔI, DÂN LÀNG ĐỔ CHO ĐẬP CỦA LÀO VÀ TÌM CÂU TRẢ LỜI

(Frightened by River Changes, Villagers Blame Laos Dam, Seek Answers)

Chan Muyhong and Danielle Keeton-Olsen – Bình Yên Đông lược dịch

Voice of Democracy – October 20, 2020

Một ngư dân bán cá trái mùa ở chợ cá Stung Treng ngày 15 tháng 8 năm 2020.

[Ảnh: Enric Català/VOD]

 

Thala Barivat, Stung Treng – Mặt trời chiếu những tia nắng ấm nhất trước khi lặn trên các cánh đồng ở Koh Pnov, một trong những đảo trên sông Mekong đủ chắc để sống sót khi nước lên xuống theo mùa của sông.  Mặc dù thường ướt sũng vì các trận mưa buổi chiều của mùa mưa, vào một buổi chiều trong sáng của tháng 8, các lãnh đạo trong làng nhắc lại trận lũ lụt và sạt lở chưa từng thấy khiến họ lo sợ trong năm trước.

Mùa mưa thường mang nước lũ, nhưng thường chỉ đến đầu gối, Phan Muy, ngư dân trưởng của cộng đồng Koh Pnov, nói.  Lũ lụt hồi tháng 9 năm ngoái thì chưa từng thấy, dâng cao 12 m vào ngày 6 tháng 9 năm 2019, trên 1 m cao hơn mức báo động 10,7 m.

Muy, người trông nom việc đánh cá trên đảo và ngăn ngừa việc đánh bắt trái phép, nói làng lúc đó rất lo sợ và bực mình.

“Mọi người đều quá hoảng sợ, một số nhảy ra khỏi nhà,” tất cả được dựng trên các cọc gỗ cao khoảng 2 m, ông nói.

Họ được cảnh báo trước khi nước đạt đỉnh.  Muy nói, vì thế dân làng bắt đầu dỡ nhà gỗ và mang vật liệu lên nơi chỗ cao.  Tất cả đàn bà và trẻ con đi thẳng đến trường làng, nơi cao nhất của Koh Pnov, trong khi đàn ông bận rộn với súc vật trước khi lũ đến: Họ có thể di chuyển gà lên chỗ cao, nhưng trâu có thể bơi, Muy giải thích.

Khi Muy nhận cảnh báo về lũ lụt, xã trưởng O’Svay cho ông biết là đập vỡ, ông nói.  Đập thủy điện Don Sahong ở Lào không rò rỉ, nhưng khi họ chuẩn bị cho con nước sắp tới, cư dân Koh Pnov, từ lâu vẫn chống đối kiến trúc bê tông lù lù trên biên giới Lào ở thượng lưu của nhà họ, nghĩ tai họa sẽ đến từ đập.

Ở Stung Treng, điểm phía bắc của sông Mekong ở Cambodia, ngư dân và nông dân trải qua những thay đổi môi trường không lường trước: cá biến mất, rừng chết và các đảo sạt lở.  Khi họ vật lộn với sự thay đổi chu kỳ tự nhiên, dân làng nhắm sự lo sợ của họ vào đập Don Sahong khổng lồ lù lù ở thượng lưu – mặc dù thủ phạm thật sự có thể lớn hơn một kiến trúc.

Phan Muy, ngư dân trưởng của cộng đồng Koh Pnov ở Stung Treng 
ngày 14 tháng 8 năm 2020. [Ảnh: Enric Català/VOD]

Chu kỳ tự nhiên lung lay

Ngồi dưới mái hiên của nhà hàng nhỏ của ông nhìn ra Mekong và Lào, Poy Vanna, nguyên trưởng ngành du lịch của làng Preah Rumkel, nơi ông giám sát các chuyến ngắm cá heo, nhà hàng và cửa hàng, nói chỉ còn 3 cá heo ở khúc sông nầy, và chúng không còn ở trong các hố sâu gần đó – là nơi từng thu hút du khách.

Kể từ khi việc xây đập bắt đầu, cá heo di chuyển khỏi hố sâu Chleu Teal ở Preah Rumkel để đến sống bên kia biên giới Lào về phía thượng lưu vì việc phá nổ trong khi xây cất, Vanna nói, người đưa du khách trên thuyền để xem cá heo Mekong gần hơn.

“Nay, chúng tôi phải đi ra biên giới Lào để xem cá heo.  Thuyền dừng lại ở biên giới tại Preak Rumkel và cá heo nhảy khỏi mặt nước bên phía Lào,” ông nói, lo sợ rằng sự quan tâm của du khách đối với làng du lịch sẽ phai mờ nếu cá heo biến mất.

Poy Vanna, nguyên trưởng ngành du lịch của cộng đồng Preah Rumkel, điều khiển thuyền của ông qua khu đất ngập nước được bảo vệ Ramsar ở Stung Treng ngày 14 tháng 8 năm 2020. [Ảnh: Enric Català/VOD]

Mặc dù cá heo Irrawaddy trong danh sách đỏ của IUCN [International Union for Conservation Nature (Liên hiệp Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế)] xuất hiện trong các hố sâu ở Stung Treng đã giảm ngay trước khi việc xây đập bắt đầu hồi cuối năm 2015, Vy Phalluy, phối hợp viên tỉnh của Hiệp hội Gìn giữ Môi trường và Văn hóa (Culture and Environment Preservation Association), một NGO ở Stung Treng, nói ông nghi ngờ Don Sahong làm vấn đề tồi tệ thêm.

Cá heo là một trong những tiếng hò hét biểu tình trong suốt đầu thập niên 2010s để chống lại việc xây đập, cầm đầu bởi Quỹ Đời sống Hoang dã Thế giới (World Wildlife Fund (WWF)), cho rằng Don Sahong “hầu như khiến cho” cá heo phải rời nơi cư trú của chúng vì việc đào bới và việc di chuyển gia tăng của tàu bè trong thời gian xây cất và ngăn chận việc di chuyển của cá trong lúc hoạt động.

Phalluy nói chu kỳ tự nhiên của mực nước sông đã bị phá vỡ.

Trên mặt nước sông Mekong ở phía bắc Stung Treng – một vùng đất ngập nước được quốc tế bảo vệ gọi là khu Ramsar – nhiều lùm cây chọc thủng dòng nước và hình thành những vùng rừng ngập nước, tạo thành nơi cư trú cho cá để đẻ trứng và một khung cảnh của thế giới khác thu hút du khách địa phương và ngoại quốc.  Nhưng nhiều nhiều nhánh cây không còn lá và thân cây dổ xuống sông: Phalluy lưu ý rằng rừng ngập nước đang chết vì mực nước không còn thay đổi như trước đây, nơi cây cối có ½ năm khô và ½ năm ngập nước trong mùa mưa.

Trong tháng 8, tháng cá đẻ trứng, nước phải tới bờ, nhưng nó vẫn còn gần đáy sông, ảnh hưởng đến khả năng đẻ trứng, Phalluy nói.

“Chúng tôi đang chứng kiến những thay đổi lớn lao trong mực nước,” Phalluy nói.  “Mực nước không lên [đúng lúc], nhưng khi nó lên, nó lên rất nhanh, giống như lũ quét.”

Lũ lụt hồi tháng 9 vừa rồi khiến hàng ngàn người phải di tản khỏi các đảo trên sông ở Stung Treng, nó trùng hợp với thời gian đóng đập Don Sahong, ông nhớ lại, cho thấy nó có thể đẩy nước xuống hạ lưu và gây ảnh hưởng lũ quét.  Theo Phalluy, sự kiện lũ quét gợi cho dân làng vụ vỡ đập thủy điện Xe Pian-Xe Namnoy, một thảm họa quan trọng ở Lào khiến phải di tản 17 làng gần huyện Siem Pang.

Ngư dân và con buôn tề tựu ở chợ cá Stung Treng, nơi một số bán thẳng từ thuyền đánh cá, sáng ngày 15 tháng 8 năm 2020. [Ảnh: Enric Català/VOD]

 

Trước trận lũ lụt năm ngoái, đảo Chheuteal Touch chưa bao giờ bị sạt lở, xã trưởng Sai Feng nói.  Nhưng lũ lụt mùa mưa vừa qua thay đổi điều đó, ông nói.  Một số dân làng di chuyển trước nhà của họ vào đất liền trong năm 2018, khi họ thấy đập Don Sahong gần hoàn tất và tiên đoán lũ lụt khi nó hoạt động, Feng nói.  Một gia đình trên đảo không di chuyển hoàn toàn đã mất đất và nhà vì sạt lở, dài đến 200 m, và gia đình đó buộc phải rời đảo sau mùa lũ năm ngoái.

Lịch sử của tranh cãi

Các nhà nghiên cứu nói rằng mặc dù lo sợ Don Sahong ảnh hưởng đến tâm trí của dân làng ở gần đó, nó là toàn thể chuỗi đập thủy điện được xây trên dòng chánh Mekong – 13 đập đang hoạt động từ Trung Hoa đến Lào – và không chỉ Don Sahong đang làm gián đoạn sinh thái của sông.

Ian Baird, nhà nghiên cứu về Đông Nam Á của Đại học Wisconsin-Madison ở Hoa Kỳ, người đã nghiên cứu rộng rãi ở Cambodia và Lào, là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên bày tỏ lo ngại về đập với một loạt bài viết về tầm quan trọng của lòng lạch Sahong, nơi xây đập, đối với việc di chuyển của cá đi từ Tonle Sap, qua biên giới và xuyên qua 4.000 đảo của Lào.

Nhưng khi được hỏi về đập Don Sahong hồi tháng 8, Baird nói đập thực ra có ảnh hưởng rất ít đối với Cambodia, khác hẳn với nghiên cứu ban đầu của ông về ảnh hưởng tiềm tàng của đập.

Đập được dự trù và xây cất trên lòng lạch Sahong, là con đường di chuyển chánh của cá đi từ Tonle Sap của Cambodia đến các nơi sinh sản ở Lào, và có rất nhiều nhà nghiên cứu và nhà hoạt động đã vận động để chống lại kể từ khi Mega First ký biên bản ghi nhớ với chánh phủ Lào trong năm 2009.

Khi chánh phủ Lào loan báo ý định xây đập với Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) trong năm 2013, các bức thư chống lại đập biến thành các cuộc chống đối mạnh mẽ ở biên giới Cambodia, có lúc có đến 600 người tham dự.

Kong Chanthy, nguyên trưởng ngành thủy sản của xã O’Svay kiểm soát lưới cá treo gần nhà hàng của gia đình và bến tàu ở tỉnh Stung Treng ngày 14 tháng 8 năm 2010. [Ảnh: Enric Català/VOD]


Nay đập đã hoạt động, Baird nói quan điểm của ông về Don Sahong “thay đổi hoàn toàn,” vì ông không biết rằng công ty có ý định mở lòng lạch Sadam.

“Về phía Cambodia, quả thật người dân không biết điều gì đang xảy ra [trong sông Mekong] và không hiểu cái gì đang xảy ra,” ông nói.  “Đập ở trước mắt họ, và nó nằm trên lòng lạch lớn nhất trước mắt họ… [nhưng] tôi không nghĩ anh có thể quy những ảnh hưởng [họ đang thấy] cho đập.”

Peter Hawkins, một cố vấn môi trường đánh giá vị trí đưa đến việc xây cất, nói công ty đã có những nỗ lực để bảo đảm cá vẫn có thể đi qua thác Khone của Lào.

Hawkins nói ông nghiên cứu các đường di chuyển chung quanh lòng lạch Sahong, thử xem liệu cá có một đường thay thế.  Rồi công ty khai quang lòng lạch Sadam, một bài nghiên cứu được công bố bằng video để chứng minh với các nhà hoạt động và quan sát viên rằng cá sử dụng lòng lạch được khai quang như con đường thay thế.

“Một thành kiến khác là cá có một số giác quan chính xác khi đi về thượng lưu, và nếu bị ngăn chận, cá không thể di chuyển,” ông nói.  “Trên thực tế, chúng tìm một đường đi.  Lựa chọn đầu tiên là đường đi có nhiều nước nhất, và chúng sẽ chọn đường khác nếu chúng không thể đi qua.”

Đập Don Sahong, với lòng lạch Sadam ở phía sau, ngày 14 tháng 8 năm 2020.

[Ảnh: Enric Català/VOD]

Hawkins nghi rằng không phải tất cả cá sẵn lòng và có thể tìm một con đường an toàn hơn, và một số cá và cá con đã chết trong các turbines khi tìm cách di chuyển theo bản năng.

Kent Hortke, một cố vấn về môi trường và thủy sản được thuê để theo dõi đập thủy điện, nói công ty đang theo dõi sự mất mát cá qua các turbines.  Nhà nghiên cứu nói trong một email rằng “nhiều ngàn cá” đã dùng đường di chuyển, ý nói đến phúc trình bằng video tương tự về việc cá dùng lòng lạch Sadam thay vì lòng lạch Sahong bị ngăn chận.

Về trận lũ lụt lớn trong tháng 9 vừa rồi, Hortle nói lũ xảy ra khi đập không hoạt động, và cho rằng sạt lở vốn là vấn đề trong vùng thác Khone kể từ thập niên 1990s.

Nhưng dù với các nỗ lực giảm nhẹ ảnh hưởng của Don Sahong, dòng chảy của Mekong đang trở nên thất thường và cá và cây cối đang biến mất.  Các nhà nghiên cứu nói đánh bắt bừa bãi là một thủ phạm, trong khi vào đầu năm nay một phúc trình của cơ quan nghiên cứu Eyes on Earth ở Hoa Kỳ dùng ảnh vệ tinh để liên kết với dòng chảy trái mùa của chuỗi đập ở Trung Hoa.

 

Thái Lan đã có mức nước thấp kỷ lục và hạn hán tồi tệ trong năm qua, đưa đến việc tháo các hồ chứa và nước mặn tràn vào các vùng nước ngọt.  Eyes on Earth nói rằng tình trạng dòng chảy bất ngờ - mực nước cao trong mùa khô và thấp trong mùa mưa – bắt đầu khoảng 2012 và tệ dần khi Trung Hoa hoàn tất thêm nhiều đập.

Giới chức ở Beijing lớn tiếng bác bỏ phúc trình, nói rằng nước nầy cũng chật vật với hạn hán và mực nước thấp trong hồ chứa, và MRC của các quốc gia duyên hà cũng cho rằng các dự đoán của phúc trình quá đon giản.  Tuy nhiên, MRC lặp lại lời kêu gọi chánh phủ Trung Hoa công bố dữ kiện mực nước quanh năm, thay vì chỉ trong mùa lũ.

Lật qua các trang hướng dẫn tại chỗ về cá, Kong Chanthy, trưởng ngành thủy sản của cộng đồng xã O’Svay từ 2002 cho đến năm rồi, chỉ vào hàng chục loại cá ít thấy, nếu không nói đã biến mất.

Kong Chanthy, nguyên trưởng ngành thủy sản của xã O’Svay nói về khu Ramsar ở Stung Treng, ngày 14 tháng 8 năm 2020. [Ảnh: Enric Català/VOD]

Đánh cá vốn là nghề của Chanthy, nhưng từ khi ông thu thập được kiến thức rộng rãi về cá Mekong, ông đã trở thành một người ủng hộ, báo cho Cơ quan Ngư nghiệp về các loại cá khổng lồ ông thấy trong các hố sâu và lên tiếng chống lại những thay đổi trong sông từ nhiều năm nay.

Chanthy tin rằng Cơ quan Ngư nghiệp quốc gia biết các vấn đề, nhưng có một số nút thắt, tài trợ hay chánh trị, đã ngăn trở chánh phủ làm nhiều hơn.  Đánh giá chú trọng đến cuộc sống của người Cambodia là bước đầu cần thiết, Chanthy nói.

“Tất cả các ngân hàng khổng lồ đang cung cấp trợ cấp, nợ và tiền để làm các dự án [thủy điện] nầy, họ có rất nhiều tiền để làm như thế,” ông nói.  “Tại sao họ không hỗ trợ một đánh giá độc lập để giúp cộng đồng nầy?”

Chhourn Chhorn, phó giám đốc khu đất ngập nước Ramsar được bảo vệ ở Stung Treng, nói chánh phủ không thể đánh giá tình trạng của sông hay rừng ngập nước kể từ phúc trình cuối vào khoảng 5 năm trước vì thiếu kiến thức kỹ thuật ở Cambodia và không thể mang các nhà nghiên cứu khoa học vào trong nước trong lúc có đại dịch.

“Tôi không rõ nếu rừng ngập nước đang sụp đổ vì Don Sahong, hay vì cây cối đến chu kỳ suy thoái,” ông nói, lưu ý rằng ông đã quan sát mực nước dâng bất thường trong mùa khô và cuốn trôi phù sa.  Tuy nhiên, ông từ chối suy đoán về nguyên nhân của sự khác thường mà không có đánh giá chánh thức, nói rằng ông “không rõ về khoa học của nó.”

Nhìn thấy chiều hướng hiện nay, Chanthy không dự đoán một tương lai tốt đẹp cho Mekong.  Khi bạn ông và chủ doanh nghiệp du lịch ở Stung Treng, Vanna, trêu ông rằng ông sẽ đi tù với nhận xét của ông, Chanthy mỉm cười, nhưng ông đáp lại rằng ít ra có người thành thật về tình trạng trong Mekong.

“Nay, khi người ta đến vùng nầy, họ nói rất đẹp, nhưng tôi nói, ‘Không, nó không đẹp!’” ông giải thích.  “Anh phải thấy nó trước đây.”

CON SÔNG NỔI TIẾNG NHẤT CỦA CAMBODIA ĐÃ NGƯNG ĐỔI DÒNG?

(Did Cambodia's Most Famous River Stop Changing Course?)

Abby Seiff – Bình Yên Đông lược dịch

VICE – October 15,2020

 

Để làm đầy hồ Tonle Sap, Tonle Sap đảo ngược dòng chảy 2 lần trong năm.  Nhưng hạn hán và đập dường như đã làm ngưng hiện tượng độc đáo nầy.

Không xa lắm với các đền đài Angkor Wat nổi tiếng của Cambodia, các trụ cao nâng các nhà gỗ đến mức an toàn bên trên mặt nước trở thành vô dụng – mặt đất ở bên dưới khô ráo.

Bây giờ là tháng 9, cao điểm của mùa mưa, và các làng nổi trên rìa phía bắc của hồ Tonle Sap phải ngập nước.  Nhưng điều bất thường đã xảy ra.  Con sông cùng tên mang hàng tỉ gallons nước vào hồ mỗi mùa mưa đã im lặng.  Hồ Tonle Sap, phình ra và co lại như nhịp đập của tim 2 lần trong năm từ hàng ngàn năm nay, tràn qua ranh giới trong mùa khô không bao xa.

“Chúng tôi không thấy nước dâng lên như trước,” Kheav Cheam, một ngư dân 50 tuổi, nói.  “Trong quá khứ, nước dâng cao hơn và tràn vào hồ, vì thế chúng tôi có thể đánh cá.  Nhưng nay, nước không chảy vào hồ và cá không lớn.”

Ở Cambodia, cá là nguồn chất đạm chánh cho gần 80% dân số.  Cheam, sống cùng với gia đình trên một chiếc thuyền nhỏ di chuyển từ hồ đến sông, đã sống nhờ các con nước trọn cả cuộc đời của ông.  Nay, ông thường bắt không đủ cá để bù cho tiền xăng.  “Chúng tôi lo sợ rằng người dân sống ở thượng lưu đã đóng các đập, vì thế chúng tôi không còn hy vọng.  Việc đánh cá càng ngày càng trở nên tồi tệ - trong tương lai, sẽ không còn cá, vì không còn nước.”

Hồ Tonle Sap là một hồ nước ngọt lớn nhất ở Đông Nam Á (ĐNA) và là một trong những nền thủy sản phong phú nhất trên thế giới.  Sản lượng của nó được tạo nên bởi tác động thủy học độc đáo.  Hồ được nuôi dưỡng bởi Tonle Sap, một phụ lưu của Mekong, đảo ngược dòng chảy 2 lần trong năm để mang nước, chất dinh dưỡng, và di ngư từ các nhánh thượng lưu của sông Mekong hùng vĩ của Á Châu vào hồ và ngược lại.  Việc đảo dòng đầu tiên thường xảy ra trong tháng 5, khi Mekong phình ra với mưa mùa, đẩy nước vào Tonle Sap và vào hồ.  Đến tháng 11, dung tích của hồ lớn đủ để làm nước chảy ngược lại, qua Tonle Sap rồi đổ vào sông Mekong.

Nhịp lũ nuôi dưỡng Tonle Sap có thể căng rộng diện tích hồ lên gấp 6 lần – có thể lên đến 6.000 mi2 – trong mùa mưa.  Với nó là cá, một số lượng khác thường đã duy trì dân số trong hàng ngàn năm.  Các mộ cỗ ở ven bờ hồ còn giữ tàn tích của thức ăn được nấu nướng: cá muối và mắm; cháo cá; cá chiên và nướng.  Việc cứu rỗi linh hồn Angkor trang hoàng bằng cá lóc và cá chép và con buôn bán cá vừa mới bắt.  “Có rất nhiều loại cá tôi không biết tên, tất cả đều đến từ Biển Nước ngọt,” Zhou Daguan, một phái viên Trung Hoa, người ngoại quốc đầu tiên viết về Cambodia vào cuối thế kỷ 13th.  Ngày nay, khoảng 500.000 tấn cá được kéo lên từ hồ mỗi năm, và thêm hàng triệu từ phần còn lại của lưu vực Mekong, từ các nước láng giềng Thái Lan, Lào và Việt Nam.  Với nhịp lũ chập lại, cá biến đi nhanh chóng.

Năm rồi, Tonle Sap đảo ngược dòng chảy trễ hơn nhiều tháng so với bình thường và chỉ kéo dài 6 tuần.  Năm nay, một số người tin rằng nó sẽ không đảo ngược dòng chảy.  Nếu thế, thay đổi khí hậu và đập làm cho mực nước sông xuống quá thấp nên không thể làm dòng chảy đảo ngược.

Thông thường, việc đảo ngược dòng chảy kéo dài 160 ngày và mang 38,37 km3 nước lũ vào hồ, theo con số trung bình trong 2 thập niên thu thập bởi Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)), một cơ quan liên chánh phủ có mục đích quản lý dòng sông chung.  Một phúc trình của MRC phổ biến hồi cuối tháng 9 cho thấy sự tụt giảm chóng mặt.  Trong tháng 7, 8 và 9, hồ chỉ đạt ¼ dung tích bình thường.  Thật vậy, dung tích hồ vào lúc đó chỉ bằng ½ dung tích trong năm trước – khi Mekong xuống đến mức thấp lịch sử, đưa đến tình trạng khan hiếm lương thực trên khắp khu vực.

“Chúng tôi không biết nước ra sao,” Im Kim Rai, một ngư dân 33 tuổi với số cá đánh được tụt giảm rất nhiều, cho biết.  “Tôi chưa bao giờ thấy nước thấp như vậy.”

Kim Rai sống trên sông Mekong ở Kampong Cham, khoảng 30 mi về phía thượng lưu của Phnom Penh.  Cá đánh được trong Mekong rất ít, mực nước sông trong suốt tháng 9 thấp hơn nhiều so với năm trước, vì thế Kim Rai, vợ anh, với đứa con 5 tuổi xuôi xuống Mekong nơi tiếp giáp với Tonle Sap với hy vọng đánh được nhiều cá hơn.  Vài ngày từ khi họ đến Phnom Penh, tuy nhiên: “Chúng tôi phải đi đánh cá gần 10 lần nhưng không bắt được gì cả.”

 

Dữ kiện của MRC cho thấy mực nước của Tonle Sap trong tháng 9 chỉ vào khoảng ½ mức trung bình.  Vào cuối tháng 9, sông đạt mức cao nhất: thường vào khoảng 8,5 m ở cảng Phnom Penh, nằm ở cuối Tonle Sap, cách hợp lưu với sông Mekong dưới 1 mile.  Năm nay, nó chỉ lên 4,4 m.

Cho đến giữa tháng 10, một cơn giông nhiệt đới và lũ quét tràn qua Cambodia, mực nước của Tonle Sap chưa đến 5 m – mực nước, nếu được duy trì, sẽ là điểm đánh dấu việc đảo dòng của sông, theo Brian Eyler, giám đốc chương trình ĐNA của Trung tâm Stimson.

“Mekong có thể có thêm giông bão trong mùa mưa năm nay, nhưng chúng đến và đi rất nhanh.  Tôi không hy vọng nhiều cho việc phình ra của Tonle Sap trong năm nay,” Eyler, một chuyên viên về sông Mekong theo dõi mực nước của Tonle Sap qua vệ tinh và báo động về việc ngưng đảo dòng trong năm nay, giải thích.

MRC nói sông đã đảo ngược dòng chảy – vào ngày 4 tháng 8.  Nhưng mực nước quá thấp, và lượng nước lũ chảy vào hồ không đủ, nó không thể làm được gì hết.  “Dòng chảy từ Mekong đến Tonle Sap đảo ngược, nhưng rất nhỏ - đó là lý do tại sao tôi nói là tình hình rất là nguy cập,” Sopheak Meas, tùy viên báo chí của Văn phòng MRC, cho biết hồi đầu tháng 10.

Với sự phát triển nhanh chóng các đập thủy điện dọc theo Mekong và các phụ lưu, hồ Tonle Sap đã bị bức tử từ nhiều năm nay, nhưng cái chết khá nhanh của nó làm cho nhiều ngư dân ngạc nhiên.  Chỉ trong 2 thập niên, mực nước trung bình của Tonle Sap giảm khoảng 2 m.  Năm năm qua là 5 năm ấm nhất kỷ lục, và hiện tượng thời tiết El Nino liên tục đưa đến nhiều đợt hạn hán tàn phá ở ĐNA.  Bất cứ cơ hội để phục hồi từ thay đổi khí hậu đã bị xóa sạch bởi các đập trên dòng chánh và các phụ lưu của sông Mekong dài 2.700 miles – chảy qua Trung Hoa, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia trước khi vào Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam.

Kể từ thập niên 1990s, các đập thủy điện được xây nhộn nhịp trên Mekong và các phụ lưu.  Mười một đập đang hoạt động trên dòng chánh Lancang, hay thượng lưu Mekong trong lãnh thổ Trung Hoa, và 2 trên hạ lưu Mekong ở Lào – với trên một chục đập khác đang được hoạch định.  Có hơn 100 đập trên các phụ lưu, và 400 đập khác được dự trù.  Những đập đó đã nhanh chóng ngăn chận dòng chảy ở hạ lưu.  Để cho Tonle Sap đảo ngược dòng chảy, lượng nước trong Mekong phải có đủ.  Năm ngoái, Mekong xuống đến mức thấp nhất kỷ lục,  Năm nay, nó không cao hơn bao nhiêu.

“Tonle Sap đã trải qua hạn hán nặng nề trước đây.  Hệ thống thích ứng và thủy sản có thể hồi phục.  Nhưng các đập đã giết chết các đường di chuyển của cá và có ảnh hưởng vĩnh viễn đến Tonle Sap trong mùa khô lẫn mùa mưa,” Eyler nói.

Các nhà nghiên cứu, từ lâu, đã cảnh báo về sự nguy hiểm của đập đối với hệ sinh thái của lưu vực sông Mekong.  Chúng ngăn chận đường di chuyển của cá và phù sa chảy xuống các đồng lụt.  Đồng thời, các phân tích viên an ninh cảnh báo sự nguy hiểm cố hữu của việc kiểm soát dòng chảy của một quốc gia ở thượng lưu đối với một trong những con sông dài nhất trên thế giới.  Điều đó có vẻ đã nảy sinh.  Nghiên cứu của Eyes on Earth cho thấy rằng trong năm rồi, trong khi hạ lưu vực Mekong thống khổ vì hạn hán tồi tệ nhất trong thế kỷ, Trung Hoa giữ lại một số nước chưa từng thấy – khiến cho các láng giềng ở hạ lưu chết đói.  Trung Hoa bác bỏ nghiên cứu, nói họ tìm cách xả đủ nước và cũng thống khổ vì mưa ít.  Nhưng kết quả rất quả quyết, đặc biệt khi Trung Hoa tìm cách bành trướng vai trò như một lãnh đạo trong khu vực Mekong.  “Nếu các đập của Trung Hoa không hạn chế dòng chảy, các nơi dọc theo biên giới Thái-Lào sẽ có lưu lượng trên trung bình từ tháng 4 năm 2019 cho đến nay, thay vì phải khổ sở vì tình trạng hạn hán nghiêm trọng,” một phúc tình của Trung tâm Stimson lưu ý.

Khi ngư dân đấu tranh với một năm thứ hai có mực nước thấp, họ tuyệt vọng thấy rõ.  Nhiều ngư dân thuộc vào những người nghèo nhất nước, không có đất đai nhưng nợ nần chồng chất vì cuộc sống càng ngày càng khó tiên đoán.  “Chúng tôi không biết phải làm gì khi họ đóng đập ở thượng lưu,” Kheav Cheam nói.  “Cách duy nhất là chánh phủ phải yêu cầu các quốc gia khác xả nước.  Chúng tôi là người dân, nhưng chúng tôi không có quyền.”

Thiện Tùng - Cãi nhau về thủy điện miền Trung

25/10/2020

Thủy điện Rào Trăng 3, nhìn từ máy bay trực thăng. Ảnh: internet

Cứ “Đến hẹn lại lên”, trong hơn thập kỷ qua, cứ đến mùa mưa bão thì miền Trung lại phải chịu ngập lũ tang thương, năm sau cao hơn năm trước, như một định mệnh. Những khổ nạn ấy, người ta thường đổ cho “thiên tai” như biến đổi khí hậu chẳng hạn. Điều đó tuy không sai, nhưng ngoài nguyên nhân khách quan do thiên tai đó, còn có nguyên nhân chủ quan là “nhân tai” (nhân họa) do con người gây ra. Sở dĩ người ta né tránh nói đến nhân tai là để giấu dốt, chối bỏ trách nhiệm.

Thế giới tư nhiên vận động có quy luật tương đối ổn định. Do con người tác động vào khiến cho nó biến đổi theo tỷ lệ thuận – tác động nhiều nó biến đổi nhiều và ngược lại.

Ở Việt Nam nói chung, ở miền Trung nói riêng, do con người tác động quá đáng vào tự nhiên, nên bão lũ, hạn hán thường dành cho nơi đây.

Suốt hơn nửa tháng qua (từ ngày 6/10/2020 đến nay), mưa bão chồng mưa bão, lũ chồng lũ, gây thiệt hại đáng kể về người và của trong khu vực. Nạn tai nầy gây tranh cãi, đa số đổ lỗi cho thủy điện phá rừng và xả lũ, một số ít khác, ra sức giải oan cho thủy điện, đổ hết tội lỗi cho thiên tai.

Bài viết nầy, tôi trích dẫn một số ý kiến trái chiều, có tính chất tiêu biểu để đọc giả có cơ sở phân biệt đâu đúng đâu sai.(chữ nghiêng là trích).

1/ Phía đổ tội cho thủy điện


GS.TS Vũ Trọng Hồng: Nguyên thứ trưởng Bộ NN&PTNT”

– GS TS Vũ Trọng Hồng trả lời phóng viên báo Pháp luật&Đời sống: “Những năm trước, chưa bao giờ lũ cứ chồng chất như thế này. Chẳng qua, các thủy điện ở trên tích nước nhiều quá. Các thủy điện tích nước nhiều để sản xuất điện, lúc mưa ai cũng lo vỡ đập thi nhau xả thì lũ chồng lũ là điều dễ hiểu”.

“Quy trình vận hành thủy điện Bộ Công Thương chỉ hướng dẫn chứ không duyệt. Việc duyệt các tỉnh, thành tự duyệt riêng. Mỗi dòng sông có nhiều thủy điện bậc thang như vậy làm sao mà làm nhịp nhàng được. Việc chia khúc quá làm nhiều thủy điện trên một dòng sông khiến ở hạ lưu mùa khô rất khổ vì thiếu nước, mùa mưa thì lũ chồng lên nhau. Các thủy điện tư nhân nhỏ lại hoàn toàn tư nhân hóa”.

– Giáo sư Đào Trọng Tứ , trưởng Ban điều hành mạng lưới sông ngòi Việt Nam trả lời phóng viện báo Đất Việt: “Nếu cứ vì kinh tế mà phát triển thủy điện tràn lan, chỗ nào cũng làm thủy điện thì cái giá phải trả là rất đắt. Cơ chế chính sách khuyến khích các nhà đầu tư phát triển thủy điện, giúp nhà đầu tư và cả địa phương có lý do phá rừng nguyên sinh đào hồ chứa nước, họ thu về những khoản lợi ích rất lớn về điện và gỗ, gây ra những mối hiểm họa khôn lường”. 

“Áp thấp nhiệt đới, lũ nhỏ và vừa nếu được kiểm soát tốt thậm chí còn mang lại những lợi ích rất lớn cho các tỉnh miền Trung. Trong bối cảnh các tỉnh miền Trung đang phải đối mặt với những nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn, áp thấp nhiệt đới lại là nhân tố giúp miền Trung giải quyết tốt hiện trạng này. Nếu trước đây khi chưa có nhiều thủy điện, mưa lũ, áp thấp nhiệt đới có thể gây mưa lớn, nước đổ về nhiều nhưng lưu lượng nước cũng được tỏa đi và thoát rất nhanh, không gây ra thiệt hại quá lớn như hiện nay”.

 “Tôi lấy ví dụ, trước khi được cảnh báo có lũ, hồ thủy điện phải chủ động xả nước trước để dành dung tích đón lũ về. Khi đó, thủy điện sẽ phát huy được chức năng cắt, giảm lũ cho hạ du, không gây dòng chảy đột biến, bất thường với lưu lượng xả chủ động, có kiểm soát. Thế nhưng, giờ đây thi nhau làm thủy điện, nhiều hồ chưa không vận hành theo quy trình này mà ngược lại, vì lo ngại thiếu nước, không bảo đảm cho hoạt động thủy điện, nhiều hồ chứa vẫn tích nước vào mùa lũ, đến khi lũ về quá lớn, hồ chứa không còn dung tích mới đột ngột xả nước để cứu đập. Điều này hoàn toàn dễ hiểu, do thủy thế của các thủy điện ở trên cao, khi các hồ chứa tích đầy nước thì không khác gì như những quả “bom nước” treo trên cao được xả xuống đột ngột kết hợp với mưa kéo dài gây lũ lụt nghiêm trọng hơn”.

– “Thủy điện không thể vô can”, là tựa bài viết đăng trên báo Thanh niên Online, có đoạn: “Nghị trường đã nóng lên với những chất vấn của các Đại biểu quốc hội về vấn đề thủy điện này. Nhiều đại biểu cho rằng, xả lũ thủy điện là nguyên nhân chính gây nên trận lũ lịch sử này. Ý kiến của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học lẫn người dân đồng quan điểm với nguyên nhân nầy”.

Tiến sĩ Tô Văn Trường

– Tiến Sĩ Tô văn Trường, chuyên gia về tài nguyên nước và môi trường, viện trưởng  Viện quy hoạch thủy lợi miền Nam, nói về thủy điện:  “Vấn đề hồ thủy điện miền Trung xả lũ đã có nhiều bài báo, diễn giả đề cập nhưng có một điều liên quan đến công tác Quy hoạch cần phải hiểu rõ:

“Trước đây Quy hoạch thủy lợi cho lưu vực sông cũng đã xem xét các vị trí làm thủy điện và trong quy hoạch đã đề xuất nhiệm vụ phòng lũ hạ du cho các công trình thủy điện này”.

“Tuy nhiên, sau này khi thủy điện phát triển mạnh, họ tự làm quy hoạch phát triển thủy điện và chỉ thủy điện mà thôi, không có nhiệm vụ phòng lũ hạ du (khác với nhiệm vụ phòng lũ bản thân công trình). Thậm chí có những hồ (như Sông Ba hạ) họ còn bỏ qua cả nhiệm vụ phòng lũ hạ du công trình mặc dù đã được đề cập trong quy hoạch thủy lợi”.

“Các hồ thủy điện miền Trung hiện nay, trừ các hồ trên sông Hương là có nhiệm vụ phòng chống lũ hạ du, còn lại đều KHÔNG có nhiệm vụ phòng lũ hạ du, vì vậy khi lũ về họ chỉ vận hành để bảo toàn công trình. Bảo vệ hạ du chỉ là “ăn theo”. Vậy họ nói vận hành đúng quy trình cũng có cái lý của nó”.

“Vì vậy, vấn đề bây giờ phải xem xét tầm vĩ mô là các hồ này có nên làm nhiệm vụ phòng lũ hạ du không. Trước đây Viện Quy hoạch thủy lợi đã nghiên cứu và kết luận xác đáng: (i) miền Bắc cần chống lũ; (ii) miền Trung thích nghi với lũ ; và (iii) miền Nam sống chung với lũ. Điều đáng trách là giải pháp cụ thể là gì thì các nhà lãnh đạo sau nầy không kế thừa và tiếp tục nghiên cứu”.

– Theo số liệu mới nhất được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn Cao Đức Phát báo cáo trước Quốc hội: “…Hiện cả nước có tới 1.200 hồ đập thủy lợi, thủy điện chứa nước không an toàn, cần tu bổ, sửa chữa với kinh phí khoảng 3.000 tỷ đồng”.

2/ Phía “giải oan” cho thủy điện

Thủy điện Hố Hô (công ty CP thuỷ điện Hồ Bốn), giáp ranh giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh


– Trên tờ Tuần Việt Nam, TS Nguyễn Bách Phúc, chủ tịch Hội tư vấn Khoa học công nghệ và Quản lý TP HCM nói: “Thiếu cơ sở khoa học để kết tội thủy điện”. Ông Phúc lý giải: “Thủy điện xã lũ không phải là nguyên nhân gây lũ. Thủy điện không sinh nước sao gây lụt được?” và “Thủy điện ‘con cóc’, vỡ cũng không ăn thua”. Ông Phúc cho rằng: “Các nhà máy thủy điện không sinh ra nước. Như vậy, lũ ở đây là lũ trời, tức là lũ tự nhiên”. Đồng thời ông cũng cho rằng: “Lũ tràn tới hồ thủy điện đầy thì phải xả” và “Nếu xả cho hồ chứa vơi bớt được chút nào thì nước của dòng lũ lập tức sẽ trám vào ngay”. Vì thế ông kết luận: “Lũ lớn gây thiệt hại không phải do hồ thủy điện xả gây ra  và nếu không có hệ thống thủy điện nhỏ ở miền Trung thì trận lũ vừa qua vẫn xảy ra và thiệt hại cũng như vậy”. Ông Phúc lại  còn cho rằng: “Kể cả khi bị vỡ đập thì lượng nước hữu dụng trong hồ cũng chẳng tác động đáng kể đến cơn lũ. Có thể so sánh thế này, một con kênh đang chảy, ta hắt vào thêm vài thùng nước cũng chẳng hề thay đổi gì thêm được”.

– Việc “giải oan” cho thủy điện, ngoài người có tấm cỡ như ông Nguyễn Bách Phúc, còn có một số người trong những nhóm lợi ích về thủy điện miền Trung, họ tự biện na ná như ông Bách Phúc, chỉ có thể lừa được trẻ lớp Đồng ấu. Tôi không kê ra đây vì sợ làm phiền đọc giả.

*

 Như TS Tô văn Trường đã nói ở phần trên: “Trước đây Viện Quy hoạch thủy lợi đã nghiên cứu, kết luận và đã đưa ra quy hoạch chiến lược xác đáng: (i) miền Bắc cần  chống lũ; (ii) miền Trung thích nghi với lũ; và (iii) miền Nam sống chung với lũ. Điều đáng trách là giải pháp cụ thể là gì thì các nhà lãnh đạo sau này không kế thừa và tiếp tục nghiên cứu.

Nếu quy hoạch thủy lợi chiến lược trước đây cho mỗi Miền là xác đáng, thì miền Trung nằm trong nhóm “thích nghi với lũ”?.

Vậy thì miền Trung muốn thích nghi với lũ, không còn cách nào khác, phải tôn trọng quy luật tự nhiên trong việc cấp/thoát nước – cấp nước là trời đất, thoát/giữ nước là chúng ta. Về chiến lược (vĩ mô), theo tôi nghĩ có 2 giải pháp:

1/ Cái gì thuộc tự nhiên hãy trả lại cho tự nhiên: dẹp hết “thủy điện điện cóc” ở thượng nguồn miền Trung, khôi phục lại rừng nguyên sinh nhầm cân đối lại tự nhiên để trách việc hạ du thiếu nước mùa khô, lũ mùa mưa.

2/ Nếu quyết giữ nguyên tình trạng hiện nay, không còn cách nào khác, phải làm thêm nhiều cầu cống trên quốc lộ 1A đảm bảo đủ đường thoát nước khi cao lũ.

Về việc đổ lỗi khách quan, Việt Nam thuộc bậc thầy thế giới. Nhớ lại xem, từ sau 1975 đến nay, mỗi khi gặp khó khăn phức tạp, lãnh đạo Việt Nam thường đổ lỗi khách quan: “do tàn dư chế độ cũ, bỡi thời kỳ quá độ, tại biến cố Châu Âu, bị ảnh hưởng chiến tranh vùng Vịnh, chiến tranh Irad, do khủng hoảng kinh tế thế giới, tại khí hậu biến đổi, do COVID 19..v.v…- do, bỡi, tại, bị họ luôn sắp sẵn ở bờ môi.

Thú thật, tôi đang có 1 cái mừng và 2 nỗi lo: 

Mừng vì Thủ tướng Phúc, lần đầu tiên, chịu nghe dư luận xã hội phản biện, đang bàn sửa đổi nghị định 64/2008 của Chính phủ về cứu trợ 

Tôi lo cơn bão số 8 đang đổ bộ vào miền Trung  gây tang thương thêm cho đồng bào nơi đây; và tôi lo ngại chẳng biết “quả bom bùn đỏ” bauxite Tây nguyên có an toàn không. Nếu quả bom bùn đỏ nầy vỡ, nó sẽ tràn xuống diệt môi sinh cả vùng rộng lớn ở hạ lưu từ Nam Trung bộ đến sông Vàm Cỏ Đông (Long an) – Các tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai và TP HCM là tâm điểm.  

SOURCE:

https://quanvan.net/cai-nhau-ve-thuy-dien-mien-trung/#.X5V3xNlKh9M

.


Saturday, October 24, 2020

Bão lụt miền Trung (Tháng 10, 2020) - ColorMan Group - 17 Video Clips

Bản tin miền Trung, ColorMan Play list

https://www.youtube.com/results?search_query=B%E1%BA%A2N+TIN+MI%E1%BB%80N+TRUNG+ColorMan+Play+list

 

CLIP #1:

CLIP #2:

CLIP #3:

CLIP #4:

CLIP #5:

CLIP #6:

CLIP #7:

CLIP #8:

CLIP #9:

CLIP #10:

CLIP #11:

CLIP #12:

CLIP #13:

CLIP #14:

CLIP #15:

CLIP #16:

 CLIP #17:


 

Update Oct. 24, 2020

 



 


Thursday, October 22, 2020

TS Trần-Đăng Hồng –NĂM THÌN BÃO LỤT ?

 


Tại Việt Nam năm nào cũng có lụt, không lụt lớn cũng có lụt nhỏ. Chẳng hạn ở Miền Trung bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12 DL đều có lụt vì là mùa mưa lũ. Dãy Trường Sơn chận mây tạo mưa ở sườn đông, đồng bằng lại nhỏ hẹp nên không tránh được lũ lụt. Tại đồng bằng Cửu Long, hàng năm đều có ngập lụt định kỳ. Tuy nhiên, khi nói đến năm Thìn thì người Việt đều nghĩ năm Thìn là năm có lụt lớn. Điều tin tưởng này có đúng không?

Tại đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, có những trận bão lụt thảm khốc trong thế kỷ 19 và 20 là năm Canh Dần (1890), Quý Tị (1893), Ất Tị (1905), Quý Sửu (9/8/1913), Ất Mão (11-20/8/1915), Bính Dần (29/7/1926), Ất Dậu (8/1945), Tân Hợi (20/8/1971), Bính Tý (1996, do bão Frankie), Nhâm Ngọ (9/2002, bão Mekkhala ), và Mậu Tý (10/2008).

Tại Miền Trung, trung bình hàng năm có 5 trận bão, những trận bão lụt gây thiệt hại nổi tiếng là Quý Tỵ (1953), Giáp Thìn (1964), Bính Tí (1996), Mậu Dần (1998), hai trận lụt năm Kỷ Mão (tháng 11 và 12/1999), Canh Thìn (9/2000, do bão Wukong vào Hà Tỉnh), Quý Mùi (11/2003), và trận bão năm Ất Dậu (4/2005).

Tại Miền Nam và đồng bằng Cửu Long, những trận lụt lớn xảy ra năm Giáp Thìn (1/5/1904), Giáp Tý (1924), Mậu Thìn (1928), Nhâm Thìn (1952), Tân Sửu (1961), Giáp Thìn (1964), Bính Ngọ (1966), Mậu Ngọ (1978), Giáp Tý (1984), Tân Mùi (1991), Giáp Tuất (1994), Ất Hợi (1995), Bính Tý (1996), Đinh Sửu (1997, bão Linda tàn phá vùng bán đảo Cà Mau), Canh Thìn (2000), Tân Tỵ (10/2001), Nhâm Ngọ (9/2002), Giáp Thân (2004), và Tân Mão (2011).

Trung bình ở đồng bằng Cửu Long, mỗi 5 đến 12 năm là có một trận lụt khủng khiếp: 1961 (Tân Sửu), 1966 (Bính Ngọ), 1978 (Mậu Ngọ), 1984 (Giáp Tý) và 1991 (Tân Mùi).

Dựa vào các thống kê trên, tại Miền Bắc trong số 11 trận bão lụt lớn, thì không có năm Thìn, ngược lại năm Dần, Tỵ, Tí đều có 2 trận lụt.

Tại Miền Trung, trong số 10 trận bão lụt lớn, các năm Thìn, Mão, và Dần đều có 2 trận.
Tại Miền Nam và đồng bằng Cửu Long, trong sồ 19 trận lụt lớn, 6 trận xảy ra trong năm Thìn, 5 trận trong các năm Ngọ và năm Tí.

Như vậy, năm Thìn có khả năng lụt lớn chỉ xảy ra ở Miền Nam mà thôi. Lụt gây thiệt hại lớn xảy ra ở bất cứ năm nào, nhưng tại sao người Miền Nam Trung Việt và Nam Việt đều nói “Lụt Năm Thìn”. Thiết nghĩ vì 2 lý do:

1. Ảnh hưởng văn hóa. Năm Thìn tức năm Con Rồng. Theo văn hóa Á Đông, rồng tạo mưa, bão.

2. Tàn khốc lũ lụt Năm Thìn vẫn nằm trong trí nhớ của người dân VN qua các trận lụt sau đây:

Lụt năm Giáp Thìn (tháng 9, 1844). Kinh đô Huế mưa to gió lớn, nước ngập sâu 4.2 m trong kinh thành. Tỉnh Thừa Thiên hơn 1000 người chết, 2000 nhà bị sập hoàn toàn. Tại Quảng Trị nước ngập sâu 6.72 m, 79 người chết đuối, hơn 3000 nhà bị sụp đổ.

Lụt năm Giáp Thìn (1904). Xảy ra ngày 1/5/1904, nhằm ngày 13/3/ Giáp Thìn, do một trận bão lớn, cùng lúc thủy triều cao gây những đợt sóng cao 10 m như sóng thần, càn quét khắp vùng duyên hải Nam phần đến tận Campuchia. Thiệt hại lớn nhất là Gò Công, Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn. Nhiều làng ven biển ở Gò Công bị cuốn trôi. Vì mưa lớn, nước lụt dâng nhanh, có nơi ngập sâu 3 m.

Mỹ Tho bị thiệt hại 35%, các vùng phụ cận tỉnh Mỹ Tho từ Thừa Đức lên tới An Hồ 30% nhà cửa sập đổ, vườn dừa bị gãy; Gò Công trên 60%, 5.000 người chết trôi ở các làng ven biển vùng cửa Khâu, làng Kiểng Phước, Tân Bình Điền, Tân Thành, Tăng Hoà…60% nhà cửa bị sập, 80% gia súc chết. Tại Sài Gòn, số người chết hơn 3.000 người.

Cũng năm Giáp Thìn này (1904) lũ lụt lớn cũng xảy ở miền Trung, từ Huế cho tới Nghệ An. Tại Thừa Thiên-Huế đã xuất hiện một cơn bão cực mạnh ngày 11-9-1904 gây nhiều tổn thất về người và tài sản, nhiều công trình kiến trúc trong kinh thành và đình chùa miếu mạo bị hư hỏng, hơn 50.000ha ruộng lúa ở vùng thấp thuộc lưu vực sông Hương và phá Tam Giang bị nước mặn tràn vào gây mất mùa liên tục những năm sau đó. Trận thiên tai này đã khiến tỉnh Thừa Thiên bị thiệt hại nặng nề: 22.027 nhà bị sập đổ, 529 tàu thuyền bị trôi dạt hoặc bị đắm, 724 người chết.

Lụt năm Nhâm Thìn (1952) xảy ngày mồng 3 tháng 9 năm 1952, nhằm tháng 8 năm Nhâm Thìn. Có thể nói là cuồng phong (tornado) chứ không phải bão vì cơn lốc có chiều rộng khoảng 40 km, thổi từ Phi Luật Tân thẳng vào Phan Thiết, đến Long Khánh, Thủ Dầu Một, và tắt dần khi vào Campuchia. Thiệt hại nhân mạng và nhà cửa rất lớn do cuồng phong và lụt ở Phan Thiết, làm ngã rạp rừng và rừng cao su ở vùng Long Khánh, v...v…

Theo thống kê thời ấy, sông Vàm Cỏ Đông ở đoạn thuộc huyện Châu Thành nước lên cao 4 mét, chợ Tây Ninh 3,6 mét, vùng Suối Đôi, cầu Lộc Ninh đến 18,7 mét. Núi Bà Đen bị nước lũ xói mòn đá đứt chân lăn xuống, đùa nhau từ đỉnh đến chân núi thành 3 đường sâu hoắm, rộng hơn 20 mét. Đứng từ xa 30 cây số vẫn thấy rõ ba đường lở đỏ ối màu gạch nung, (đến bây giờ vẫn còn vết tích). Hậu quả trận lụt cũng khá nặng nề. Các cơ quan tỉnh bị mất trắng 100% ruộng rẫy làm lúa, nhân dân thiệt hại 80%, vùng Châu Thành có 1.073 mẫu ruộng và 315 mẫu rẫy chỉ còn thu hoạch được 18 mẫu. Trảng Bàng bị mất hết 2/3 mùa màng, 220 nhà bị sập, 92 người chết. Dương Minh Châu thiệt hại thấp nhất cũng có hơn 50% mùa màng chìm trong biển nước. Nhiều người bị đói phải ăn củ nần, củ chuối, trái rừng thậm chí cả lá rừng thay cơm.

Lụt năm Giáp Thìn 1964 xảy ra ngày mùng 6 tháng 10 âm lịch tại Quảng Nam với hàng ngàn người chết. Riêng làng Đông An chết trên 1700 người, chỉ còn 19 người sống sót.

Lũ lụt và hiện tượng La Niñas.

Ở vùng Tây Thái Bình Dương, hạn hán thường xảy ra ở những năm có El Niño, ngược lại bão lụt xảy ra ở những năm có hiện tượng La Niñas.
Ở Miền Bắc, trong số 9 năm có lũ lụt lớn, thì 5 năm có La Niñas (56%). Ở Miền Trung, trong số 8 năm có lũ lụt lớn thì 5 năm trùng vào La Niñas (63%). Ở Miền Nam, trong số 19 năm có lụt lớn, thì có 11 năm có hiện tương La Niñas (58%).
Như vậy, năm nào có La Niñas, thì xác xuất có lũ lụt lớn khoảng trên 55%.

Vì vậy, những năm Thìn có lũ lụt lớn như 1904, 1928, 1952,1964, 2000 đều là năm có La Niñas.

El Niño và La Niñas là những hiện tượng biến đổi nhiệt độ nước biển ở Thái Bình Dương. Thông thường, nhiệt độ nước biển mạn đông Thái Bình Dương (khoảng 15,5 – 21,1 ºC) lạnh hơn vùng biển mạn tây Thái Bình Dương (khoảng 26,7ºC). Vào năm có El Niño, lớp nước mặt ở vùng đông Thái Bình Dương gần xích đạo bị hâm nóng, làm đảo lộn khí hậu trên thế giới. Vào năm có La Niña, nước lạnh ở đáy Thái Bình Dương trồi lên mặt, làm nhiệt độ lạnh hơn năm bình thường. El Niño / La Niña xảy ra với chu kỳ 2-6 năm.

El Niño được tường trình từ năm 1600, và bắt đầu được nghiên cứu từ thế kỹ 19. Từ thế kỹ 20 cho đến nay, El Niño xuất hiện ở các năm 1902/1903, 1905/1906, 1911/1912, 1914/1915, 1918/1919, 1923/1924, 1925/1926, 1930/1931, 1932/1933, 1939/1940, 1941/1942, 1951/1952, 1953/1954, 1957/1958, 1965/1966, 1969/1970, 1972/1973, 1976/1977, 1982/1983, 1986/1987, 1991/1992, 1994/1995, 1997/1998, 2002/2003, 2004/2005, 2006/2007, và July 2009/May 2010.

Trong số này, El Niño mãnh liệt nhất ở các năm 1965/1966, 1982/1983 và 1997/1998 gây lụt lội từ California cho tới Chí Lợi, nhưng khô hạn ở Đông Phi Châu. El Niño năm 1997 gây mưa lớn kỷ lục ở Florida. Năm 1998, ngược lại nước vùng biển đông Thái Bình Dương trở nên lạnh bất thình lình do La Niña, thì Florida lại hạn hán kỷ lục. Năm 1998 là năm thế giới có nhiệt độ cao nhất là do hậu quả của El Niño xảy ra cuối năm 1997, tiếp theo là La Niña làm thế giới mát dịu hơn ở những năm sau đó.

Từ thế kỷ 20 cho tới nay, La Niñas xuất hiện ở các năm 1904/1905, 1909/1910, 1910/1911, 1915/1916, 1917/1918, 1924/1925, 1928/1929, 1938/1939, 1950/1951, 1954/1956, 1956/1957, 1964/1965, 1970/1971, 1971/1972, 1973/1974, 1975/1976, 1984/1985, 1988/1989, 1995/1996, March 1998/early 2000, late 2000/early 2001, 2007/2008, 2008/April 2009. July 2010/2011. Riêng trong thời kỳ La Niñas 1988/1989, nhiệt độ nước mặt đại dương lạnh hơn năm bình thường tới 2,2 ºC.

La Niñas xảy ra 11/2011 gây lụt trầm trọng ở Thái Lan và đồng bằng Cửu Long của Việt Nam. La Niñas tiếp tục kéo dài đến tháng 5/2012, năm Nhâm Thìn. Mùa lũ lụt ở Miền Trung và Miền Nam xảy ra từ tháng 9 đến tháng 12 DL, tức lúc La Niñas đã chấm dứt. Vì vậy, hy vọng không có lũ lụt lớn trong năm Nhâm Thìn 2012. Cần ghi nhớ là trận bão năm Giáp Thìn xảy vào ngày 1/5/1904, là tháng năm bắt đầu của La Niñas.

Trần-Đăng Hồng, PhD

https://khoahocnet.com/